Đánh giá của người dân địa phương về tác động của du lịch tại xã cẩm thanh, tp hội an, tỉnh quảng nam - Pdf 56

GVHD: Th.S Ngơ Thị Hường

Khóa Luận Tốt Nghiệp

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
*********

Đề tài:
ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG VỀ
TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH TẠI XÃ CẨM THANH,
THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

GVHD: Th.S NGƠ THỊ HƯỜNG
SVTH : NGUYỄN THỊ THANH ĐOAN
Lớp

: 14 CVNH

Chun ngành: Văn Hóa – Du Lịch

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2018

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Đoan – Lớp: 14 CVNH

Trang 1


GVHD: Th.S Ngô Thị Hường


du khách bốn phương thì nơi đây còn có một điểm đến hấp dẫn du khách không
kém đó là xã Cẩm Thanh. Cẩm Thanh nằm không xa trung tâm phố cổ Hội An với
khoảng 5km đường bộ và 3km đường sông. Đường xá được nâng cấp nên việc đi lại
vô cùng dễ dàng, thuận lợi và có thể di chuyển bằng nhiều phương tiện khác nhau.
Mặt khác, những tuyến đường nối dài ven biển hay qua cầu Cửa Đại đều dễ dàng
tiếp cận với các điểm du lịch xã Cẩm Thanh, điều này thuận lợi cho việc thiết kế các
tour, tuyến du lịch kết nối các điểm trong thành phố, trong tỉnh cũng như các khu
vực lân cận.

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Đoan – Lớp: 14 CVNH

Trang 2


Khóa Luận Tốt Nghiệp

GVHD: Th.S Ngô Thị Hường

Cùng với những điều kiện đó, xã Cẩm Thanh đã và đang thu hút số lượng lớn
khách du lịch đến đây và bước đầu đạt được những kết quả tích cực. Đến Hội An,
du khách không chỉ được khám phá một di sản văn hóa thế giới với khu phố cổ yên
bình mà còn được chiêm ngưỡng, hòa mình vào cảnh sông nước nên thơ, hữu tình
như một “miền Tây” đúng nghĩa, nơi được ví như “Nam bộ trong lòng phố cổ”Rừng dừa Bảy Mẫu hay du khách có cơ hội cùng ăn, ở, sinh hoạt với những người
dân thân thiện, chất phát nơi đây; được khám phá nét đẹp bình dị, tận hưởng không
khí trong lành nơi thôn quê và trải nghiệm nhiều hoạt động hấp dẫn khác. Những
năm gần đây, hoạt động du lịch xã Cẩm Thanh bắt đầu có những bước khởi sắc. Với
những tiềm năng có được cùng với sự quan tâm của chính quyền các cấp, các tổ
chức hỗ trợ phát triển du lịch, các công ty kinh doanh du lịch, nơi đây đã trở thành
điểm đến không thể bỏ qua khi du khách đến Hội An. Quan trọng hơn, một phần cư
dân nơi đây đã tham gia vào hoạt động du lịch, cuộc sống người dân nhờ vậy được

Tác động của du lịch là một chủ đề phổ biến trong nghiên cứu du lịch. Nhiều
nhà nghiên cứu của chủ đề này đã nghiên cứu thái độ của người dân về tác động của
phát triển du lịch, với sự biện minh rằng những phát hiện này sẽ rất quan trọng đối
với quy hoạch và quản lý du lịch.
❖ Trên thế giới
Khi du lịch được xác định theo hướng phát triển bền vững thì các dự án quy
hoạch phát triển du lịch cũng theo hướng có lợi cho tài nguyên du lịch và phát triển
cộng đồng, đảm bảo phát triển 3 yếu tố: kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường ở
nhiều nước. Theo Jurowski và cộng sự (1997), đánh giá của cộng đồng về tác động
của du lịch liên quan đến vấn đề lợi ích mà họ nhận được hay những chi phí mà họ
phải trả. Nên các ý kiến tích cực hay tiêu cực của người dân là do họ cảm nhận chủ
yếu về yếu tố kinh tế mà du lịch mang lại cho họ. Bên cạnh đó còn có các yếu tố
khác như tác động về xã hội, tác động về môi trường, tác động về văn hóa, sinh thái,
nguồn tài nguyên thiên nhiên, gắn kết với cộng đồng của các sản phẩm và dịch vụ
du lịch.
Lin Yan (2013) đã khảo sát, phỏng vấn người dân và sử dụng phương pháp
thống kê mô tả và đã đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với
đánh giá cộng đồng sống ở thị trấn Chu Trang (Trung Quốc), từ đó phân tích các
yếu tố liên quan đến nhân khẩu có ảnh hưởng khá lớn trong đánh giá của người dân
nhất là về trình và tuổi tác.
Trong bài nghiên cứu của tác giả Lim Poh Ling và Shaharudin Jakpar (2011),
các tác giả đã nhận thấy rằng có rất ít nghiên cứu về cảm nhận và thái độ của cư dân
địa phương đối với sự phát triển du lịch ở Penang vì thế tác giả đã đưa ra mục tiêu
nhằm tìm kiếm mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân của cộng đồng dân cư và sự hỗ trợ
cho sự phát triển du lịch tương lai. Tác giả đã có cái nhìn tổng quát sự phát triển của
du lịch, các nhân tố tác động đến du lịch chủ yếu thể hiện trên các khía cạnh kinh tế,
văn hóa xã hội, môi trường và đưa ra các giả thiết theo mô hình về mối quan hệ
giữa đánh giá của người dân đối với du lịch và thái độ trong việc phát triển du lịch
trong nghiên cứu của Perdue, Long, Allen (1990).


những lý do thất bại trong cách làm du lịch ở nhiều nơi do thiếu năng lực kinh
doanh, đặc biệt là do đánh giá và năng lực của cộng đồng địa phương về du lịch còn
rất hạn chế. Tác giả đã phân tích những vấn đề còn tồn tại và đưa ra những phương
án hữu hiệu trong việc lập kế hoạch phát triển du lịch thông qua những mô hình
thành công ở nhiều nơi trên thế giới.
Có thể thấy rằng, đánh giá của người dân địa phương về tác động của du lịch
được các học giả trên thế giới nghiên cứu, nhìn nhận chủ yếu trên 2 góc độ tích cực
và tiêu cực. Các vấn đề về cộng đồng, du lịch dựa vào cộng đồng, những tác động
cũng như những thay đổi về kinh tế, xã hội, môi trường tác động trực tiếp đến người
dân địa phương; quy hoạch du lịch; các công cụ quản lý giám sát du lịch, bảo tồntài
nguyên, văn hóa và thiên nhiên, tạo ra các phúc lợi kinh tế và những phúc lợi khác
cho người dân địa phương hay những mô hình, kinh nghiệm phát triển du lịch mang
lại hiệu quả cao ở một số nước…được các nhà nghiên cứu thể hiện rõ qua các công
trình của mình.

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Đoan – Lớp: 14 CVNH

Trang 5


Khóa Luận Tốt Nghiệp

GVHD: Th.S Ngô Thị Hường

❖ Ở Việt Nam
Bài báo trên Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn Ritsumeikan “Nhận thức
về tác động của du lịch và phát triển du lịch giữa dân cư VQG Cúc Phương, Ninh
Bình, Việt Nam” của TS. Phạm Hồng Long (2011). Với mục tiêu là điều tra đánh
giá của người dân về các tác động của du lịch và mức độ hỗ trợ phát triển du lịch
trong khu vực của người dân Cúc Phương.



Khóa Luận Tốt Nghiệp

GVHD: Th.S Ngô Thị Hường

Ngoài ra vẫn còn nhiều công trình, bài nghiên cứu đề cập đến đánh giá của
người dân địa phương về tác động của du lịch, tuy nhiên, trên đây là những tài liệu
tiêu biểu đã được chọn lọc. Từ việc tổng hợp các tài liệu nêu trên, có thể thấy rằng,
dù dựa trên cách tiếp cận nào, việc phân tích, lý giải dựa trên lập trường nào chăng
nữa thì các tài liệu đã nêu bật các tác động của du lịch lên kinh tế, xã hội, môi
trường; nhấn mạnh tầm quan trọng đánh giá của cộng đồng đối với sự phát triển du
lịch, đồng thời xây dựng các mô hình, các giải pháp thiết thực hướng đến thực hiện
mục tiêu phát triển du lịch đạt hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường.
Tại xã Cẩm Thanh, Hội An, du lịch mới bắt đầu phát triển trong những năm
gần đây và chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến đánh giá của người dân địa phương
về tác động của du lịch cũng như sự phát triển du lịch tại đây. Các công trình chỉ
mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu khôi phục rừng dừa để phục vụ đời sống người
dân, về việc nuôi trồng thủy sản, thống kê hệ sinh vật tại khu sinh thái Cẩm Thanh
hay phát triển du lịch sinh thái tại Rừng dừa…
Trong công trình nghiên cứu của Trần Xuân Hiệp “Trồng dừa nước - giải
pháp kĩ thuật sinh thái bảo vệ nền đường ven kênh rạch và môi trường bền vững”
(2007) và Nguyễn Thị Gia Thạnh với đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất một
số định hướng khai thác, sử dụng hợp lí nguồn lợi dừa nước tại xã Cẩm Thanh,
thành phố Hội An” (2011) có đề cập tới việc phát triển du lịch tại Rừng dừa nước
Cẩm Thanh, tuy nhiên mới ở mức độ sơ lược, ở dạng định hướng chung và chưa đi
sâu vào việc nghiên cứu phát triển.
Hiện tại, mặc dù du lịch tại xã Cẩm Thanh đang thu hút đông đảo số lượng
khách du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt là khu du lịch sinh thái Rừng dừa Bảy
Mẫu, tuy nhiên vấn đề khai thác phát triển và quản lý du lịch nơi đây vẫn còn nhiều

Để đạt được các mục đích trên, khóa luận cần thực hiện các nhiệm vụ:
- Tổng quan cơ sở lý luận về tác động của du lịch, đánh giá của người dân địa
phương về tác động của du lịch.
- Nghiên cứu đánh giá của người dân địa phương về tác động của du lịch tại xã
Cẩm Thanh.
- Đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm khai thác hiệu quả du lịch nâng cao chất
lượng cuộc sống cho người dân địa phương tại xã Cẩm Thanh.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu đánh giá của người dân Cẩm Thanh về tác
động của du lịch tại địa phương.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi xã Cẩm
Thanh, Hội An, Quảng Nam (trong đó tập trung nghiên cứu 3 thôn có hoạt động du
lịch nổi bật nhất: Vạn Lăng, Thanh Tam Đông, Thanh Đông).
Phạm vi về thời gian: Tiến hành từ tháng 1/2018 đến 4/2018.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp tổng hợp, phân tích các thông tin
Phương pháp này sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp các tư liệu, thông tin liên
quan đến đối tượng, chủ thể nghiên cứu giúp triển khai và khái quát lại các vấn đề
cần nghiên cứu.

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Đoan – Lớp: 14 CVNH

Trang 8


Khóa Luận Tốt Nghiệp

GVHD: Th.S Ngô Thị Hường

- Nhập số liệu và làm sạch số liệu
- Loại bỏ các phiếu trả lời không đạt yêu cầu
- Loại bỏ các trường hợp trả lời bất thường
- Kiểm tra độ chính xác của dữ liệu nhập

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Đoan – Lớp: 14 CVNH

Trang 9


GVHD: Th.S Ngô Thị Hường

Khóa Luận Tốt Nghiệp
Bước 3:
- Phân tích các biến dữ liệu
- Chọn kiểu thang đo
- Đánh giá mức độ phù hợp của từng biến
Bước 4:

- Ứng dụng phép toán thống kê mô tả, kiểm định mức độ tin cậy của câu hỏi
- Tính tần suất (%), trung bình, độ lệch chuẩn
Bước 5:
- Lập các bảng biểu, đánh giá và giải thích kết quả
6.3. Phương pháp điều tra thực địa
Đây là phương pháp không thể thiếu trong việc làm rõ các vấn đề nghiên cứu
liên quan đến xã Cẩm Thanh. Kết hợp với việc nghiên cứu thông qua các biểu đồ,
tài liệu liên quan, phương pháp thực địa được coi là phương pháp chủ đạo của đề
tài. Thông qua khảo sát thực tế sẽ nắm được tình hình, hiểu rõ về cách thức hoạt
động, thực trạng phát triển du lịch hiện tại của Cẩm Thanh và đánh giá của người
dân về tác động của du lịch. Do đó, thông tin thu được từ phương pháp này khá


Số mẫu điều tra thực tế

Thôn Thanh Đông

1292

93

100

Thôn Thanh Tam Đông

957

91

100

Thôn Vạn Lăng

981

91

100

275

300

Thanh, Hội An.

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Đoan – Lớp: 14 CVNH

Trang 11


GVHD: Th.S Ngô Thị Hường

Khóa Luận Tốt Nghiệp
9. Quy trình thực hiện đề tài

Quy trình nghiên cứu đánh giá đánh giá của người dân Cẩm Thanh về tác
động của du lịch được thực hiện trong khoảng thời gian 4 tháng (từ giữa tháng
01/2018 đến giữa tháng 04/2018) qua các giai đoạn:
Xác định đề tài
nghiên cứu

Tổng quan nghiên cứu
và lựa chọn phương
pháp nghiên cứu

Hoàn thiện cơ sở lý
luận và xác định mô
hình nghiên cứu

Hoàn thiện kết
quả và trình bày
báo cáo NC


dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.” [50]
Tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch họp tại Roma (1963) định nghĩa về du
lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động
kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên
ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ
đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.” [49]
Định nghĩa của hội nghị quốc tế về thống kê du lịch Otawa, Canada (6/1991):
“Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường
xuyên (nơi thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời
gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không
phải là tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” [13].
Trong giáo trình Thống kê du lịch, Nguyễn Cao Thường và Tô Đăng Hải cho
rằng: “Du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu
tham quan, giải trí nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh,
thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác” [35].

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Đoan – Lớp: 14 CVNH

Trang 13


Khóa Luận Tốt Nghiệp

GVHD: Th.S Ngô Thị Hường

Ngoài ra còn rất nhiều cách hiểu khác về du lịch, trong đó, khái niệm được sử
dụng phổ biến ở nước ta là theo Luật du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là hoạt
động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu
cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [4].
Như vậy, dù còn đôi chỗ khác biệt trong quan niệm về du lịch, chưa có sự

Trang 14


Khóa Luận Tốt Nghiệp

GVHD: Th.S Ngô Thị Hường

trong tương lai…(Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, Du lịch bền vững, 2001). Du
lịch bền vững hướng đến việc quản lý các nguồn tài nguyên sao cho các nhu cầu
kinh tế xã hội đều được thỏa mãn trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các
đặc điểm sinh thái, sự đa dạng sinh học và hệ thống hỗ trợ đời sống.
Như vậy, du lịch bền vững là phát triển du lịch trong điều kiện bảo tồn và cải
thiện các mặt môi trường, kinh tế, văn hóa và xã hội. Vì vậy, du lịch bền vững cần:
- Sử dụng tài nguyên môi trường một cách tối ưu để những tài nguyên này hình
thành một yếu tố quan trọng trong phát triển du lịch, duy trì những quá trình sinh thái
thiết yếu và hỗ trợ cho việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học.
- Tôn trọng bản sắc văn hóa- xã hội của các cộng đồng ở các điểm đến, bảo
tồn di sản văn hóa và những giá trị truyền thống trong cuộc sống của họ và tham gia
vào quá trình hiểu biết và chấp thuận các nền văn hóa khác.
Bảo đảm những hoạt động kinh tế sống động lâu dài, đem lại lợi ích kinh tế,
xã hội cho tất cả mọi thành viên bao gồm những công nhân viên chức có thu nhập
cao hay những người có thu nhập và góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo.
1.1.2. Đánh giá của cộng đồng địa phương về tác động của du lịch
1.2.1.1. Tác động của du lịch
Du lịch phát triển thì dù ở bất cứ đâu hay loại hình nào cũng đều có những tác
động đến điểm đến.Trải qua các quá trình nghiên cứu, đánh giá, các nhà Khoa học
đồng quan điểm rằng du lịch tác động đến địa phương chủ yếu tập trung vào ba lĩnh
vực: kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường.
Về các tác động tích cực của du lịch, nhiều học giả có chung quan điểm rằng ở
mặt tích cực du lịch tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho cộng đồng địa phương. Du lịch

xấu mà du lịch gây ra có thể khiến cộng đồng địa phương hình thành và duy trì thái
độ tiêu cực đối với phát triển du lịch. Về khía cạnh văn hoá, Kousis (1989) cho rằng
du lịch có thể gây ra những ảnh hưởng xấu đến những giá trị văn hóa truyền thống
của gia đình người dân. Du lịch là nguyên nhân của sự thương mại hóa văn hóa và
có thể tạo ra những xung đột xã hội và văn hóa tại cộng đồng của điểm đến do
những khác biệt về văn hóa xã hội, phúc lợi kinh tế và khoảng cách về khả năng chi
tiêu giữa khách du lịch và cộng đồng địa phương. Về lâu dài, cộng đồng địa phương
bắt đầu thích nghi với những chuẩn mực, giá trị văn hóa do du khách mang đến và
trở nên phụ thuộc về mặt văn hóa mang đến từ du khách [9].
1.2.2.2. Nhận thức của người dân về tác động của du lịch
Nhiều nhà nghiên cứu tiến hành nghiên cứu nhận thức của cộng đồng địa
phương về tác động của du lịch đã cho thấy rằng những khía cạnh này có thể được
giải thích bằng cách sử dụng lý thuyết trao đổi xã hội. Lý thuyết trao đổi xã hội là
“một lý thuyết xã hội học chung liên quan đến sự hiểu biết trao đổi các nguồn lực
giữa các cá nhân và các nhóm trong một tình huống tương tác”. Nó cho thấy rằng
mọi người đánh giá về trao đổi sẽ dựa trên chi phí và lợi ích phát sinh như là kết quả
của sự trao đổi đó, ở đây có thể hiểu hai nhân tố có sự trao đổi qua lại chính là du
lịch và đời sống của cư dân địa phương. Một cá nhân nhận thấy lợi ích qua một trao
đổi nào đó có thể đánh giá nó một cách tích cực, trong khi một người nhận thấy chi
phí có thể đánh giá nó một cách tiêu cực.

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Đoan – Lớp: 14 CVNH

Trang 16


Khóa Luận Tốt Nghiệp

GVHD: Th.S Ngô Thị Hường


13. Cải thiện môi trường sinh thái của cộng đồng bằng nhiều cách.
14. Hỗ trợ tốt hơn cho việc phục hồi và duy trì những công trình lịch sử, di tích.

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Đoan – Lớp: 14 CVNH

Trang 17


Khóa Luận Tốt Nghiệp

GVHD: Th.S Ngô Thị Hường

15. Giúp địa phương có diện mạo mới, có tính thẩm mỹ hơn.
Nếu người dân có thái độ tích cực với việc phát triển du lịch thì sự hỗ trợ của
họ với du lịch sẽ làm cho việc phát triển du lịch ở địa phương đó lâu bền hơn. Một
điểm du lịch nào đó mà người dân thân thiện, hiếu khách và luôn niềm nở chào đón
các du khách thì việc phát triển du lịch mới bền vững.
Theo nghiên cứu của Bùi Thị Vân, chính ý thức của cộng đồng và sự tham gia
của họ là một trong những yếu tố quan trọng giúp du lịch phát triển bền vững. Và có
mối quan hệ tích cực giữa sự tham gia của cộng đồng và ý thức của cộng đồng trong
hoạt động du lịch. Các tài liệu nghiên cứu khác có liên quan đến nhận thức của
người dân về tác động của du lịch cho rằng dân cư nhận thức về lợi ích của du lịch
qua sự tăng lên về thu nhập, các công trình công cộng, cơ sở vật chất của địa
phương được đầu tư và lợi nhuận từ kinh doanh ở địa phương tăng lên hơn là việc
tăng chi phí sống.
Phan Thị Bích Vân (2012) đã dựa trên mô hình nghiên cứu của Perdue, Long
&Allen (1990) với những tác động của du lịch dựa trên lý thuyết về sự trao đổi
trong xã hội để kiểm tra tính hợp lý của sự tranh luận rằng những cá nhân nhận lợi
ích từ du lịch sẽ có khả năng hỗ trợ sự phát triển nhiều hơn nên đã áp dụng lợi ích
cá nhân vào nghiên cứu những nhu cầu và mong muốn của cộng đồng địa phương.

nước mọc thành rừng quanh năm xanh tốt. Đặc biệt, Rừng dừa Bảy Mẫu rộng 57,68
ha trải rộng trên địa bàn các thôn Vạn Lăng, Thanh Tam Đông, Thanh Nhứt, Cồn
Nhàn, Thanh Tam Tây. Ngoài ra, Cẩm Thanh nằm gần Cửa Đại, hạ lưu sông Thu
Bồn, có hệ sinh thái vùng ngập mặn cửa sông ven biển, là nơi kết nối giữa phố cổ
Hội An - Cù Lao Chàm. Đây còn là vùng đệm khu dữ trự sinh quyển thế giới Cù
Lao Chàm, có vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn, giữ gìn và phát triển hệ sinh
thái rừng ngập mặn [40, tr.6].
❖ Đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội
Hiện nay toàn xã Cẩm Thanh có tất cả là 8 thôn. Những năm về trước, 8 thôn
này có tên lần lượt là thôn 1 đến thôn 8. Đến năm 2012, UBND thành phố ra quyết
định thay đổi tên gọi 8 thôn này. Theo đó, thôn 1 được đổi tên thành Thanh Tam
Tây, thôn 2 là Thanh Tam Đông, thôn 3 là Thanh Nhứt, thôn 4 là Thanh Nhì, thôn 5
là Thanh Đông, thôn 6 là Võng Nhi, thôn 7 là Vạn Lăng, thôn 8 là Cồn Nhàn. Đó là
những địa danh cũ của các làng, ấp ngày xưa, mang tính đặc thù, phổ biến gắn liền
với lịch sử hành thành và phát triển, điều kiện - đặc điểm địa bàn dân cư của các
thôn [46].
Theo số liệu thông kê năm 2015, tổng số hộ dân đang sinh sống tại xã Cẩm
Thanh là 2.074 hộ với 8.559 người. Số người trong độ tuổi lao động là 5.744 người,
chiếm 67,1%. Cơ cấu kinh tế của địa phương được xác định là nông nghiệp - ngư
nghiệp, thương mại - dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp. Trong đó tập trung chủ yếu
vào các ngành nghề như nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp và khai thác hải
sản. Với tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là các nhóm nghề: mộc, tre dừa, xay xát
lương thực, nhưng quy mô nhỏ, lẻ và một số ngành nghề khác có phát triển, nhưng
không đáng kể. Những năm gần đây, với sự bùng nổ của du lịch đã góp phần quan
trọng vào sự phát triển kinh tế của xã. Nhờ vậy, đời sống của người dân có sự thay
đổi, thêm phần khởi sắc [40].
Có thể thấy rằng, xã Cẩm Thanh có những điều kiện về tự nhiên, kinh tế, văn
hóa - xã hội không mấy nổi bật so với những vùng miền khác trên cả nước, tuy
nhiên, dựa trên những nền tảng có được cùng với sự cố gắng, nỗ lực của cư dân, các
cấp chính quyền, Cẩm Thanh đang từng bước chuyển mình mạnh mẽ trên con

cua, ghẹ, các động vật thân mềm. Các thảm cỏ biển là nơi sinh sống và bắt mồi của
nhiều loài hải sản. Các hệ sinh thái ngập mặn này còn đóng vai trò như một máy lọc
sinh học, tích tụ và phân hủy chất thải, làm trong sạch nguồn nước trước khi về với
biển. Rừng dừa Bảy mẫu cũng nằm trong hệ thống khu dự trữ sinh quyển thế giới
Hội An – Cù Lao Chàm được UNESSCO công nhận vào năm 2009. Chính vì vậy,
rừng dừa nước được xem là tài nguyên du lịch sinh thái có giá trị ở Cẩm Thanh nói
riêng và vùng ven biển miền Trung nói chung.
Không những thế, đây còn là vùng quê điển hình của nông thôn Việt Nam,
ngành kinh tế chính của cư dân Cẩm Thanh từ bao đời nay là nông nghiệp. Cuộc
sống người dân gắn liền với những làng rau hữu cơ. Nằm cách phố cổ Hội An 4km
về phía Đông, vườn rau hữu cơ Thanh Đông là nơi khởi nguồn cho nông nghiệp
hữu cơ tại miền Trung. Được thành lập vào giữa năm 2014 với sự hỗ trợ của Trung
tâm hành động vì sự phát triển đô thị (ACCD) và vốn từ mô hình nông thôn mới.

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Đoan – Lớp: 14 CVNH

Trang 20


Khóa Luận Tốt Nghiệp

GVHD: Th.S Ngô Thị Hường

Vườn rau có tổng diện tích là 6.368m2 do 8 hộ nông dân tham gia sản xuất. Rau
được trồng không sử dụng các loại phân hóa học, giống biến đổi gien, thuốc diệt sâu
bọ và chất kích thích tăng trưởng nên rau rất sạch, thân thiện với môi trường và an
toàn cho người tiêu dùng. Vườn rau hiện nay có trên 30 loại cây trồng, tất cả đều
được cấp chứng nhận tiêu chuẩn quốc gia cho sản xuất và chế biến các sản phẩm
hữu cơ. Để có được chỗ đứng trên thị trường rau Hội An hiện nay, các hộ nông dân
ở đây đã trải qua một thời gian dài với vô vàng khó khăn. Nhưng với tinh thần


Khóa Luận Tốt Nghiệp

GVHD: Th.S Ngô Thị Hường

rừng dừa nước đã tạo nên một không gian văn hóa thu hút du khách trong và ngoài
nước đến nghiên cứu, tham quan và thưởng lãm. Theo các bậc cao niên trong làng,
nghề làm tranh tre dừa Cẩm Thanh được hình thành cách đây hơn 200 năm, theo
dấu chân của những lái buôn ghe bầu từ Nam bộ đến. Thuở ban đầu, cư dân đan tre
dừa chỉ với mục đích làm tranh che nắng, che mưa. Dần dần, do nhu cầu làm nhà,
nhiều gia đình đã bén duyên với nghề. Một thời, tranh tre dừa của làng theo những
chuyến thuyền đi khắp miền đất nước. Theo người dân nơi đây cho biết: “Toàn xã
có hơn 25% số hộ sinh sống bằng nghề tre dừa nứa, trong đó tập trung nhiều nhất
là thôn Thanh Tam Đông. Làng nghề phát triển đã giúp bà con ổn định cuộc sống”.
Bà Nguyễn Thị Vân - Bí thư đảng bộ xã Cẩm Thanh, TP Hội An nói: “Doanh thu
hàng năm của mặt hàng này là trên dưới 10 tỷ, giải quyết việc làm trên địa bàn xã
từ 20 - 25 lao động, Vào mùa cao điểm thì số lượng lao động tăng hơn. Đây cũng là
một trong những sản phẩm đặc trưng nhất của Cẩm Thanh”.
Theo thời gian, nghề truyền thống này có lúc tưởng như lụi tàn, mai một do
người dân không còn nhu cầu sử dụng tranh tre trong việc xây dựng nhà. Nhưng
những năm gần đây, nhu cầu xây dựng mới các ngôi nhà truyền thống, bằng chất
liệu tranh dừa ngày càng nhiều và thị hiếu của du khách về các sản phẩm làm từ tre
ngày càng nhiều, nhờ đó nghề truyền thống tranh tre dừa ở Cẩm Thanh đã có cơ hội
khôi phục lại và phát triển.
Nghệ thuật nấu nướng: Các món ăn đặc sản từ dừa nước, thủy - hải sản, rau
hữu cơ… với những hương vị đậm nét, đặc trưng của vùng quê thanh bình sẽ là dấu
ấn khó phai trong lòng du khách. Các lớp dạy nấu ăn cũng là một dịch vụ du lịch
thú vị thu hút nhiều sự tham gia của du khách.
Du khách khi đến với xã Cẩm Thanh, dừng chân tại khu sinh thái rừng dừa
Bảy mẫu sẽ được thưởng thức những món ăn đặc sản ngon. Theo người dân Quảng

ngon rất riêng thấm trên đầu lưỡi. Đến Quảng Nam mà không cần trên tay chiếc
bánh ít để thưởng thức thì quả thật chuyến đi chưa trọn vẹn, không cảm nhận được
hết sự thú vị của nền ẩm thực nơi đây.
Các tài nguyên văn hóa khác:
+ Các giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc: mộ tổ tộc Lê, mộ bà Thứ
Phi vua Quang Trung và tướng lĩnh thời Tây Sơn, di chỉ Bào Đà và phế tích kiến
trúc Chăm tại Lùm Bà, khu lăng Trà Quân, đình làng ở các thôn…
+ Truyền thống tập quán, nghệ thuật dân gian: Đó là các hoạt động sinh hoạt
văn hóa, phong tục tập quán và những nét đẹp truyền thống tốt đẹp cũng như nghệ
thuật diễn xướng dân gian như hát bả trạo, hát hò khoan…
Mặc dù xã Cẩm Thanh sở hữu nguồn tài nguyên nhân văn khá phong phú, số
lượng nhiều, có giá trị khá cao, xong, xã Cẩm Thanh vẫn chưa khai thác hết giá trị
của các tài nguyên này. Hiện tại, xã Cẩm Thanh mới khai thác du lịch từ làng nghề
tre dừa và tìm hiểu, khám phá cuộc sống người dân qua dịch vụ homestay, tuy nhiên
vẫn chưa đem lại hiệu quả đáng kể.
Chúng ta có thể nhận định rằng, vùng đất Cẩm Thanh có nguồn tài nguyên du
lịch hấp dẫn nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng với lợi thế nơi đây có
được. Vấn đề đặt ra đối với xã Cẩm Thanh là phải xác định được tài nguyên du lịch
có khả năng trở thành điểm thu hút du lịch, những tài nguyên có giá trị đặc trưng,
hấp dẫn nhất để từ đó có những định hướng, điều chỉnh đúng đắn đưa du lịch nơi
đây có những bước tiến mới góp phần phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người
dân và thay đổi diện mạo của xã theo chiều hướng tích cực hơn.

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Đoan – Lớp: 14 CVNH

Trang 23


Khóa Luận Tốt Nghiệp


Từ năm 2010, du lịch tại rừng dừa Bảy mẫu nơi đây bắt đầu khởi sắc và phát
triển mạnh vào năm 2012. Đến nay, Rừng dừa Bảy Mẫu trở thành điểm du lịch sinh
thái hấp dẫn, được ví như “Nam Bộ giữa lòng phố cổ”. Đến đây, du khách được trải
nghiệm các hoạt động thú vị như ngồi thuyền thúng tham quan rừng dừa kết hợp
câu cá, câu tôm, nghe kể chuyện về di tích Rừng dừa và chiến tích chiến tranh của
bà con Cẩm Thanh, xem biểu diễn lắc thúng, quăng lưới kéo cá, đua ghe, tham gia

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Đoan – Lớp: 14 CVNH

Trang 24


Khóa Luận Tốt Nghiệp

GVHD: Th.S Ngô Thị Hường

các trò chơi dân gian, vớt rác bảo vệ môi trường, đạp xe đạp tận hưởng vẻ đẹp yên
bình nơi làng quê và thưởng thức những món ăn dân dã mang đậm hương vị vùng
quê đất Quảng... Được hòa mình vào thiên nhiên sông nước, ngắm nhìn những rặng
dừa nước vươn lên xanh ngắt một màu, không khí trong lành cùng với người dân
thân thiện, mến khách, chắc hẳn du khách sẽ có được những trải nghiệm tuyệt vời
tại vùng quê yên bình này.
+ Chương trình du lịch khám phá rừng dừa Bảy mẫu:
08h00: Hướng dẫn viên Danatravel đón khách tại khu du lịch sinh thái Xứ Dừa
08h30: Chèo thuyền thúng vào rừng dừa. Tham quan rừng dừa, thưởng thức
kỹ năng “chém nước” của ngư dân làng dừa. Nghe những mẫu chuyện về chiến
công của thời chống Pháp, Mỹ. Trải nghiệm những kỹ năng câu cá, câu cua vô cùng
hấp dẫn. Những màn biểu diễn lắc thúng chai, chai lưới của ngư dân làng chai
09h30: Tập trung tại khu du lịch Xứ Dừa tham gia các hoạt động làm lưới
đánh cá bằng cách truyền thống, câu cá….Tham gia các trò chơi dân gian đạp niêu,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status