NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG SINH KẾ NGƯỜI NÔNG DÂN KHI
CHUYỂN ĐẤT NÔNG NGHIỆP SANG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP TẠI
THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
1
Ths.Ngô Hữu Hoạnh
2
1. Đặt vấn đề
Vấn đề sinh kế của người dân sau thu hồi đất nông nghiệp đang là vấn đề quan tâm của
các địa phương trong phạm vi cả nước. Đặc biệt là trong giai đoạn gần đây ở nước ta, diện
tích đất nông nghiệp bị thu hồi hàng năm khá lớn do quá trình đô thị hoá và phát triển cơ sở
hạ tầng và số người có sinh kế khó khăn sau thu hồi đất ngày càng gia tăng. Khi thu hồi đất
Nhà nước có chính sách bồi thường thiệt hại về đất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và ổn định
đời sống và thực tế là có những hộ có thu nhập cao hơn so với trước khi thu hồi đất, nhưng
vẫn có một số hộ dân vẫn khó khăn trong việc tạo lập sinh kế của mình. Họ vẫn bám víu vào
diện tích đất ít ỏi còn lại do việc tìm kiếm việc làm mới và trình độ tay nghề để chuyển đổi
công việc không dễ dàng. Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét sự thay đổi về các nguồn
vốn tạo sinh kế của người dân trước và sau thu hồi đất nông nghiệp tại một số phường vùng
ngoại ô của thành phố Hội An.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại phường Cẩm Châu và phường Thanh Hà thuộc thành phố
Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là hai phường có diện tích đất nông nghiệp lớn và trong thời
gian qua là những địa phương ở thành phố Hội An có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn
nhất và điển hình cho quá trình đô thị hoá tại thành phố Hội An.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra
Theo số liệu điều tra nông hộ sau khi thu hồi đất, bình quân nhân khẩu của hộ gia đình
từ 5,0 đến 5,6 người/hộ, bình quân lao động trên hộ gia đình là 3,5 lao động, trong đó lao
động nông nghiệp bình quân là 1,6 lao động/hộ. Sau thu hồi đất bình quân lao động nông
nghiệp chiếm chưa tới 50% số lao động của các nhóm hộ. Có tới 85,7% chủ hộ chưa tốt
nghiệp phổ thông trung học, 100% chủ hộ chưa có bằng cấp về chuyên môn (Bảng 1).
Bảng 1- Tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra sau thu hồi đất
Chỉ tiêu ĐVT Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3
1. Số hộ điều tra Hộ 11 30 27
2. Tuổi bình quân Tuổi 63.1 66.3 61.4
3. Trình độ văn hóa
- Cấp 1 % 44,4 39,1 36,0
- Cấp 2 % 33,3 21,7 36,0
- Cấp 3 % 22,2 39,1 28,0
4.. Trình độ chuyên môn % 0 0 0
5. Bình quân nhân khẩu Người 5,0 5,6 5,2
6. Lao động
- Lao động/hộ Lao động 2,9 3,8 3,4
- Lao đông nông nghiệp/hộ Lao động 1,3 1,8 1,5
Thực tế cho thấy rằng đa số chủ hộ có đất nông nghiệp bị thu hồi đều lớn tuổi, trình độ
văn hóa thấp. Lao động lớn tuổi chiếm đa số và ít người được học hành nhưng đối tượng này
lại là những người phải gánh vác trách nhiệm quan trọng trong việc đảm bảo sinh kế của hộ,
là những lao động chính tạo thu nhập cho hộ.
3.2. Sự thay đổi về sinh kế của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp
3.2.1. Thay đổi về nguồn vốn tự nhiên
Kết quả điều tra cho thấy diện tích đất nông nghiệp của các nhóm hộ giảm đáng kể do bị
thu hồi đất. Trong đó, nhóm 1 có diện tích bình quân bị thu hồi là 24,4% diện tích được giao
của hộ, tương ứng là 797,8m
2
/lao động nông
nghiệp giảm xuống chỉ còn 384,1m
2
/lao động nông nghiệp.
Hiện tại trên địa bàn Hội An nói chung và khu vực điều tra nói riêng còn rất ít quỹ đất
dự trữ để bồi thường, nên khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án thì phương thức
bồi thường được thực hiện nhiều nhất là bồi thường bằng tiền. Cùng với bồi thường thiệt hại,
việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cũng được thực hiện bằng tiền. Mặt khác, đa số người dân
đều muốn được bồi thường, hỗ trợ theo hình thức này vì với người nông dân có một khoản
tiền mặt lớn là ước mơ của họ. Do vậy đại đa số hộ bị thu hồi đất nông nghiệp đều bồi thường
và hỗ trợ bằng tiền.
Như vậy, nguồn vốn tự nhiên (đất đai) được chuyển thành nguồn vốn tài chính. Trước
đây đất đai là phương tiện tạo sinh kế quan trọng của hộ nông dân, bây giờ chuyển thành một
khoản tiền. Để đảm bảo sinh kế lâu dài, nguồn vốn này phải được hộ dân sử dụng vào mục
đích đầu tư sản xuất tạo nguồn thu nhập hoặc học nghề để chuyển đổi nghề nghiệp (vốn con
người). Còn nếu sử dụng số tiền này vào mục đích xây dựng nhà cửa, mua sắm tài sản (vốn
vật chất) và các mục đích khác thì sinh kế của người dân về lâu dài sẽ khó khăn. Khi sinh kế
khó khăn họ sẽ bị hạn chế trong việc học hành, khám chữa bệnh, tiếp cận thông tin…Tức là
khi đất nông nghiệp của người nông dân bị thu hồi họ có thể còn bị mất đi cơ hội để phát triển
bản thân, gia đình cũng như tiếp cận xã hội.
3.2.2. Thay đổi về nguồn vốn xã hội
Cơ hội tiếp cận nguồn vốn xã hội sau khi thu hồi đất được mở ra nhưng ít người dân tận
dụng cơ hội này để cải thiện và thay đổi sinh kế của mình. Khi bị thu hồi đất, 100% hộ gia
đình đều nhận hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp bằng tiền mặt nhưng có rất ít người sử dụng
nguồn vốn này cho việc học nghề.
Về các nguồn thu nhập trước và sau thu hồi đất có sự thay đổi đáng kể. Trước thu hồi
đất thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp trong tổng thu
nhập của các nhóm l, 2 và 3 lần lượt là 62%, 81,1% và 64,4%. Sau thu hồi đất nguồn thu nhập
này của các nhóm hộ giảm xuống đáng kể, tương ứng là 45,4%, 45,1% và 32,2% (Hình 3).
Hình 3 - Tỷ lệ các nguồn thu nhập của các nhóm hộ trước và sau thu hồi đất
Thực tế điều tra cho thấy rằng, nhiều người có thu nhập từ lao động tự do cao hơn so
với sản xuất nông nghiệp trước đây, tuy nhiên nguồn thu này rất bấp bênh, thường khó khăn
trong tìm kiếm việc làm vào mùa mưa. Hơn nữa thu nhập bằng tiền mặt hàng ngày nên cũng
dễ tiêu xài, khó tiết kiệm và một lý do mà họ đưa ra là chi tiêu tăng cao do phải mua nhiều thứ
hơn trước đây còn đất nông nghiệp bản thân gia đình tự sản xuất được.
d. Thay đổi về nguồn vốn con người Hình 4: Thay đổi về tỷ lệ lao động sau khi thu hồi đất
Theo kết quả điều tra chỉ có 4,4% hộ gia đình sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ vào việc