báo cáo nghiên cứu khoa học ''''''''ảnh hưởng của việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến sinh kế người nông - Pdf 15

47

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 62A, 2010

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHUYỂN ĐẤT NÔNG NGHIỆP
SANG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI NÔNG DÂN
BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
Huỳnh Văn Chương

Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
Ngô Hữu Hoạnh
Trường Cao đẳng Công nghệ - Kinh tế và Thủy lợi Miền Trung, Bộ NN&PTNT
TÓM TẮT
Việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp làm
thay đổi nguồn tài nguyên tạo sinh kế thực sự là một cú sốc lớn gây xáo trộn cuộc sống của
người nông dân. Các nguồn tài nguyên tạo sinh kế có sự luân chuyển cho nhau, qua điều tra và
phân tích chỉ ra rằng, tài sản đất đai của người nông dân chuyển thành vốn tài chính và vốn vật
chất, rất ít trường hợp chuyển thành nguồn vốn xã hội và nguồn vốn con người trong nhóm các
nguồn tài nguyên tạo sinh kế. Nghiên cứu cho thấy nhiều hộ dân tuy có thu nhập cao hơn sau
khi chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp để thực hiện quá trình đô thị hoá
nhưng người dân không yên tâm do thu nhập không ổn định và cuộc sống tiềm ẩn những bất ổn.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cần có những giải pháp cụ thể hơn về tạo việc làm, tư vấn sử
dụng nguồn vốn bồi thường, hỗ trợ đền bù, tái định cư từ phía Nhà nước để người dân bị thu
hồi đất có sinh kế bền vững sau thu hồi đất.
Từ khóa: Chuyển đổi đất đai, thu hồi đất, thu nhập, sinh kế, việc làm.

1. Đặt vấn đề
Vấn đề sinh kế của người dân sau thu hồi đất nông nghiệp không phải là đề tài
mới nhưng có ý nghĩa thực tiễn cao, đang là vấn đề quan tâm của các địa phương trong
phạm vi cả nước. Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây, ở nước ta, diện tích đất nông nghiệp
bị thu hồi hàng năm khá lớn do quá trình đô thị hoá và phát triển cơ sở hạ tầng và số

thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam (xem hình 1). Đây là hai phường có diện tích đất
nông nghiệp lớn và trong thời gian qua là những địa phương ở thành phố Hội An có
diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn nhất và điển hình cho quá trình đô thị hoá tại
thành phố Hội An.

Hình 1. Vị trí vùng nghiên cứu
49

2.2.Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập có chọn lọc các thông tin, dữ liệu sẵn có về quá trình thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ khi thu hồi đất.
2.2.2. Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp thu thập qua phỏng vấn hộ nông dân có đất bị thu hồi bằng bảng
câu hỏi phỏng vấn sâu. Chúng tôi lựa chọn điều tra các hộ dân bị thu hồi đất tại dự án
xây dựng cụm công nghiệp – đô thị - dịch vụ Thanh Hà, dự án đường Trường Chinh
(đường dẫn vào cụm công nghiệp – đô thị - dịch vụ) tại phường Thanh Hà; dự án xây
dựng đường dẫn cầu Cửa Đại và dự án xây dựng Trường Trung học cơ sở Cẩm Châu tại
Phường Cẩm Châu. Phân các hộ điều tra thành 3 nhóm có diện tích đất nông nghiệp bị
thu hồi khác nhau:
 Nhóm 1: Các hộ bị thu hồi dưới 30% đất nông nghiệp
 Nhóm 2: Các hộ bị thu hồi từ 30% đến dưới 70% đất nông nghiệp
 Nhóm 2: Các hộ bị thu hồi từ 70% đất nông nghiệp trở lên.
Bảng câu hỏi phỏng vấn sâu được soạn thảo sẵn trên phiếu điều tra. Phiếu điều
tra được xây dựng gồm 5 phần, phần I thu thập thông tin chung của hộ gia đình gồm tên,
tuổi, địa chỉ của chủ hộ; nhân khẩu, lao động, trình độ văn hóa và chuyên môn. Phần II
và III của phiếu điều tra nhằm thu thập về tình hình sử dụng đất nông nghiệp, tài sản của
hộ trước và sau thu hồi đất. Phần IV của phiếu được xây dựng để điều tra thông tin về
thu nhập trước và sau thời điểm thu hồi đất, việc sử dụng nguồn vốn bồi thường, hỗ trợ
của các hộ. Phần V của phiếu điều tra là ý kiến và đề xuất của hộ về chính sách thu hồi

với nữ, trên 40 đối với nam, chiếm tới 62,9%. Lao động nông nghiệp độ tuổi từ 15-18
(độ tuổi đi học) chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ 6,5%. Đây là một trong những lý do khiến rất ít
lao động nông nghiệp theo học để chuyển đổi nghề nghiệp khi bị thu hồi đất.
Bảng 1. Tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra sau thu hồi đất.
Chỉ tiêu ĐVT Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3
1. Số hộ điều tra Hộ 11 30 27
2. Tuổi bình quân Tuổi 63.1 66.3 61.4
3. Trình độ văn hóa

51

- Cấp 1 % 44,4 39,1 36,0
- Cấp 2 % 33,3 21,7 36,0
- Cấp 3 % 22,2 39,1 28,0
4 Trình độ chuyên môn % 0 0 0
5. Bình quân nhân khẩu Người 5,0 5,6 5,2
6. Lao động
- Lao động/hộ Lao động 2,9 3,8 3,4
- Lao đông nông nghiệp/hộ Lao động 1,3 1,8 1,5
Kết quả điều tra cho thấy trình độ học vấn của các nhóm lao động giảm nhanh
theo các độ tuổi, trong khi lao động ở độ tuổi từ 15-18 có 72,7% đang theo học tại các
trường phổ thông, dạy nghề, trung cấp cao đẳng và đại học thì lao động ở độ tuổi từ 18
đến 35 (nữ), 40 (nam) chỉ có 11,5% và không ai đi học ở độ tuổi trên 35 (nữ), 40 (nam).
Như vậy, thực tế cho thấy rằng, đa số chủ hộ có đất nông nghiệp bị thu hồi đều
lớn tuổi, trình độ văn hóa thấp. Lao động lớn tuổi chiếm đa số và ít người được học
hành nhưng đối tượng này lại là những người phải gánh vác trách nhiệm quan trọng
trong việc đảm bảo sinh kế của hộ, là những lao động chính tạo thu nhập cho hộ.
3.2. Sự thay đổi về sinh kế của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp
Đối với người nông dân thì đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất, khi mất
đất tức là mất đi công cụ, phương tiện để đảm bảo đời sống, tức là họ chịu một cú sốc

nghiệp của hộ, tương ứng là 2.807m
2
(Bảng 2).
Bình quân diện tích đất nông nghiệp sau thu hồi đất của các nhóm hộ giảm, dẫn
đến bình quân diện tích đất nông nghiệp trên lao động nông nghiệp giảm đáng kể trong
các nhóm. Trong đó, đặc biệt là nhóm 3, diện tích đất nông nghiệp bình quân từ
2.438,1m
2
/lao động nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 384,1m
2
/lao động nông nghiệp,
điều đó cho thấy phương tiện sinh kế quan trọng của hộ nông dân giảm xuống đáng kể
sau thu hồi đất, đây thực sự là một cú sốc lớn đối với họ (Hình 3).
2564.1
1713.3
2438.1
1937.3
727.8
384.1
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3
Trước thu hồi
Sau thu hồi
Hình 3. Bình quân đất nông nghiệp/lao động nông nghiệp trước và sau thu hồi đất

nông nghiệp. Ngoài ra có một số hộ dùng nguồn vốn bồi thường, hỗ trợ gửi ngân hàng
đã thu được tiền lãi hàng tháng ổn định.
Về các nguồn thu nhập trước và sau thu hồi đất có sự thay đổi đáng kể. Trước
thu hồi đất, thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp
trong tổng thu nhập của các nhóm l, 2 và 3 lần lượt là 62%, 81,1% và 64,4%. Sau thu
hồi đất, nguồn thu nhập này của các nhóm hộ giảm xuống đáng kể, tương ứng là 45,4%,
45,1% và 32,2% (Hình 4).

Hình 4. Tỷ lệ các nguồn thu nhập của các nhóm hộ trước và sau thu hồi đất
Dễ nhận thấy rằng nhóm 3 có tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi lớn nhất nên thu
nhập từ sản xuất nông nghiệp cũng giảm xuống nhiều nhất. Trong các nguồn thu nhập
từ hoạt động phi nông nghiệp thu nhập từ lao động tự do tăng mạnh nhất, đặc biệt là ở
nhóm 3, tức nhóm có tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi lớn nhất. Điều này phản ánh đúng
thực trạng sau thu hồi đất, một số lượng lớn lao động chưa thể tìm kiếm được ngành
54

nghề ổn định đã chuyển sang lao động tự do. Nguồn thu nhập từ hoạt động này thứ yếu
trước khi thu hồi đất đã trở thành nguồn thu chủ yếu cho các hộ chỉ sau sản xuất nông
nghiệp. Thực tế điều tra cho thấy rằng, nhiều người có thu nhập từ lao động tự do cao
hơn so với sản xuất nông nghiệp trước đây, tuy nhiên, nguồn thu này rất bấp bênh,
thường khó khăn trong tìm kiếm việc làm vào mùa mưa. Hơn nữa, thu nhập bằng tiền
mặt hàng ngày nên cũng dễ tiêu xài, khó tiết kiệm và một lý do mà họ đưa ra là chi tiêu
tăng cao do phải mua nhiều thứ hơn trước đây còn đất nông nghiệp bản thân gia đình từ
sản xuất được.
3.2.3. Thay đổi về nguồn vốn xã hội khác
Khi thu hồi đất để xây dựng đô thị, cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế đã làm tăng
cơ hội tiếp cận nguồn vốn xã hội, điều kiện phát triển con người cho người dân. Bên
cạnh đó, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, cụm công nghiệp được xây dựng tạo cơ hội
việc làm cho nhiều lao động. Tuy nhiên, cũng như đặc điểm chung của người nông dân
Việt Nam, người dân ở đây thường gặp nhiều khó khăn trong việc thay đổi hình thức

thị, phát triển kinh tế, nhiều người dân lo lắng tác động tiêu cực của nó là làm phai nhạt
tình cảm nông thôn; là tiền đề gia tăng các tệ nạn xã hội, bất ổn cuộc sống gia đình.
3.2.4. Thay đổi về nguồn vốn vật chất
Kiên cố hóa nhà cửa và những tiện nghi, đồ dùng gia đình là một trong những
tiêu chí để đo lường mức sống của người dân, mặc dù tiêu chí này không phải lúc nào
cũng phản ánh đúng thực trạng về mức sống. Sau thu hồi đất tỷ lệ kiên cố nhà cửa tăng
lên đáng kể so với trước khi thu hồi đất, trong khi nhà tạm và nhà cấp 4 xây dựng lâu
năm giảm xuống (Hình 6).
ĐVT: %

Hình 6. Các loại nhà của người dân trước và sau khi thu hồi đất
Kết quả khảo sát cho thấy đồ dùng sinh hoạt cũng được các hộ dân đầu tư mua
sắm. Thực tế, sau thu hồi đất người dân đầu tư mua sắm những đồ dùng sinh hoạt hiện
đại như điện thoại (chủ yếu điện thoại di động), máy vi tính, tủ lạnh tăng cao (Hình 7).
Xây
nhà

Ch
ữa
bệnh

H
ọc
hành

Mua
sắm
tài
sản
S

3.2.5. Thay đổi về nguồn vốn con người
Thu hồi đất để thực hiện chuyển đổi đất đai người dân được nhận một khoản tiền
bồi thường, được hỗ trợ để chuyển đổi nghề nghiệp, đây là cơ hội cho người dân phát
triển nguồn vốn con người. Hệ thống trường học các cấp được xây dựng, sửa chữa ngày
càng khang trang hơn, người dân còn nguồn tiền từ bồi thường thiệt hại, hỗ trợ học nghề
để chuyển đổi nghề nghiệp để đầu tư cho học tập.
Tuy nhiên, theo kết quả điều tra chỉ có 4,4% hộ gia đình sử dụng tiền bồi thường,
hỗ trợ vào việc học nghề, cho con học hành. Khi phỏng vấn thì nhiều người cho biết
nguyên nhân của việc ít người chủ động học nghề là do tuổi cao, ít thông tin hướng
nghiệp, tìm kiếm nơi làm việc khó khăn. Tỷ lệ đi học của các nhóm lao động giảm
mạnh theo độ tuổi, lao động trong độ tuổi 15-18 có tỷ lệ đi học khá cao 72,7%, tỷ lệ này
giảm xuống 11,5% đối với lứa tuổi từ 18 đến 35 (nữ) và 40 (nam). Lao động trên 35 đối
với nữ, 40 đối với nam không có ai theo học. Họ hiểu rằng trong tình hình đô thị hóa,
công nghiệp ngày càng phát triển như hiện nay muốn có việc làm thì phải có trình độ
tay nghề và bằng cấp, tuy nhiên, hạn chế lớn nhất mà là do tuổi cao, khó khăn trong việc
theo học. Do đó, họ đầu tư cho con em theo học, còn bản thân người lớn tuổi (trên 35-
Xe máy

Ti vi

Tủ lạnh

Bếp
ga
Vi
tính
Điện
thoại

57


58

chuyển đổi nghề nghiệp nên dẫn đến khó khăn trong tìm kiếm việc làm. Do đó, cần có
giải pháp từ các cơ quan Nhà nước để việc sử dụng nguồn tiền bồi thường, hỗ trợ hiệu
quả hơn nhằm đảm bảo sinh kế bền vững lâu dài cho người dân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Andrew Barnett. The Sustainable Livelihoods Framework, energy and poverty. EASE
newsletter, No 4, 2005.
[2]. DFID. Sustainable livelihoods guidance sheets, 1999.
[3]. Tim Hanstad, Robin Nielsen and Jeifer Brown, Land and livelihoods. Making land
rights real for India’s rural poor, Food and Agriculture organization of the United
nations (FAO), 2004.
[4]. Nguyễn Minh Hoài. Ổn định đất nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Tạp chí Cộng sản, 790, 2008.
[5]. Bùi Ngọc Thanh. Việc làm cho hộ nông dân thiếu đất sản xuất - vấn đề và giải pháp.
Tạp chí Cộng sản (chuyên đề cơ sở), 26, 2009.
[6]. Nguyen Van Suu. Industrialization and Urbanization in Vietnam: How Appropriation
of Agricultural Land Use Rights Transformed Farmers’ Livelihoods in a Peri-Urban
Hanoi Village?. Final Report of an East Asian Development Network (EADN)
Individual Research Grant Project, EADN working paper, 38, 2009.

INFLUENCE OF CONVERTING AGRICULTURAL LAND INTO NON-
AGRICULTURAL LAND ON FARMERS' LIVELIHOODS IN HOI AN CITY,
QUANG NAM PROVINCE
Huynh Van Chuong

College of Agriculture and Forestry, Hue University
Ngo Huu Hoanh
College of Technology - Economics and Water Resources at Central, MARD


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status