PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Nuôi trồng thuỷ sản là một ngành sản xuất động thực vật thuỷ sinh trong điều
kiện kiểm soát hoặc bán kiểm soát, hoặc như người ta vẫn thường nói, nuôi
trồng thuỷ sản là sản xuất nông nghiệp trong môi trường nước. Vì vậy, nuôi
trồng thuỷ sản đề cập đến cả các hoạt động trong môi trường nước mặn, nước
ngọt và nước lợ.
Với cánh cửa của WTO ngày càng mở rộng khi Việt Nam đã trở thành thành
viên chình thức của tổ chức này, thì đây là một điều kiện hết sức thuận lợi để
Việt Nam phát triển nền kinh tế một cách toàn diện trong giai đoạn hội nhập.
Gia nhập vào WTO chúng ta có rất nhiều cơ hội để phát triển kinh tế từ kinh tế
nông nghiệp đến kinh tế ngoại thương. Trong điều kiện đó thì xuất khẩu sản
phẩm thủy sản cũng dễ dàng hơn vào thị trường các nước trên thế giới. Trên
thực tế thì hiện nay Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với 75% dân cư sinh
sống ở nông thôn và trên 75% lực lượng lao động xã hội làm việc trong khu vực
này. Sự phát triển của nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của
nền kinh tế và ổn định chính trị, xã hội của đất nước. Do vậy, khi gia nhập WTO
nông nghiệp của Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển hơn. Thủy sản cũng là
một bộ phận của ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông – lâm – ngư
nghiệp. Và có thể nói ngành thủy sản đóng một vai trò quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân của nước ta.
Có một đặc điểm là nguồn lợi thủy sản mang tính tái tạo, tái sinh. Nhưng khi
con người khai khác quá khả năng tái sinh thì nguồn lợi sẽ bị cạn kiệt. Trên thực
tế hiện nay sản lượng thủy sản mà con người khai thác ngày càng bị suy giảm
và cạn kiệt. Nếu như con người không tiến hành giải pháp khác thì nguy cơ cạn
kiệt nguồn lợi là điều dể nhận thấy. Vì vậy, nuôi trồng thủy sản vừa nhằm mục
đích phục vụ nhu cầu trong nước đồng thời xuất khẩu có thể nói là một giải pháp
hữu hiệu trong giai đoạn phát triển hội nhập như hiện nay. Để đáp ứng được nhu
cầu thị trường trong và ngoài nước thì chúng ta cần nắm rõ thực trạng khai thác
và nuôi trồng thủy sản để có điều chỉnh cho kịp thời.
Hội An là một thành phố nằm ven biển, thuộc vùng hạ du của sông Thu Bồn
66.7% tổng sản lượng nuôi, các nước Châu Á khác chiếm 22.8%, và các nước
khác còn lại ở Châu Âu, Châu Mỹ, Úc,… chiếm 10,5%.
Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi thủy sản được bắt đầu từ những
năm 1970 của thế kỷ XX. Đến nay, nghề nuôi thủy sản vẫn liên tục phát triển đa
dạng lẫn thâm canh hóa. Nếu như năm 1970, tốc độ tăng trưởng hằng năm về
sản lượng là 3.9%, thì năm 2006, tốc độ tăng trưởng là 36%. Sự phát triển nhanh
chóng của nghề nuôi đã góp phần tăng tỷ lệ tiêu dùng sản phẩm thủy sản nuôi
trồng từ 0.7 kg/người/năm vào năm 1970 lên 7.8 kg/người/năm vào năm 2006.
Sản phẩm từ nuôi trồng thủy sản chiếm 46% tổng sản phẩm thủy sản tiêu dùng
hàng năm. Ở Trung Quốc, tỷ lệ này là 90%.
Mười nước đứng đầu thế giới năm 2006 về sản lượng nuôi trồng thủy sản
gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Bangladesh, Chile,
Nhật Bản, Na Uy và Philippines. Năm 2006, sản lượng nuôi trồng thủy sản của
Việt Nam là 1,7 triệu tấn, đứng thứ 5 thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Idonesia,
Philippines.
Nghề nuôi trồng thủy sản nội địa tiếp tục đóng góp chính cho nghề nuôi
thủy sản nói chung, với hơn 61% sản lượng và 53% tổng giá trị sản phẩm
nuôi trồng. Nuôi thủy sản nước ngọt chiếm 58% sản lượng và 48% giá trị,
nuôi biển chiếm 34% sản lượng và 36% giá trị. Trong khi đó, nuôi nước lợ
với tỷ lệ sản lượng thấp 8% nhưng cho tỷ lệ giá trị đến 16% do nuôi chủ yếu
các loài tôm có giá trị cao.
Cơ cấu nhóm loài nuôi cho thấy, năm 2006, cá nước ngọt cho sản lượng cao
nhất là 27.8 triệu tấn, đạt giá trị 29.5 triệu USD; động vật thân mềm và rong biển
cho sản lượng và giá trị tương đương nhau. Trong khi đó, giáp xác có sản lượng
chỉ 4.5 triệu tấn nhưng đạt giá trị đến 17.95 triệu USD.
3
Theo một báo cáo đánh giá xuất bản tháng 1/2009 của tạp chí BioScience,
phát triển kinh tế xã hội.
Ngành nuôi trồng thủy sản nước ta phát triển rất năng động. Nghề nuôi thủy
sản truyền thống bắt đầu từ thập niên 1960, tuy nhiên trong vòng 10 năm nay,
nghề nuôi thủy sản có tốc độ phát triển rất nhanh chóng. Theo thống kê ở các
tỉnh/thành phố năm 2010 cả nước có trên 1 triệu ha mặt nước NTTS, tăng 45%
so với năm 2001, bình quân giai đoạn từ năm 2001-2010 tăng 4,2%/năm. Về sản
lượng, năm 2010 đạt khoảng 2,47 triệu tấn thủy sản các loại, tăng 286,3% so
với năm 2001. Trong đó, sản lượng nuôi thủy sản nước lợ - mặn là 691,5 nghìn
tấn, sản lượng nuôi nước ngọt đạt 2 triệu tấn. Hiện nay, đối tượng nuôi và mô
hình nuôi thủy sản ở Việt Nam khá phong phú, tuy nhiên, chủ lực nhất vẫn là
nuôi cá tra thâm canh ở vùng nước ngọt và nuôi tôm ở vùng nước lợ ven biển.
Đặc biệt, năm 2010, sản lượng nuôi cá tra và basa đạt 1.038.256 tấn và sản
lượng tôm nuôi đạt 470.314 tấn.
Trong báo cáo vừa công bố của Tổng Cục Thống Kê cho biết, sản lượng thủy
sản tháng 1/2013 ước tính đạt 376.100 tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước,
trong đó cá đạt 281.700 tấn, tăng 2,1%; tôm đạt 33.200 tấn, tăng 2,5%.
Tại cuộc hội thảo quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn 2030 do Bộ NN&PTNT tổ chức ngày 22-6-2012, TS
Nguyễn Thanh Tùng, Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản cho
biết, ngành thủy sản Việt Nam đối mặt với rất nhiều khó khăn như công tác
tổ chức sản xuất trên biển còn quá nhiều bất cập, đầu vào và đầu ra sản
phẩm của ngư dân đều do tư thương quản lý, kể cả nguồn vốn nên tình trạng
ép giá thường xuyên xảy ra. Sản lượng khai thác thủy sản (KTTS) giá thấp
vẫn chiếm tỷ trọng cao, trên 70% là cá tạp các loại dùng trong chế biến thức
ăn và tiêu dùng nội địa. Việc sử dụng các loại hóa chất bị cấm trong NTTS
vẫn xảy ra, dẫn tới nhiều lô hàng xuất khẩu của Việt Nam bị trả lại; dịch
bệnh liên tiếp xảy ra gây thiệt hại lớn cho người nuôi.
Trong cuộc hội thảo nhiều đại biểu tham dự đã cho rằng để quy hoạch tổng
thể ngành thủy sản cho những năm tiếp theo cần phải thực hiện đồng bộ các giải
pháp, cần quy hoạch vùng nuôi theo quy mô lớn, tránh nhỏ lẻ, tự phát dẫn tới
Liêu với mô hình quảng canh cải tiến, kết hợp với nuôi cá và nuôi cua. Kết quả
cho thấy bình quân mỗi năm thu nhập từ tôm, cua của ông đạt 200 triệu đồng.
Ông Võ Văn Vân(2013) KP. Đông, phường Vĩnh Phú, TX.Thuận An - Bình
Dương với mô hình nuôi cá tai tượng trong ao đất đã đưa kinh tế gia đình thoát
nghèo. Thu nhập bình quân hằng năm từ nuôi cá tai tượng của ông khoảng 400
triệu.
6
Nguyễn Thị Xuân Thu (2001) khi nuôi xen ghép tôm sú với hải sâm, các yếu
tố môi trường, hàm lượng vi sinh vật có nhiều sai khác lớn so với nuôi đơn tôm
sú. Và đến năm 2003 đã nghiên cứu thành công mô hình nuôi xen ghép tôm sú
kết hợp với hải sâm nhằm cải thiện môi trường ao nuôi và tăng thu nhập cho
người nuôi.
Ở An Giang, nhiều người nuôi xen ghép tôm sú với cá kèo, một đối tượng có
giá trị kinh tế cao. Việc nuôi cá kèo bắt đầu vào mùa mưa (tháng 4 âm lịch), nên
nuôi cá kèo khi tôm sú đã lớn, và chọn cá khỏe mạnh thả nuôi.Ngoài ra ở đây
còn nuôi cá thát lát người thực hiện mô hình này vừa cho thu hoạch 30.000 con
cá thát lát sau gần 6,5 tháng thả nuôi, được trên 14 tấn cá thương phẩm với giá
37.000 đ/kg, thu về lợi nhuận trên 150 triệu đồng.
Cá chình là một loài hải sản có giá trị kinh tế cao. Ở Bà Rịa- Vũng Tàu, đã
nuôi xen ghép cá chình với cá trắm, cá mè. Mật độ cá trắm, cá mè 4,000- 5,000
con/ha.
Tại An Giang, với sự chuyển giao kỹ thuật của phòng Kinh tế Tân Châu và
Hội Nông dân thị xã, xã Vĩnh Xương có khoảng 100 hội viên, nông dân tham
gia nuôi cá lóc, lươn và ếch Thái Lan. Trong đó, có việc ương con giống và nuôi
ếch thịt được tổ chức khá thành công. Còn ở xã Long An, từ Tổ hùn vốn Long
Thành đã xuất phát nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản, hỗ trợ cho hội viên và
nông dân có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
thuận lợi cho việc khai thác cùng với diện tích đầm, phá và các vùng đất nhiễm
mặn ven biển là nguồn tài nguyên quý giá để phát triển các nghề khai thác, chế
biến và nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi tôm nước lợ.
Theo báo cáo của Chi cục NTTS Quảng Nam, năm 2011, tổng diện tích
NTTS trên toàn địa bàn tỉnh là 6.900 ha với sản lượng thu hoạch đạt 14.250 tấn;
trong đó diện tích NTTS nước ngọt 4.700 ha, diện tích nuôi thủy sản nước lợ
2.272 ha (nuôi vùng triều là 1.191 ha, nuôi trên cát là 268 ha).
Nuôi trồng thủy sản tỉnh Quảng Nam đã góp phần đáng kể vào kim ngạch
xuất khẩu của tỉnh. Theo thống kê của Sở Công thương tỉnh, giai đoạn 20012010, kim ngạch xuất khẩu của Quảng Nam có tốc độ tăng bình quân là
27,7%/năm. Trong đó kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng thủy, hải sản tăng
16,1%/năm.
Với vụ đầu thành công, mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt cho người dân nông
thôn, nhưng qua kết quả điều tra cho thấy rằng NTTS vẫn là một nghề nhiều rủi
ro, ảnh hưởng lớn đến sinh kế người dân cũng như môi trường sinh thái. Năm
2012, Sau gần 3 năm thực hiện quyết định của UBND tỉnh Quảng Nam về quy
hoạch ngắn hạn vùng nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát ven biển thuộc 3 xã Bình
Hải, Bình Dương và Bình Minh (huyện Thăng Bình) với tổng diện tích 131,1 ha
đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên,
việc ồ ạt nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát đang tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi
trường cao.
Đặc trưng của môi trường sống, ô nhiễm nguồn nước, dịch bệnh và xung đột
giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài tất cả đều gây khó khăn cho sự phát triển
8
bền vững của ngành thủy sản hiện nay. Ở nhiều xã và một số huyện trực thuộc
tỉnh, nuôi tôm thực sự chỉ gợi lại những ký ức nợ nần chồng chất và là một nổ
lực thất bại chống lại nghèo đói để cải thiện tình hình kinh tế-xã hội, nhiều
người dân đã từ bỏ NTTS sau nhiều năm thua lổ. Theo thống kê, từ năm 1997
đến năm 2003, bình quân hàng năm, tỉnh Quảng Nam có gần 970 ha nuôi tôm bị
rảo (Metapenaeus ensis) như ở Hội An, Thăng Bình,... Tôm được nuôi chủ yếu
9
trong ao có diện tích trung bình 5000m2. Hình thức nuôi cũng thay đổi theo thời
gian, từ nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến đến bán thâm canh, thâm canh.
Những người tham gia nuôi tôm nhưng không phải nghề chính thì có xu hướng
làm quảng canh cải tiến. Từ năm 2005, với chủ trương cho phép phát triển đối
tượng tôm thẻ chân trắng bên cạnh con tôm sú truyền thống đã làm cho diện
tích, sản lượng và năng suất nuôi tôm ở Quảng Nam tăng cao.
Theo báo cáo của sở NN & PTNT Quảng Nam, năm 2011, diện tích nuôi tôm
thẻ chân trắng là 1.400 ha, với sản lượng đạt 7.024 tấn; trong đó diện tích nuôi
trên vùng triều là 1.139 ha, nuôi tôm trên cát là 268 ha.
Được sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư tỉnh Quảng Nam,
Trạm Khuyến nông – Khuyến lâm huyện Núi Thành đã phối hợp với UBND 2
xã Tam Xuân 2 và Tam Nghĩa triển khai xây dựng mô hình nuôi cá thát lát
cườm ở ao có diện tích 1.500 m2 và 1.000 m2 ở thôn An Thiện (Tam Nghĩa).
Trạm tiến hành thả nuôi 6.250 con, cở 3-4 cm. Mật độ thả là 2,5 con/m2. Sau gần
6 tháng thả nuôi, qua kiểm tra cho thấy cá phát triển tốt, đồng đều, tỷ lệ sống
khá cao khoảng 70-80%, trọng lượng bình quân đạt 500 gam/con. Dự kiến tổng
lượng thu được gần 2,2 tấn. Với giá bán trên thị trường 60.000 đ/kg, sẽ thu được
khoảng hơn 130 triệu đồng, trừ chi phí lãi gần 39 triệu đồng.
Đầu năm 2010, một số hộ nông dân ở huyện Núi Thành bắt đầu triển khai mô
hình nuôi nghêu thương phẩm với sự hổ trợ tích cực của phòng NN&PTNT
huyện đã mang lại thu nhập đáng kể cho nhiều hộ gia đình, mô hình nuôi này
còn góp phần vào cải thiện môi trường và cân bằng hệ sinh thái.
Tháng 5 năm 2011, ông Nguyễn Ngọc Ánh ở thôn 2 xã Bình Giang huyện
Thăng Bình đã được sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư tỉnh
Quảng Nam, Trạm Khuyến nông – Khuyến lâm Thăng Bình triển khai mô hình
nuôi cua thương phẩm trong ao đất. Mô hình nuôi cua đã đem lại hiệu quả kinh
thành phố Hội An.
Hình 2. Bản đồ hành chính thành phố Hội An –tỉnh Quảng Nam.
11
Tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố là 6.171,25 ha, phần diện tích đất liền
4.850 ha chiếm 73,50% (trong đó diện tích đất 3.669 ha và diện tích mặt nước
1.180,3 ha), diện tích hải đảo 1.654 ha chiếm 26,50%.
Hội An là nơi quy tụ của nhiều nhánh sông: hệ thống sông Cổ Cò, sông Đế
Võng ở phía Bắc, phía Nam là sông Trường Giang, phía Tây là sông Thu Bồn
với các chi lưu của nó và phía Đông là biển. Với cấu trúc hệ thống sông theo
kiểu mạng nhện đã chia cắt Hội An thành những mảnh đất nhỏ hình thành nên
các khu dân cư có đời sống kinh tế xã hội khác nhau và một vùng triều rộng lớn
thuận lợi cho NTTS.
Đặc điểm về vị trí địa lý, cấu trúc địa chất và lịch sử làm cho khí tượng- thủy
văn, địa hình, địa mạo của Hội An khá phong phú và đa dạng. Hội An vừa có đô
thị cổ, đô thị cũ, đô thị mới; vừa có đồng bằng; vừa có biển, có hải đảo tạo nên
nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào về lâm, thổ, hải sản...Phần lớn diện tích tự
nhiên của Hội An được bao bọc bởi hệ thống sông lớn nhỏ, mương lạch chằng
chịt và bị chia cắt bởi những bãi, nổng, trảng, dốc, cồn cát; những bàu, đầm, hói,
vũng, ao…và những rừng dừa nước.
2.4.2. Điều kiện tự nhiên
2.4.2.1.Điều kiện địa hình
Địa hình Hội An nhìn chung thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc
thoải trung bình 0,0150. Thành phố Hội An có hai dạng địa hình:
- Dạng địa hình đồng bằng:
Địa hình các vùng đồng bằng của Hội An chia thành ba vùng:
+ Vùng cồn cát: tập trung ở phía Tây Bắc, trải dài từ dốc Lai Nghi địa bàn
đông – đông nam và chế độ mưa. Nhiệt độ trung bình trong năm là 25,6oC, cao
nhất là 39,8oC, thấp nhất là 22,8oC.
c) Độ ẩm.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm vào khoảng 82%, cao nhất khoảng
90% và thấp nhất khoảng 75%.
d) Chế độ gió.
Hội An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, với chế độ gió có hai mùa khá
rõ, mùa mưa trùng với gió mùa Đông Bắc từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, mùa
khô trùng với gió mùa Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 9. Ngoài ra, trong năm còn
chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam khá mát, dễ chịu xen giữa các đợt gió Đông
Bắc cũng như gió Tây Nam.
e) Bão.
Bão ở Hội An thường xuất hiện vào các tháng 9,10,11 hàng năm; các cơn bão
thường kéo theo những trận mưa lớn gây lũ lụt toàn khu vực. Theo thống kê
13
nhiều năm thì số cơn bão đổ bộ vào Đà Nẵng, Hội An chiếm 24,4% tổng số các
cơn bão đổ bộ vào đất liền từ vĩ tuyến 17 trở vào.
f) Nắng.
Do nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa nên lượng bức xạ nhiệt ở Quảng
Nam nói chung và Hội An khá lớn. Số giờ chiếu nắng trung bình 2158 giờ/năm.
Các tháng mùa nóng có lượng bức xạ nhiệt khá lớn, số giờ nắng tháng cao nhât
248 giờ (vào tháng 5). Tháng có số giờ chiếu nắng ít nhất vào khoảng 12
giờ/tháng (vào tháng 12)
g) Chế độ thủy triều.
Chế độ sóng và dòng chảy cũng biến đổi theo chế độ gió mùa. Chế độ mực
nước sông Thu Bồn, Trường Giang, Đế Võng phụ thuộc vào chế độ thủy triều
lên xuống ngày hai lần (bán nhật triều); giữa kỳ nước cường và nước kém biên
độ triều chênh lệch không đáng kể (triều max= 1,4m, triều min= 0,00m). Về
biên độ rất lớn, cao độ lớn nhất của sóng lên đến 3,40 m ở khoảng cách 50 m so
với bờ biển, gây thiệt hại lớn cho vùng ven biển. Về mùa khô, do nước sông
xuống thấp, nước biển thâm nhập sâu vào lục địa gây mặn ảnh hưởng lớn cho
vấn đề dân sinh kinh tế .
2.4.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội
a) Đặc điểm kinh tế.
Tổng GDP của thành phố năm 2007 (theo giá trị thực) đạt: 1.249.708 triệu
đồng. Từ đó ta có thể biết được thu nhập bình quân đầu người của thành phố
(GDP/người) vào khoảng 14,74 triệu đồng. Và tốc độ tăng trưởng kinh tế là
11,73%. Từ đó cho ta thấy được kinh tế của thành phố Hội An đang phát triển
rất khả quan.
* Về sản xuất công nghiệp, nông nghiệp:
Nông nghiệp Hội An cơ bản là sản xuất lúa, bắp, rau quả và tôm mực, cá,
khai thác tổ yến. Hàng năm Hội An sản xuất 5.386 tấn lương thực tiêu dùng tại
chỗ. Xuất khẩu 13.000 tấn thuỷ sản trong đó 4.290 tấn hải sản. Mặt hàng xuất
khẩu thô sơ dạng bán nguyên liệu. Nghề nuôi trồng thuỷ sản có chiều hướng
phát triển tốt có thể phục vụ phát triển du lịch. Riêng ngành thuỷ sản đạt
277.550 triệu đồng năm 2007. Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên ven bờ có
thể dẫn đến phá vỡ sinh thái dưới biển, ảnh hưởng đến tài nguyên du lịch, thể
thao và thám hiểm biển. Trong sản xuất công nghiệp, trước đây, mặt hàng nổi
tiếng là dệt vải, chiếu cói, mành trúc, mộc (Kim Bồng), thảm len đã một thời
được khách hàng thị trường Đông Âu ưa chuộng; nay được bổ sung nhiều ngành
nghề có giá trị kinh tế cao.
* Về thương mại-dịch vụ:
Hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu tập trung vào hàng thuỷ sản gồm có: Yến,
cá, mực, tôm, vây cá, sản phẩm thủy sản đông lạnh, sò và các loại nhuyễn thể.
Hải sản và yến sào Hội An nổi tiếng ngon và quý giá. Thương mại phát triển. Du
15
phố cổ hoạt động có sáng tạo.
Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc được phát động và duy trì thường
xuyên. Quyết liệt trong chỉ đạo cũng như thực hiện công tác đảm bảo trật tự - an
toàn xã hội, giữ gìn môi trường xã hội trong lành. Duy trì công tác huấn luyện,
diễn tập và trực sẵn sàng chiến đấu. Có thể nói công tác an ninh- quốc phòng
được tăng cường vững mạnh.
16
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu
3.1.1. Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 2/1/2013 đến ngày 4/5/2013
3.1.2.Địa điểm nghiên cứu
5 xã NTTS của thành phố Hội An: Xã Cẩm Thanh, Cẩm Châu, Cẩm Nam,
Cẩm An và Cẩm Hà
3.2.Đối tượng nghiên cứu
Cộng đồng ngư dân năm phường Cẩm Thanh, Cẩm Châu, Cẩm Hà, Cẩm An
và Cẩm Nam, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
3.3.Nội dung nghiên cứu.
- Thu thập các tài liệu, dữ liệu từ các cơ quan, đơn vị, địa phương về điều
kiện tự nhiên, vị trí địa lý và điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội của các khu vực
NTTS.
- Điều tra khảo sát về hiện trạng nuôi trồng thủy sản ở thành phố Hội An (
về thời gian nuôi, đối tượng, hình thức nuôi, diện tích, sản lượng, tình hình dịch
bệnh, hiệu quả kinh tế ...)
17
18
19
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1.Đánh giá hiện trạng NTTS thành phố Hội An.
4.1.1.Diện tích NTTS từ năm 2005 đến năm 2012.
Khởi điểm vào năm 1983, nghề NTTS ở Hội An cũng đã có những biến động
lớn. Từ hình thức quảng canh đã chuyển sang bán thâm canh với đối tượng tôm
sú. Năm 2006, với chủ trương cho phép phát triển con tôm thẻ chân trắng bên
cạnh con tôm sú truyền thống với diện tích ban đầu là 0.4 ha. Đến nay diện tích
nuôi tôm thẻ chân trẳng ở Hội An đã tăng lên 141.7 ha trải đều trên 5 xã Cẩm
Thanh, Cẩm Châu, Cẩm An, Cẩm Hà và Cẩm Nam. Trong đó, xã Cẩm Thanh
chiếm diện tích nuôi lớn nhất 103 ha trong tổng số 182.7 ha.
Thuộc vùng hạ lưu sông Thu Bồn, vùng đất ngập nước của Hội An luôn chịu
sự tác động của thiên tai, bão lụt hằng năm làm biến đổi dòng chảy từ đó làm
thay đổi sinh cảnh, các yếu tố môi trường thủy vực. Các hoạt động khai thác
khoáng sản ở vùng thượng lưu, chất thải của một số xí nghiệp, cơ sở sản xuất,
dịch vụ ven sông Thu Bồn cũng có thể đã có những tác động đến môi trường
thủy vực NTTS. Đặc biệt các hoạt động dịch vụ phục vụ du lịch ở Hội An như
việc phát triển các nhà hàng, khách sạn ven sông cũng tác động rất lớn đến môi
trường NTTS nói riêng và thủy vực nói chung.
Những năm gần đây, NTTS là một thế mạnh của thành phố, đã giải quyết
việc làm cho hàng nghìn lao động ven biển. Tuy vậy, thực trạng sản xuất thời
gian qua cho thấy sự phát triển không bền vững của nghề này mà nguyên nhân
chủ yếu là do vấn đề ô nhiễm thủy vực. Bên cạnh đó việc thay đổi đối tượng
nuôi chính từ tôm sú sang tôm thẻ từ năm 2006 với hình thực bán thâm canh và
thâm canh cũng đã ẩn chứa nhiều rủi ro do việc phát thải chất thải.
Ở Cẩm Thanh là nơi có diện tích NTTS cao nhất của thành phố nhưng cũng
đã có sự suy giảm rõ rệt như: năm 2005 có khoảng 127 ha, đến năm 2012 còn
103 ha trong tổng số 182.7 ha nuôi tôm, diện tích nuôi tôm giảm là do việc sử
dụng đất phục vụ cho nhu cầu du lịch của thành phố.
Biểu đồ cho thấy được diện tích NTTS nói chung và diện tích nuôi tôm nói
riêng đạt đỉnh cao vào năm 2006, khi đối tượng tôm thẻ chân trắng mới bắt đầu
đưa vào nuôi tại thành phố. Tuy nhiên những năm gần đây, diện tích NTTS trở
nên bấp bênh, môi trường ngày càng ô nhiễm do các hoạt động du lịch, chất thải
từ một số xí nghiệp, nhà hàng, khách sạn ven sông Thu Bồn,... Bên cạnh đó thì
diện tích NTTS giảm một phần do dịch bệnh xuất hiện và dẫn đến sự thua lỗ của
người nuôi nên họ đã chuyển từ đất NTTS sang đất trồng trọt.
4.1.2.Sản lượng NTTS giai đoạn 2005 - 2012.
Nuôi trồng thủy sản là một thế mạnh của thành phố trong những năm qua, đã
có những đóng góp đáng kể vào GDP của thành phố. Sản lượng NTTS của
thành phố Hội An có tăng trong những năm gần đây. Sự tăng về sản lượng
NTTS trong những năm qua được thể hiện rõ qua biểu đồ sau:
600
500
400
Sản lượng chung
SL tôm
300
SL cua nuôi
200
SL khác
100
sản lượng và năng suất NTTS như vậy là do: UBND thành phố đã có một số quy
hoạch về vùng NTTS và một số phương pháp nuôi trồng hiệu quả đã được áp
dụng. Một số vùng nuôi trồng quảng canh đã đi vào thay đổi cơ cấu sản xuất
sang quảng canh cải tiến và phương pháp nuôi thâm canh và bán thâm canh.
Đây là một phương pháp nuôi trồng đạt hiệu quả cao.
Biều đồ cũng cho thấy rõ sản lượng tôm nuôi tăng cao trong những năm vừa
qua còn sản lượng của cua, cá và rong câu thì tăng không đáng kể. Sở dĩ có sự
khác nhau như vậy là do: chủ yếu diện tích nuôi trổng ở đây tập trung nuôi tôm
là chủ yếu kể cả tôm sú truyền thống và tôm thẻ chân trăng vì mang lại hiệu quả
kinh tế cao hơn. Còn các đối tượng khác như cá, cua và rong câu chủ yếu được
thả nuôi vào vụ phụ (vụ hai) hằng năm và xen ghép với tôm. Mặc khác khi
nuôi tôm người dân có đầu tư cao hơn về cơ sở vật chất, thức ăn, nguồn giống,
... còn nuôi cá, cua, rong câu thì ít có sự đầu tư hơn. Chẳng hạn như giống tôm
được kiểm dịch kỹ càng trước khi đưa vào nuôi còn giống cua, cá và rong câu
thì chủ yếu từ tự nhiên và không thông qua kiểm dịch.
4.1.3. Lao động tham gia NTTS.
Qua điều tra cho thấy được sự đa dạng về tuổi tác, trình độ học vấn, kinh
nghiệm nuôi tôm cũng như diện tích nuôi của mỗi người lao động. Một số đặc
điểm của người lao động thủy sản được trình bày ở các phần sau:
Về độ tuổi lao động:
Đa số người tham gia lao động ở đây đều có độ tuổi từ 40 trở lên chiếm đa
số. Hiện nay, thành phố đang có xu hướng thanh niên trẻ tham gia ngày càng
22
nhiều hơn vào NTTS , đó sẽ là thế mạnh về nguồn nhân lực cũng như tinh thần
lao động của thế hệ trẻ này, trong tương lai sẽ phát triển mạnh.
Do đa lao động tham gia NTTS thuộc độ tuổi trung niên cho nên đó là một
khó khăn trong việc tiếp thu kỹ thuật. Họ cho biết chỉ tham gia vào các khóa tập
23
Theo số liệu thống kê của Phòng Kinh tế - Hội An thì tỉ lệ lao động nam và
nữ là đồng đều nhau. Trong mỗi hội nuôi, nếu có một người nam tham gia
NTTS thì cũng sẽ có một người nữ tham gia. Điều này, chứng minh được vai trò
của người phụ nữ trong nuôi trồng thủy sản, họ càng tham gia nhiều vào lĩnh
vực này hơn.
Qua điều tra cho thấy được số năm kinh nghiệm NTTS của các chủ hộ nuôi
trung bình từ 3 đến 15 năm, trong đó mặt bằng chung của các hộ đều có số năm
kinh nghiệm từ 5 đến 10 năm như thế cho thấy rằng, nuôi trồng thủy sản của
thành phố thực sự phát triển trong những năm gần đây. Số hộ có kinh nghiệm từ
10 năm trở lên chiếm tỷ lệ trung bình. Mặc khác điển hình của nghề NTTS là
tay nghề, kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật do vậy người nuôi của thành phố sẽ
gặp rất nhiều khó khăn trong khâu quản lý, xử lý kỹ thuật và các vấn đề cần thiết
trong khâu nuôi. Phần lớn người nuôi phải tự tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm qua
sách báo và bạn cùng làm nghề nuôi trồng thủy sản vì thế hiệu quả sản xuất
chưa cao. Như vậy, việc tổ chúc các khóa tập huấn nhằm phổ biển những kinh
nghiệm nuôi giúp ích cho người nuôi và nâng cao được hiệu quả sản xuất, thu
lại lợi nhuận cao là việc là cần thiết.
Diễn biến lao động NTTS từ năm 2008 đến năm 2012:
Bảng 4.1: Diễn biến lao động thành phố Hội An
Địa phương
Cẩm An
Cẩm
Thanh
Cẩm
Nam
787
2010
43
57
551
12
124
787
2011
66
42
551
14
146
819
4.1.4. Nguồn nước cấp và biện pháp xử lý.
Qua số liệu điều tra cho thấy, 60% ao nuôi sử dụng chung nguồn nước cấp từ
sông Thu Bồn cấp vào ao nuôi, 40% còn lại sử dụng nguồn nước cấp vào từ
giếng khoang để cấp vào ao nuôi. Nhưng sau khi nuôi được thời gian khoảng
40-45 ngày thì bổ sung thêm nước sông vì nếu chỉ nuôi bằng nước giếng hoàn
toàn thì lượng khí độc trong ao sẽ tăng cao. Và nguồn nước thải từ ao nuôi thì
được thải trực tiếp ra sông vì vậy nếu nguồn nước chung này nhiễm mầm bệnh
hoặc các chất gây hại cho đối tượng nuôi thì sẽ dễ dàng lây lan sang diện rộng.
Nguồn nước tại thành phố tỷ lệ trung bình cao vì thế rất dễ xãy ra tình trạng
đối tượng nuôi bị nhiễm bệnh và cũng mới có vài hộ xử lý nước ban đầu cấp vào
ao nuôi. Việc cấp nước vào ao nuôi chủ yếu thông qua cống cấp thoát nước
chung. Chỉ có số ít hộ sử dụng máy bơm để cấp nước vào thì có sử dụng lưới lọc
ở đầu máy bơm nước, và chỉ có thể hạn chế được một phần mầm bệnh và tác
nhân gây bệnh có thể lây lan phát triển.
Nhìn chung, nguồn nước cấp vào ao nuôi được xử lý bằng vôi là chủ yếu.
Khoảng 66.08 % hộ nuôi sử dụng vôi để xử lý nước ao nuôi theo định kỳ, 33.92
% số hộ còn lại chỉ sử dụng vôi khi cần thiết. Về chế phẩm sinh học sử dụng
trong suốt thời gian nuôi thì có 64.62 % hộ sử dụng khi cần thiết, 18.97 % sử
dụng theo định kỳ và 16,41 % hộ không sử dụng. Và thuốc, hóa chất thì có
54.02 % hộ không sử dụng, 29.02 % hộ sử dụng khi cần thiết còn 16.96 % hộ sử
dụng theo định kỳ. Mức nước trung bình cho ao nuôi tôm từ 1.2 – 1.5 m, mực
nước thấp hơn so với yêu cầu nhưng luôn đảm bảo nhờ chế độ thay và cấp nước.
Nhiều hộ nuôi quản lý tốt môi trường ao nuôi nên quá trình nuôi chỉ cấp thêm
nước chứ không thay nước, giảm sự thay nước trong ao nuôi chứng tỏ trình độ
quản lý kỹ thuật tốt và như vậy sẽ tránh sự lây nhiễm và giảm thải nguồn nước
thải ra môi trường chung. Đặc biệt, đa số các hộ nuôi ở đây không sử dụng
kháng sinh nên nguồn nước cũng ít bị dư lượng kháng sinh. Nguồn nước ở đây
đang bị ô nhiễm do nguồn nước thải từ các khách sạn, nhà hàng (20%); khu dân
cư (80%); sản xuất nông nghiệp (75%); tàu thuyền neo đậu (10%).... Nguồn
nước bị ô nhiễm phần nào làm ảnh hưởng đến NTTS.