Nghiên cứu một số tập tính loài culi nhỏ (nycticebus pygmaeus) tại khu vực phía nam vườn quốc gia kon ka kinh – tỉnh gia lai - Pdf 56

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƢỜNG
____________________________

NGUYỄN KIM THÔNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TẬP TÍNH LOÀI
CULI NHỎ (Nycticebus pygmaeus) TẠI
KHU VỰC PHÍA NAM VƢỜN QUỐC GIA
KON KA KINH – TỈNH GIA LAI

Ngành: Quản lí tài nguyên và môi trƣờng

Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Nguyễn Ái Tâm

Đà nẵng – năm 2018


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................... IV
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................................. V
DANH LỤC HÌNH ẢNH ............................................................................................... VI
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ ............................................................................ VII
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT......................................................................................VIII
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................................ 3
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CULI TRÊN THẾ GIỚI .................................................. 3
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CULI TẠI VIỆT NAM ................................................... 4
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CU LI Ở VƢỜN QUỐC GIA KONKAKINH. ................... 5
1.4. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LOÀI CULI. ..................................................................... 5

3.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ BẢO TỒN CU LI TẠI KON KA KINH ....................................... 28
3.3.1. Săn bắt và buôn bán. ....................................................................................................... 28
3.3.2. Các hoạt động ảnh hưởng đến sinh cảnh .............................................................. 28
CHƢƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................ 29
4.1. KẾT LUẬN: ............................................................................................................. 29
4.1.1. Về vùng sống....................................................................................................................... 29
a. Nơi sống: ....................................................................................................................................... 29
b. Kích thước vùng sống: ............................................................................................................ 29
4.1.2. Về tập tính của loài: ......................................................................................................... 29
4.2. KIẾN NGHỊ: ............................................................................................................ 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 31
TIẾNG VIỆT ............................................................................................................... 31
TIẾNG ANH ................................................................................................................ 31
WEDSITE .................................................................................................................... 34
PHỤ LỤC ........................................................................................................................ 35

III
Nguyễn Kim Thông – 14CTM


Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả khóa luận ký và ghi rõ họ tên

IV
Nguyễn Kim Thông – 14CTM



Hình 1.2

Bản đồ VQG Kon Ka Kinh

9

Hình 3.1

Sinh cảnh sống của Cu li nhỏ tại VQG Kon Ka Kinh

13

Hình 3.2

Vùng sống của Cu li nhỏ

14

Hình 3.3

Kiểu di chuyển 4 chi tạo thành 4 cạnh

23

Hình 3.4

Kiểu đu, leo

24


Hình 3

Quan sát Cu li nhỏ tại khu nuôi nhốt VQG Cúc Phương

37

Hình 4

Quan sát Cu li nhỏ tại khu nuôi nhốt VQG Cúc Phương

37

VI
Nguyễn Kim Thông – 14CTM


DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Bảng 3.1

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Thời gian hoạt động của Cu li nhỏ tại VQG Kon Ka

Trang
15

Kinh
Bảng 3.2



Thu số liệu các hoạt động của Cu li ngoài tự nhiên

35

Biểu đồ 3.1

Hoạt động của Cu li tại VQG Kon Ka Kinh

17

Biểu đồ 3.2

So sánh tập tính tại hai khu vực

18

Biểu đồ 3.3

Các tập tính lấy thức ăn

19

Biểu đồ 3.4

Tập tính di chuyển của Cu li

22

VII

MỞ ĐẦU
Cu li là loài được Sách đỏ Việt Nam và thế giới xếp vào loài thú có nguy cơ tuyệt
chủng trong tương lai gần (V). Tuy nghị định 32 của chính phủ về quản lý thực vật
rừng - động vật rừng nguy cấp, quý hiếm xếp culi trong nhóm 1B, nhưng điều đó
không bảo vệ được loài này thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng. Cu li thuộc danh sách các
loài cần được bảo vệ của ngành lâm nghiệp (Phụ lục IB Nghị định 48/2002/NĐ-CP
ngày 22/4/2002 của chính phủ) [1].
Theo sách đỏ Việt Nam, Cu li thuộc bộ linh trưởng, sống trong nhiều sinh cảnh
rừng khác nhau, kiếm ăn ở những rừng thưa quang thoáng, trên các gốc cây, bụi rậm,
dây leo, bụi tre và sống đơn độc, lặng lẽ. Năm 2000, cùng Sách đỏ Việt Nam, Tổ chứ
quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) đã xếp culi vào độ
nguy cấp bậc V (có thể bị đe dọa tuyệt chủng) [1].
Vườn Quốc Gia (VQG) Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai là một trong những khu vực có
mức độ đa dạng sinh học cao, với nhiều hệ sinh thái đặc trưng, độc đáo. Vườn được
công nhận là Vườn di sản Asian, một trong các khu vực được ưu tiên bảo vệ của Việt
Nam. Đặc biệt VQG Kon Ka Kinh có sự đa dạng về các loài thú linh trưởng, trong đó
có các loài quý hiếm, nguy cấp như Vooc Chà Vá Chân Xám (Pygathix cinerea), Vượn
đen má hung (Nomascus annamesis), Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), khỉ mặt đỏ
(Macaca arctoides), khỉ đuôi lợn (macaca Leonia) [8] [9].
Hiện tại chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học, tập tính của
loài cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), tại VQG Kon Ka Kinh, tạo cơ sở cho các biện
pháp kĩ thuật bảo tồn loài này.Đặc biệt trước những tác động của con người như khai
thác lâm sản, chặt phá rừng làm nương rẫy đã và đang làm ảnh hưởng đến độ che phủ
rừng, thu hẹp nơi sống, và kiếm ăn của nhiều loài động vật hoang dã trong đó có Cu li.
Mặt khác tình trạng săn bắt, buôn bán chúng như loài động vật cảnh cũng là mối đe dọa
đến sự tồn tại của chúng ngoài tự nhiên.

1
Nguyễn Kim Thông – 14CTM


tranh để lại. Điều này đã góp phần làm cho số lượng động vật hoang dã nói chung và
Cu li nói riêng tại đây giảm mạnh qua những hoạt động chiến tranh trước và trong năm
1993, hoạt động khai thác gỗ, phá rừng, xây dựng đất nước sau 1993 (Baird, 1993)
[11].
Một nghiên cứu khác của Ulrike Streicher (2004) đã chỉ ra những hành vi cơ
bản của Cu li nhỏ tại Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp VQG Cúc Phương khi
chúng mới được đưa về. Nghiên cứu này đã chỉ ra được những thay đổi về màu lông,
cân nặng, thời gian ăn uống qua những mùa trong năm của Cu li nhỏ. Tuy nhiên, kết
quả của nghiên cứu này chỉ dừng lại ở những hành vi cơ bản của Cu li khi mới được
đưa về trung tâm, chưa đi sâu vào những tập tính cũng như chưa chỉ ra được những
điểm giống và khác nhau của Cu li khi ở khu nuôi nhốt và ngoài tự nhiên. Bên cạnh đó,
phạm vi hoạt động và lãnh thổ của Cu li cũng là một trong những vấn đề đáng để
nghiên cứu [30].
Năm 2002, Sindhu Radhakrishna đã quan sát và theo dõi Cu li tại khu vực phía
nam Ấn Độ trong suốt 21 tháng, kết quả đã chỉ ra được phạm vi lãnh thổ của Cu li thay
đổi theo từng thời điểm, từ lúc nhỏ, lúc cai sửa, đến lúc bán trưởng thành và trưởng
thành. Việc quan sát và theo dõi 16 cá thể trong 2261 giờ đã chứng minh được lãnh thổ
của Cu li được chia làm 2 phần, phần lõi là nơi ngủ nghỉ của chúng và phần hoạt động
3
Nguyễn Kim Thông – 14CTM


là phần bên ngoài tiếp giáp với vùng lõi. Phạm vi lãnh thổ của từng cá thể có thể chồng
lên nhau, nhưng không chồng lên phần lõi. Điều này có nghĩa các cá thể Cu li có thể sử
dụng chung 1 lãnh thổ để kiếm ăn, trao đổi các tập tính xã hội tuy nhiên chúng không
bao giờ xâm phạm đến vùng lõi của nhau. Ngoài ra, Sindhu Radhakrishna cũng đã chỉ
ra được lãnh thổ trung bình của cá thể Cu li đực có thể lên đến 1ha, trong khi cá thể cái
có phạm vi lãnh thổ nhỏ hơn. Sự chồng chéo lên lãnh thổ của nhau cũng có sự thay đổi
giữa đực và cái [28].
1.2.

Văn Tiến đã thu được 1 mẫu Culi có những đặc điểm tương đối khác với hai loài đã
được biết là Culi lớn và Culi nhỏ. Ông đã nghiên cứu và so sánh sự khác biệt về các
đặc điểm sọ, màu long và kích thước cơ thể của mẫu này với các mẫu Cui đã được
nghiên cứu từ trước đó. Dựa vào những khác biệt cụ thể các răng hàm, số đo cơ thể ở
dạng trung gian và màu lông ánh bạc, ông đưa ra quan điểm cho rằng nó là loài mới.
Những nghiên cứu này của GS. Đào Văn Tiến được công bố trên tạp chí động vật học
Đức, ông đặt tên khoa học cho loài Culi này là Nycticebus intermedius.
1.3.

Tình hình nghiên cứu Cu li ở vƣờn quốc gia KonKaKinh.

Hiện tại chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về loài Culi ở VQG KonKaKinh, chỉ
có các cuộc điều tra đánh giá đa dạng sinh học chung, đáng chú ý có: Cuộc điều tra vào
tháng 1 năm 1993 do cán bộ của Viện điều tra Quy hoạch rừng và Cục Kiểm lâm thực
hiện. Cuộc điều tra xây dựng danh lục động thực vật hoang dã năm 2001 do Viện sinh
thái Tài nguyên Sinh vật thuộc Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam thực hiện.
Những kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy VQG KonKaKinh hiện đang có 3 họ và
7 loài linh trưởng trong đó có loài Culi [6] [8].
Việc nghiên cứu Culi trên thực địa rất khó khăn, bởi chúng là loài thú hoàn toàn
sinh hoạt trong đêm và rất nhút nhát. Một số địa phương gọi chúng là con Cù lần và họ
cho rằng bắt gặp chúng không đem lại may mắn trong chuyến đi rừng của họ.
1.4.

Giới thiệu chung về loài Culi.
Culi (Lorisidae) gồm có 2 loài: Culi lớn (Nycticebus bengalensis) và culi nhỏ

(Nycticebus pygmaeus). Theo ghi nhận từ các nghiên cứu thì VQG Kon Ka Kinh gồm
có cả hai loài Cu li. Ở một số địa phương người ta gọi nó là khỉ gió, cù lần, con xấu
hổ. Chúng có đặc điểm chung là đầu tròn, mõm dài, chi 5 ngón, ngón cái có vuốt thích
nghi với đời sống trên cây, khả năng cầm nắm tốt. Não phát triển, thùy khứu giác bé,

mắt có vòng tròn lông màu nâu vàng. Có hai dải lông màu nâu sẫm chạy từ đỉnh đầu
xuống trên hai mắt. Từ hai gốc tai có hai vệt rộng màu nâu đỏ chạy từ trên đỉnh đầu và
nối với nhau. Lông mềm mại, màu hung nâu xen kẽ ít lông trắng bạc, đặc biệt là tai của
6
Nguyễn Kim Thông – 14CTM


chúng thường không có lông hoặc lớp lông mỏng có thể nhìn thấy da (đây là đặc điểm
dễ để phân biệt với Cu li lớn). Dọc sống mũi có vệt trắng. Dọc sống lưng không có vệt
lông hoặc rất mờ, bụng trắng vàng ánh bạc. Răng hàm thứ hai lớn hơn răng hàm thứ
nhất. Ngón chân thứ 2 có vuốt, các ngón chân khác có móng. Con cái trưởng thành sau
9 tháng, con đực sau 17 - 20 tháng. Thời gian mang thai kéo dài 188 ngày. Mùa sinh
sản vào tháng 10 đến tháng 12. Mỗi lứa đẻ 1 - 2 con. . Thức ăn cơ bản giống Cu li lớn
là quả, lá cây, côn trùng. Hoạt động về đêm, leo trèo là chính, chuyển động nhanh hơn
loài Cu li lớn. Thường sống đơn độc Chúng sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau,
thích nghi với điều kiện rừng thưa, thoáng, trên các gốc cây, bụi rậm, ven rừng, trên
nương rẫy.
Hiện trạng bảo tồn và phân bố:
Ngay từ những năm 50 của thế kỷ 20, việc bảo vệ các loài linh trưởng đã được
quan tâm ở Việt Nam và việc săn bắn các loài này đã được nghiêm cấm trên toàn lãnh
thổ, một số văn bản liên quan đến bảo tồn culi có thể kể đến như nghị định 36 CP ngày
5/4/1936, Quy định số 276/QĐ ngày 2/6/1989, Nghị định 18-HĐBT ngày 17/1/1992,
Nghị định 48/2002/NĐ-CP, Việc ra đời nhiều hu bảo tồn và Vườn quốc gia từ những
năm 1962 trờ lại đây cũng thể hiện rõ sự quan tâm của Việt Nam đến việc bảo tồn giá
trị đa dạng sinh học.
Sách đỏ Việt Nam, 2000 và IUCN xếp hai loài Culi lớn và Culi lùn vào độ nguy
cấp bậc V (Vulnerable) – có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng trong tương lai gần. Còn loài
Cu li nhỡ chưa có tên trong Sách đỏ. Những hiểu biết về loài culi ngoài thiên nhiên còn
rất hạn chế, chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về chúng mà chỉ là kết hợp trong
những chuyến khỏa sát về linh trưởng nói chung.

Kon Ka Kinh đã có tên trong danh sách các Khu rừng đặc dụng để bảo tồn rừng cây hạt
trần với tổng diện tích 28.000 ha. Năm 1999, Kon Ka Kinh được công nhận là Khu bảo
tồn thiên nhiên với tổng diện tích mở rộng tới 41.780 ha. Ngày 25/11/2002, Thủ tướng
Chính phủ đã ký Quyết định số 167/2002-QĐ-TTg chuyển Khu bảo tồn thiên nhiên
Kon Ka Kinh thành Vườn quốc gia. Ngày 18/12/2003, Vườn quốc gia Kon Ka Kinh
9
Nguyễn Kim Thông – 14CTM


cùng với 3 Vườn quốc gia khác của Việt Nam (Chư Mom Ray, Ba Bể, Hoàng Liên) và
27 Vườn quốc gia khác của Đông Nam Á, được công nhận là Vườn di sản Asian.
VQG Kon Ka Kinh đang bảo tồn rất nhiều loài động vật, thực vật, rừng đặc trưng
còn khá nguyên vẹn. Đặc biệt ở đây còn lưu giữ được hơn 2.000 ha rừng hỗn giao rừng
cây lá rộng với rừng cây lá kim đặc trưng với nhiều loài cây có giá trị quý và hiếm như
Pơ mu, Chò đỏ, Kim giao.
VQG Kon Ka Kinh đã ghi nhận được 1.022 loài thực vật bậc cao có mạch, 566 loài
động vật (thú, chim, bò sát, ếch nhái, cá, động vật không xương sống, côn trùng,
bướm…) trong đó có 22 loài thực vật, 47 loài động vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam
(2007), Danh lục Đỏ thế giới (2012), và 16 loài đặc hữu của Việt Nam.
Vườn quốc gia cũng là nơi bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái, kho lưu trữ vô giá các
loài động thực vật quý hiếm của rừng núi Tây Nguyên và Việt Nam như loài Chà vá
chân xám (Pygathrix cinerea) - loài đặc hữu, quần thể lớn nhất ở Việt Nam, Vượn đen
má hung (Nomascus annamensis).

10
Nguyễn Kim Thông – 14CTM


CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng:

Jeanne Altmann (1974) [10] [13] [14].
+ Hệ thống các tập tính nghiên cứu (phụ lục)
Ngoài thực địa: Sử dụng phương pháp quan sát focal-sampling với khoảng cách
đều 15-30 giây của Altmann (1974). Với thời gian quan sát 10h ngoài tự nhiên. Số liệu
được ghi chép theo bảng thu số liệu (phụ lục). [10]
Trong khu nuôi nhốt: tiến hành quan sát các cá thể Culi được nuôi nhốt tại
Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp (EPRC) VQG Cúc Phương, thông qua quat sát
trực tiếp, nhằm có số liệu so sánh với tập tính của loài ngoài tự nhiên.
Sử dụng phương pháp focal-sampling (Altmann, 1974) để thu thập số liệu tập tính. Số
liệu được ghi chép theo bảng (phụ lục). Với thời gian quan sát: 40h trong khu nuôi
nhốt.
2.4.4. Phƣơng pháp xử lí số liệu:
Các số liệu thu thập được thống kê và phân tích bằng chương trình thống kê Excel, bản
đồ được chỉnh sửa bằng chương trình MapInfo 11.0.

12
Nguyễn Kim Thông – 14CTM


CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN
3.1. Vùng sống của Culi tại VQG Kon Ka Kinh.
3.1.1. Nơi sống của Cu li nhỏ.
Khu vực phía Nam VQG Kon Ka Kinh có diện tích rừng tự nhiên khoảng
21.000 ha. (28,13%); thuộc các kiểu rừng lá rộng thường xanh, rừng hỗn giao, rừng
rồng, rừng tre nứa, trảng cây bụi, cây cỏ cao khô. Với đô cao trung bình từ 800 –
1500m.
Qua khảo sát thấy Culi nhỏ thường sinh sống tại các khu vực có độ dốc thấp, độ
cao tự nhiên từ 800 – 1.300m.

Hình 3.1. Sinh cảnh sống của Culi nhỏ tại VQG Kon Ka Kinh

thời gian bắt gặp và quan sát loài Culi nhỏ hơn 10 giờ.
Qua hơn 10 giờ quan sát hoạt động của Culi nhỏ ngoài tự nhiên, đã ghi nhận được
một số tập tính của Culi nhỏ như: Ăn; nghĩ, di chuyển, và một số tập tính khác tại khu
vực phía Nam VQG Kon Ka Kinh, kết quả được thể hiện qua bảng 3.3.
Bảng 3.1. Thời gian hoạt động của Cu li tại VQG Kon Ka Kinh
Hoạt động

Di chuyển

Thời gian hoạt

Số lần

động (giây)

quan sát

3810

173

Tỷ lệ

10,52
%

Nhìn cảnh giới

6280



15
Nguyễn Kim Thông – 14CTM


Ăn

12680

577

35,03
%

Tổng cộng

36200

1646

100%

Việc quan sát tập tính của Cu li ngoài tự nhiên rất khó vì Cu li thuộc loài linh
trưởng hoạt động về đêm và sống đơn độc (Fitch – Snyder, 2000).
Với hơn 10 giờ quan sát ngoài thực địa taị VQG Kon Ka Kinh, đã ghi nhận
được các hành vi cơ bản của Cu li. Trong đó hoạt động ăn chiếm tỉ lệ cao nhất
(35,03%), ngủ cũng chiếm tỉ lệ (22,3%), nhìn cảnh giới (17,35%), di chuyển chiếm
(10,52%), các hoạt động khác chiếm (9,78%), chiếm tỉ lệ thấp nhất hoạt động chải
chuốt (5,03%).
Tổng số giờ quan sát được chia ra các khoảng khác nhau, chúng tôi bắt gặp 3

Nhìn cảnh giới
Ngủ
Chải chuốt
Hoạt động khác

10%

22%

Ăn

5%

Biểu đồ 3.1. Hoạt động của Cu li tại VQG Kon Ka Kinh
So sánh các hoạt động tập tính của loài Culi nhỏ Tại VQG Kon Ka Kinh với
Khu nuôi nhốt EPRC tại VQG Cúc Phương cho thấy: Ngoài tự nhiên, với việc hoạt
động về đêm và ít chịu tác động của những loài khác. Vì thế Cu li dành nhiều thời gian
để ăn và ngủ, các hoạt động như di chuyển và nhìn cảnh giới không chiếm nhiều thời
gian. Tại khu nuôi nhốt, phạm vi hoạt động không lớn, bên cạnh đó, có nhiều tác động
của con người cũng như những loài linh trưởng khác. Khi đó, Cu li rơi vào tình trạng
“stress”, chúng di chuyển liên tục và thường xuyên nhìn ngó xung quanh. Bênh cạnh
đó, tại khu nuôi nhốt, lượng thức ăn dồi dào, chúng không cần phải lo việc tìm kiếm
thức ăn nên thời gian ăn cũng không chiếm quá nhiều thời gian như ở ngoài tự nhiên.
(bảng 3.2).
Bảng 3.2. Hoạt động của Culi trong 40 giờ tại Khu nuôi nhốt VQG Cúc Phương
Hoạt động

Thời gian hoạt động (giây)

Tỷ lệ (%)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status