BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------------
BÙI KIỀU HƯNG
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
TRỒNG SA NHÂN TÍM (Amomum longiligulare T.L.Wu)
TẠI KHU VỰC VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ NGÀNH: 62.60.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. VÕ ĐẠI HẢI
HÀ NỘI - 2012
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.L.Wu), thuộc chi Amomum Roxb, họ
Gừng Zingiberaceae, là một trong những cây thuốc quí, có giá trị kinh tế cao được
người dân biết đến và sử dụng từ lâu đời. Đồng thời là nguồn dược liệu phục vụ nhu
cầu trong nước và xuất khẩu. Đây là vị thuốc được dùng nhiều trong các bài thuốc y
vào trồng ở đây là giải pháp mang tính đột phá nhằm góp phần chuyển dịch cơ cấu
cây trồng theo hướng trồng cây LSNG có giá trị kinh tế cao, góp phần xóa đói giảm
nghèo và phát triển kinh tế địa phương.
Tuy nhiên, lỗ hổng ở đây chính là kỹ thuật trồng thâm canh Sa nhân tím như:
Độ tàn che thích hợp; chế độ bón phân; mật độ số nhánh Sa nhân/m2; chế độ chăm
sóc hàng năm (làm cỏ, cắt bỏ nhánh già, tỉa thưa điều chỉnh mật độ, điều tiết độ tàn
che,...); phòng trừ sâu bệnh hại, phòng chống động vật ăn quả Sa nhân như: Chồn;
Sóc, Chuột... là những vấn đề hiện nay chưa được giải đáp cụ thể sao cho phù hợp
nhất với sinh thái vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì. Chính vì vậy, cần phải nghiên
cứu để xây dựng và hoàn chỉnh hướng dẫn kỹ thuật trồng Sa nhân tím cho năng suất
cao.
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Bước đầu nghiên cứu một số biện pháp kỹ
thuật trồng Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.L.Wu) tại khu vực vùng đệm
Vườn Quốc gia Ba Vì ” được đ t ra là rất cần thiết, có
ngh a lớn cả về l luận và
thực tiễn.
Luận văn đã kế thừa và có bổ sung một số nội dung từ đề tài cấp Thành phố
“Nghiên cứu kỹ thuật trồng thâm canh cây Sa nhân tím (Amomum longiligulare
T.L.Wu) tại một số xã vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội”; do chính tác giả
làm chủ nhiệm đề tài.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
1.1.1. Giá trị và công dụng
Như vậy, hiện đã có 3 loài Sa nhân được đưa vào trồng thêm ở các nước Lào
và Trung Quốc thì có loài Sa nhân tím (Amomum longiligulare) được quan tâm
nghiên cứu nhiều nhất.
1.1.3. Nơi trồng và điều kiện sinh thái
Tất cả các loài Sa nhân được trồng ở Lào và Trung Quốc trên đây đều có
nguồn gốc từ cây mọc tự nhiên và đều trồng được ở vùng nhiệt đới. Nơi trồng là
vùng núi có độ cao từ 350 m đến 1000m [1]. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng
tốt, đối với loài A. villosum trồng ở Trung Quốc từ 22 - 28oC.
* Mật độ trồng:
Theo Catherine Aubertin (2004) [25], giống Sa nhân (A.villosum var.
xanthioides) trồng ở Phông Sa Lỳ (Lào) ước tính có mật độ vào khoảng trên dưới
10.000 cây/ha.
* Chăm sóc và sản lượng:
Trong những tài liệu về trồng Sa nhân ở nước ngoài hiện có thấy chỉ có một
tài liệu đề cập tương đối toàn diện về các khâu chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu
bệnh đối với loài Sa nhân A. villosum trồng ở Trung Quốc.
Về chăm sóc, đáng chú trọng nhất là làm cỏ 2 - 3 lần/năm, nhưng trước mùa
đông, cỏ dại được giữ lại phủ đất đề phòng có sương, tuyết. Bên cạnh đó, bón phân
được coi là biện pháp thâm canh quyết định đến năng suất Sa nhân trồng, có thể
tăng thêm từ 20 đến 50%. Phân bón gồm: phân chuồng mục, supe phốt phát và phân
đạm bón trước vụ hoa.
Ngoài ra, các tác giả của công trình này còn khuyến cáo việc điều tiết độ tàn
che luôn đảm bảo khoảng 50%. Loài Sa nhân A. villosum trồng ở Trung Quốc chưa
phát hiện sâu bệnh hại trên diện rộng. Rải rác có sâu xám cắn cây non, động vật
g m nhấm ăn quả già, cách phòng trừ bằng thuốc sâu. Do đây là công trình từ
5
những năm 1960 của thế kỷ trước nên các loại thuốc trừ sâu được đề cập, nay không
6
Quả hình cầu ho c hơi hình trứng, đường kính 1,3 – 2 cm, dài 1,5 – 2,5 cm,
m t ngoài có gai ngắn, mềm, màu tím, chia 3 ô, hạt đa dạng, có áo hạt nếm có vị
ngọt, đường kính 3 – 4 mm. Toàn cây và quả vò nát có mùi thơm.
* Các thông tin khác về thực vật
Chi Amomum Roxb. ở Việt Nam có khoảng 30 loài, trong đó có một số loài
mà quả của nó được thu hái, sử dụng với tên gọi chung là “sa nhân”. Đó là: (i)Amomum villosum Lour, (ii)- A. ovoideum Pierre ex Gagnep, (iii)- A. thyrsoideum
Gagnep, (iv)- Sa nhân tím (A. longiligulare T. L. Wu) kể trên.
Cả 4 loài này, đều có các đ c điểm hình thái bên ngoài của cây, cụm hoa và
quả tương đối giống nhau. Đ c điểm dễ nhận biết duy nhất là lá bẹ của sa nhân tím
(A. longiligulare T.L.Wu) dài hơn nhiều (1,5 – 3,0 cm) so với lá bẹ của 3 loài kia
(thường chỉ dài dưới 1,0 cm).
* Phân bố
Ở Việt Nam:
Quảng Nam (các huyện Đông Giang, Tây Giang, Trà My); Quảng Ngãi (Ba
Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng, Sơn Tây, Đức Phổ); Bình Định (V nh Sơn, Vân Canh); Phú
Yên (Sông Hinh, Sơn Hoà); Khánh Hoà (Khánh Sơn, Khánh V nh); Kon Tum (Sa
Thầy); Gia Lai (K’ Bang, An Khê); Đắk Lắk (M’ Đrắk, Krông Bông, Krông Năng);
Thuộc Miền Bắc mới chỉ thấy ở Thanh Hoá (Quan Hoá); Phú Thọ (Yên Lập). Ngoài
ra, cây được trồng ở một vài địa phương khác [29].
Trên thế giới: Trung Quốc (Hải Nam) và Lào.
* Đặc điểm sinh học
Sa nhân tím là cây ưa ẩm, hơi chịu bóng ho c có thể trở nên ưa sáng khi đã
phát triển thành các quần thể nhỏ, dày đ c trên các nương rẫy cũ. Cây thường mọc
thành đám ở ven rừng kín thường xanh nguyên sinh hay đã thứ sinh, nhất là dọc
theo hành lang các khe suối; độ cao 450 – 700 m. Nhìn vào Phân bố sa nhân tím ở
Việt Nam cho thấy, cây mọc tự nhiên chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, từ Quảng Nam
trở vào đến Bình Thuận. Những tỉnh Tập trung nhiều sa nhân tím phải kể đến:
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai và Đắk Lắk.
Tổng số đã có 4 loài Sa nhân được đưa vào trồng thử nghiệm ở các qui mô
khác nhau:
- Sa nhân tím (Amomum longiligulare).
- Sa nhân đỏ (Amomum villosum).
- Sa nhân hoa thưa (A. thyrsoideum).
- Sa nhân thân cao (A. ovoideum).
8
Theo tác giả Trương Văn Châu, 2007 [5], đã lựa chọn loài Sa nhân tím để
nghiên cứu trồng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và đã cho kết quả khả quan.
Cẩm nang ngành lâm nghiệp, chương Lâm sản ngoài gỗ [3], đã thống kê có
15 loài Sa nhân được thấy ở Việt Nam, nhưng có 3 loài được chọn để trồng trên
diện rộng đó là:
- Sa nhân xanh - Amomum xanthoides
- Sa nhân đỏ Amomum villosum
- Sa nhân tím - Amomum longiligulare
Nguyễn Tập, Phạm Thanh Huyền, Lê Thanh Sơn [21], [28], đã nghiên cứu
trồng Sa nhân tím ở Quân Chu, Đại Từ - Thái Nguyên, nhóm nghiên cứu của Viện
Dược liệu đã phát hiện trong quần thể trồng 2,09 ha ở đây, cùng một loài A.
longiligulare có 2 dạng quả: quả tròn và hơi dài. Loại quả tròn (to) được người thu
mua ưa chuộng hơn loại quả dài ho c tròn nhỏ (theo Trần Phi Hùng - Công ty Cổ
phần Dược liệu TW I Hà Nội). Đây là một vấn đề mới phát hiện nhưng chưa có
điều kiện để nghiên cứu rõ hơn.
Điều kiện tự nhiên của vùng trồng: Theo Nguyễn Tập (2007) [22], thì Sa nhân
tím trồng được ở vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm. Nhiệt độ trung
bình tháng trong năm từ 23 - 27oC; lượng mưa trung bình 1500 - 2800 mm/năm và
độ ẩm không khí trung bình trên 80%. Sa nhân tím có thể trồng được ở nhiều nơi từ
vùng núi thấp (độ cao dưới 700m) đến vùng Trung du và ở cả đồng bằng. Đất để
huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên chỉ sau 18 tháng đã ra hoa quả lứa đầu. Trong khi đó
ở các lô nghiên cứu bên cạnh xen với cà phê thì sau 30 tháng tuổi cây mới ra hoa
quả lứa đầu. Còn mô hình trồng Sa nhân tím ở vườn gia đình sau 30 tháng tuổi vẫn
chưa thấy ra hoa.
Trong đó Bùi Kiều Hưng (2011) [9], kết quả trồng thâm canh Sa nhân tím tại
Ba Vì, sau 6 tháng tuổi, tỷ lệ sống đạt trên 90%, trung bình mỗi bụi có từ 7 - 10 cây.
Áp dụng kỹ thuật bón phân, chăm sóc, điều tiết độ tàn che... sau 12 tháng tuổi
trung bình chiều cao đạt trên 100 cm, số nhánh trung bình hơn 20 nhánh/bụi, cây đã
bắt đầu có hiện tượng ra hoa [9].
1.2.4. Kỹ thuật trồng, chăm sóc và những yếu tố cấu thành năng suất
* Về giống:
10
Theo Nguyễn Tập, Nguyễn Chiều và cộng sự (1995) [20], có đề cập tới cây
con gieo từ hạt đem trồng sau 12 tháng tuổi có tốc độ đẻ nhánh nhiều hơn 50% so
với cây trồng bằng nhánh con sau cùng một thời gian trồng.
Nguyễn Thanh Phương (2010) [16], xử l hạt bằng cách ngâm vào nước ấm
khoảng 50 - 550C (2 sôi + 3 lạnh); ngâm từ 7-8 giờ sau đó vớt ra, hong cho ráo hạt
và đem gieo vào đất sau 15 ngày hạt nhú mầm, sau 25 ngày hạt mọc đều. Thời gian
từ lúc nẩy mầm đến khi kết thúc quá trình nẩy mầm khoảng 20 ngày, sau từ 4 - 9
tháng tuổi cây có thể trồng được.
Cũng theo Nguyễn Thanh Phương (2009) [15], Kết quả tuyển chọn xuất sứ
giống Sa nhân tím cho năng suất cao, chất lượng tốt tại huyện KBang, tỉnh Gia Lai
đã khẳng định sau 18 tháng tuổi cả 4 suất sứ Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Định và
Gia Lai đều cho quả bói và năng suất khô của năm đầu tiên từ 2,1 – 26,8 kg/ha,
trong đó giống sa nhân tím có xuất xứ Bình Định cao nhất với năng suất 26,8 kg/ha.
Một lần nữa Nguyễn Thanh Phương (2011) [17], khẳng định sau 18 tháng Sa nhân
tím của xuất xứ Bình Định là 14,7 chồi/bụi, cao hơn xuất sứ Khánh Hòa chỉ đạt 12,8
* Các yếu tố cấu thành năng suất:
Trong các nghiên cứu trồng Sa nhân tím ở Việt Nam, vấn đề này còn ít được
đề cập.
Về nhân tố ánh sáng, hầu hết các tác giả có công trình công bố đều cho rằng
Sa nhân tím là cây hơi ưa bóng. Vì vậy, khi trồng cần có độ tàn che nhất định. Nếu
trồng xen ở rừng tự nhiên nghèo kiệt, độ tàn che cần thiết là 0,5 - 0,6 (Nguyễn
Thanh Phương (2006) [14], và Nguyễn Ngọc Đạo (2006) [7]). Trong những nghiên
cứu của Nguyễn Tập, Nguyễn Chiều và cộng sự (1995) [20], và Nguyễn Tập và
cộng sự (2007) [21], [28], thì lại cho rằng độ tàn che thích hợp để Sa nhân tím sinh
trưởng phát triển tốt là 0,1 - 0,3, cho cả loại hình rừng trồng, rừng tự nhiên và đất
sau nương rẫy có chừa lại cây che bóng. Ngoài ra, cũng trong báo cáo về trồng Sa
nhân tím trên đất sau nương rẫy ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên,
Nguyễn Tập và cộng sự (2007) [21], [28], còn đưa ra nhận xét: Khi Sa nhân tím đã
phát triển thành đám dày đ c, trên diện tích tới gần 1000m2 m c dù không có cây
che bóng.
Tương tự như vậy, hầu hết các tác giả nghiên cứu trồng Sa nhân tím ở nước
ta đều chưa đề cập tới chế độ bón phân, chế độ chăm sóc, tỉa thưa,... Khi cây trồng
đã đạt tới độ ổn định - ngh a là từ năm tuổi thứ 3 trở đi. Trong khi đó, mới chỉ qua 2
năm nghiên cứu, Nguyễn Thanh Phương (2006) [14], đã đưa ra những con số về
năng suất ở năm thứ 2 là 45,1 kg quả khô/ha/năm ở mô hình trồng Keo (1) và 16,4
12
kg quả khô/ha/năm ở mô hình rừng tự nhiên nghèo (2). Ngoài ra, tác giả còn cho
biết từ năm thứ 3 trở đi sẽ tăng lên 2,25 - 3,96 lần so với năm thứ 2 ở mô hình (1) và
tương tự như vậy là 4,73 - 8,46 lần ở mô hình (2). Còn theo Nguyễn Ngọc Đạo
(2006) [7], Sa nhân tím trồng dưới tán rừng tự nhiên ở Bình Định sau 3 năm đã cho
năng suất 200 kg quả khô/ha/năm. Ngoài ra, một chuyên đề về Sa nhân tím, Nguyễn
Tập (2007) [22], cũng đưa ra dự đoán năng suất Sa nhân tím trồng thuần loại sau
không nhỏ đối với người dân sống ở vùng nông thôn miền núi, đ c biệt là những hộ
gia đình nghèo, những hộ gia đình có nhiều diện tích đất chưa được canh tác một
cách hiệu quả.
1.3. Nhận xét và đánh giá chung
Điểm qua kết quả các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy:
- Sa nhân tím là loài LSNG đem lại giá trị kinh tế cao, có tác dụng dược lý,
công dụng làm thuốc và đã được gây trồng ở nhiều nơi trên thế giới và một số tỉnh
ở nước ta.
- M c dù Sa nhân tím đã được trồng thử nghiệm tại một số tỉnh nói trên ở
Việt Nam và bước đầu đã cho kết quả, nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu trồng
tại khu vực Ba Vì. Trong khi đó tại vùng đệm VQG Ba Vì thuộc khu vực Hà Nội
có diện tích đất vườn đồi và đất sau nương rẫy, đất rừng được giao khá lớn 18.000
ha/35.000 ha diện tich đất tự nhiên, nhưng vẫn chưa có tài liệu nào hướng dẫn về
trồng Sa nhân tím tại khu vực này.
- Đúc kết từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả kể trên, để khắc phục
những tồn tại của các công trình đã nghiên cứu và đạt được mục tiêu đ t ra, đề tài
đã tập trung bước đầu nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng Sa nhân tím tại Ba
Vì, Hà Nội thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng, tiến hành nghiên cứu trên hai dạng
lập địa khác nhau là đất vườn đồi và đất sau nương rẫy bằng biện pháp kỹ thuật
trồng thâm canh với mục tiêu để bước đầu xác định được kỹ thuật trồng Sa nhân
tím phù hợp với điều kiện khu vực Ba Vì làm cơ sở xây dựng hướng dẫn kỹ thuật
trồng Sa nhân tím có năng suất cao.
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Bước đầu nghiên cứu một số biện pháp kỹ
thuật trồng Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.L.Wu) tại khu vực vùng đệm
Vườn Quốc gia Ba Vì” được đ t ra là rất cần thiết và có ngh a.
14
Chƣơng 2
15
2.3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của Sa nhân tím
+ Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân trồng Sa nhân tím trên đất vườn
đồi.
+ Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân trồng Sa nhân tím trên đất sau
nương rẫy.
2.3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của độ tàn che đến sinh trưởng của Sa nhân tím
+ Nghiên cứu xác định độ tàn che thích hợp trồng Sa nhân tím trên đất vườn
đồi.
+ Nghiên cứu xác định độ tàn che thích hợp trồng Sa nhân tím trên đất sau
nương rẫy.
2.3.4. Bước đầu đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh Sa nhân
tím
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài
- Nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn, đ c điểm sinh thái của loài và điều kiện tự
nhiên - kinh tế xã hội, đ c biệt là quỹ đất đã được giao cho người dân để thấy rõ
được tiềm năng, thế mạnh trong sản xuất nông lâm nghiệp của địa phương và nhu
cầu ngày càng cao của người dân về việc đưa những loài cây đ c sản có giá trị kinh
tế cao vào gây trồng và lựa chọn cây Sa nhân tím để phát triển kinh tế hộ gia đình.
- Thông qua làm việc, thảo luận trao đổi kinh nghiệm để khắc phục những
hạn chế và giúp người dân tiếp thu được kỹ thuật mới về trồng Sa nhân tím
- Theo dõi đánh giá các thí nghiệm nghiên cứu kỹ thuật trồng thâm canh cây
Sa nhân tím với các nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất quả Sa nhân là
mật độ trồng, phân bón và độ tàn che. Kết quả nghiên cứu sẽ được thử nghiệm và
chuyển giao cho người dân thông qua thảo luận và xây dựng mô hình. Các bước
tiến hành như sau:
Nghiên cứu
ảnh hưởng
của độ tàn
che đến sinh
trưởng của
Sa nhân tím
Phân tích, đánh giá mô
hình
Đề suất biện pháp kỹ
thuật trồng Sa nhân tím
Hình 2.1: Sơ đồ các bƣớc giải quyết vấn đề của đề tài
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.2.1. Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu
Để rút ngắn thời gian nghiên cứu, luận văn đã kế thừa một phần kết quả
nghiên cứu của đề tài cấp thành phố, số liệu đã có về đ c điểm sinh l , sinh thái loài
Sa nhân tím; số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thổ nhưỡng, khí hậu thủy
17
văn của một số xã vùng đệm VQG Ba Vì tại UBND các xã Yên Bài và Ba Vì;
phòng thống kê huyện Ba Vì, trạm khí tượng thủy văn khu vực Ba Vì và kết quả
điều tra phỏng vấn người dân địa phương về tạo giống, trồng, thu hoạch.... Số liệu
theo dõi sinh trưởng của các mô hình trồng năm 2011, và điều tra bổ sung một số
đ c điểm về thực vật của Sa nhân tím, đo đếm sinh trưởng trong năm 2012.
2.4.2.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm ngoài thực địa
Để nghiên cứu kỹ thuật trồng thâm canh Sa nhân tím chính là đánh giá sự
ảnh hưởng của các nhân tố chủ đạo như mật độ trồng, phân bón, độ tàn che đến khả
(i)- Bố trí 4 công thức thí nghiệm về bón phân.
(ii)- Phân bón sử dụng: Phân chuồng hoai, NPK (5:10:3) lâm thao và Vi sinh
Sông Gianh
+ CT1: Không bón phân (đối chứng)
+ CT2: 2 kg phân chuồng + 100g NPK (5:10:3) + 100g vi sinh Sông Gianh
+ CT3: 2 kg phân chuồng + 200g NPK (5:10:3) + 100g vi sinh Sông Gianh
+ CT4: 2 kg phân chuồng + 100g NPK (5:10:3) + 200g vi sinh Sông Gianh
(iii)- Diện tích thí nghiệm: 100 m2/CT x 4CT x 3 l p = 1.200 m2
(iv)- Tiến hành thu thập số liệu định kỳ 4 lần/năm. Các chỉ tiêu theo dõi cụ
thể: tỷ lệ sống (%), số nhánh/khóm, chiều cao nhánh, số hoa/khóm, tỷ lệ quả (%) và
số quả/khóm. Số liệu thu thập được ghi vào mẫu phiếu điều tra đã xây dựng trước
(mẫu phiếu điều tra).
- Nghiên cứu kỹ thuật bón phân trồng Sa nhân tím trên đất sau nương rẫy.
(i)- Bố trí 4 công thức thí nghiệm về bón phân.
(ii)- Phân bón sử dụng: Phân chuồng hoai, NPK (5:10:3) lâm thao và Vi sinh
Sông Gianh
+ CT1: Không bón phân (đối chứng)
+ CT2: 2 kg phân chuồng + 100g NPK (5:10:3) + 100g vi sinh Sông Gianh
+ CT3: 2 kg phân chuồng + 200g NPK (5:10:3) + 100g vi sinh Sông Gianh
+ CT4: 2 kg phân chuồng + 100g NPK (5:10:3) + 200g vi sinh Sông Gianh
(iii)- Diện tích thí nghiệm: 100 m2/CT x 4CT x 3 l p = 1.200 m2
(iv)- Tiến hành thu thập số liệu định kỳ 4 lần/năm. Các chỉ tiêu theo dõi cụ
thể: tỷ lệ sống (%), số nhánh/khóm, chiều cao nhánh, số hoa/khóm, tỷ lệ quả (%) và
19
số quả/khóm. Số liệu thu thập được ghi vào mẫu phiếu điều tra đã xây dựng trước
(mẫu phiếu điều tra).
* Nghiên cứu ảnh hưởng của độ tàn che đến sinh trưởng của Sa nhân tím.
2.4.2.3. Thời gian và nội dung thu thập số liệu.
- Thời gian thu thập số liệu: Tiến hành đo đếm thu thập số liệu vào mùa ra
hoa, quả (từ tháng 5- tháng 9/2012)
- Nội dung thu thập số liệu: Ngoài các nội dung kế thừa đề tài như: Điều kiện
tự nhiên - KTXH, tỷ lệ sống (%), tổng kết kinh nghiệp nhân giống, kỹ thuật trồng,
thu hái, sơ chế... từ kiến thức bản địa của người dân địa phương đã và đang áp dụng.
Luận văn tập trung điều tra bổ sung (năm 2012) các chỉ tiêu đo đếm về số
nhánh/khóm, chiều cao (cm), đ c biệt về số hoa/khóm, tỷ lệ đậu quả/khóm (%), số
quả/khóm (nếu có). Số liệu thu thập được ghi vào mẫu phiếu điều tra đã xây dựng
trước. (mẫu phiếu điều tra)
2.5. Phƣơng pháp phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được phân tích và xử l trên máy tính bằng phần mềm
Excel và SPSS theo phương pháp phân tích thống kê trong lâm nghiệp[24].
- Các chỉ tiêu như: Tỷ lệ sống, Hvn, Số nhánh/khóm, Số hoa/khóm, Số
quả/khóm, tính theo công thức trung bình cộng:
xi
n
X =
1
(2.1)
n
Trong đó: X: là các giá trị trung bình
xi: là các chỉ tiêu, Hvn, số nhánh/khóm, số hoa/khóm, số quả/khóm
n: Số khóm trong ô tiêu chuẩn
22
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm trên đất vƣờn đồi và đất sau nƣơng rẫy
TN
Thí nghiệm mật độ
Thí nghiệm bón phân
Thí nghiệm độ tàn che
Lặp
Lặp 1
CT1*
CT2
CT3
CT1
CT2
CT3
CT4
CT3
CT1
CT2*
CT2
CT1
CT4
CT3
CT2
CT1
CT3
Ghi chú:
Thí nghiệm mật độ
Thí nghiệm bón phân
Thí nghiệm độ tàn che
+ CT1: 15.625 cây/ha (0,8 x 0,8m)
+ CT1: Không bón phân (đối chứng)
- Phía Nam giáp xã Yên Bình.
- Phía Bắc giáp xã Vân Hòa.
3.1.1.2. Địa hình, thổ nhưỡng
Địa hình vùng núi thấp, dạng bát úp có độ cao tuyệt đối dưới 200 m so với
mực nước biển.
Thổ nhưỡng: Đất Feralit mùn vàng nhạt và đất Feralit đỏ vàng .
3.1.1.3. Khí hậu, thủy văn
*) Khí hậu:
Xã Yên Bài nằm sát VQG Ba Vì về phía Đông núi Ba Vì nên khí hậu chịu
ảnh hưởng chính của tiểu vùng khí hậu huyện Ba Vì.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, hình thành 4 mùa trong năm rõ rệt với mùa đông
lạnh và khô.
Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,40C.
Ở nơi thấp: Nhiệt độ tối thấp trung bình xuống tới 13,10C; nhiệt độ tối cao
trung bình lên tới 39,90C.
Lượng mưa trung bình năm 2.166 mm, phân bố không đều trong năm, tập
trung cao nhất tháng 7, 8.
Độ ẩm không khí 83%, thường khô hanh vào tháng 11, tháng 12.
24
Tổng bức xạ 147,0 (kcl/cm2).
Tổng số giờ nắng 1558,2 giờ/năm.
Tổng số ngày mưa 153,1 giờ/năm.
Lượng mưa bốc hơi 958,5 mm.
*) Thủy văn: Chịu ảnh hưởng của đập Đầm Mô và thượng nguồn núi Ba Vì
chảy xuống theo sông và các khe suối nhỏ.
3.1.1.4. Hiện trạng sử dụng đất xã Yên Bài
Diện tích phân theo mục đích sử dụng đất nông nghiệp với diện tích lớn: