Tiểu luận Kinh tế đầu tư - Vận hành hiệu quả mô hình hợp tác công tư tại Việt Nam - Pdf 57

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-- -- -- -- -***- -- -- -- -

TIỂU LUẬN KINH TẾ ĐẦU TƯ
NHÓM 16
ĐỀ TÀI: VẬN HÀNH HIỆU QUẢ MÔ HÌNH HỢP TÁC CÔNG TƯ TẠI VIỆT NAM

Hà Nội, ngày 18 tháng 09 năm 2018


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH HỢP TÁC CÔNG TƯ ............................ 2
1.1. Khái niệm mô hình hợp tác công tư ........................................................................ 2
1.2. Phân loại mô hình hợp tác công tư .......................................................................... 2
1.3. Các chỉ tiêu đánh giá vận hành hiệu quả mô hình hợp tác công tư ....................... 3
CHƯƠNG 2. THỰC TẾ VẬN HÀNH MÔ HÌNH HỢP TÁC CÔNG TƯ TẠI VIỆT
NAM ................................................................................................................................ 5
2.1. Thực trạng về mô hình hợp tác công tư ở Việt Nam .............................................. 5
2.1.1. Thống kê số liệu các dự án đầu tư PPP tại Việt Nam .............................................. 5
2.1.2. Đánh giá việc vận hành mô hình hợp tác công tư tại Việt Nam ............................... 7
2.2. Thuận lợi khi áp dụng mô hình hợp tác công tư tại Việt Nam ............................ 10
2.3. Hạn chế khi áp dụng mô hình hợp tác công tư tại Việt Nam ............................... 11
CHƯƠNG 3. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP VẬN HÀNH HIỆU QUẢ MÔ HÌNH HỢP
TÁC CÔNG TƯ TẠI VIỆT NAM ............................................................................... 13
3.1. Kinh nghiệm vận hành mô hình hợp tác công tư của một số quốc gia trên thế giới
....................................................................................................................................... 13
3.2. Bài học áp dụng vận hành hiệu quả mô hình công tư tại Việt Nam .................... 15
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 19


PPP

6

UBND

Nghĩa Tiếng Anh
Build – Operate - Transfer
Build – Transfer
Build – Transfer – Operate

Nghĩa Tiếng Việt
Xây dựng – Kinh doanh –
Chuyển giao
Xây dựng – Chuyển giao
Xây dựng – Chuyển giao – Kinh
doanh
Kế hoạch và Đầu tư

Public - Private Partnership

Hợp tác công tư
Ủy ban nhân dân


LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới và quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đã mang đến cho Việt
Nam những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế xã hội. Góp phần quan trọng vào đó là
đường lối chính sách huy động vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế trong xã hội, tăng

là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng dự án giữa cơ quan nhà nước có
thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng, cải tạo, vận hành, kinh doanh,
quản lý công trình hạ tầng, cung cấp dịch vụ công.
1.2. Phân loại mô hình hợp tác công tư
Căn cứ theo Nghị định số 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, có
8 hình thức hợp đồng dự án PPP:
Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (gọi tắt là hợp đồng BOT) là hợp đồng
được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây
dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án
được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư,
doanh nghiệp dự án chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BTO) là hợp đồng
được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây
dựng công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án
chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó
trong một thời hạn nhất định.
Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (gọi tắt là hợp đồng BT) là hợp đồng được ký giữa
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án (nếu có) để xây dựng
công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất, trụ sở làm việc, tài sản
kết cấu hạ tầng hoặc quyền kinh doanh, khai thác công trình, dịch vụ để thực hiện Dự án
khác.
Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BOO) là hợp đồng được
ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng
công trình hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án sở hữu
và được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu
tư, doanh nghiệp dự án chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật
về đầu tư.
2


Khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận: Trước khi đầu tư vào bất kỳ dự án nào, nhà đầu tư
luôn quan tâm đến khả năng hoàn vốn (cụ thể là thời gian hoàn vốn) và lợi nhuận (cụ thể là
3


tỉ suất lợi nhuận bình quân của vốn đầu tư). Vì vậy đây là 2 chỉ tiêu hữu ích trong việc đánh
giá hiệu quả việc vận hành dự án PPP.
Lợi ích cho xã hội: Đối với Việt Nam, mục tiêu có tính chiến lược trong giai đoạn hiện
nay là nhằm phấn đấu đạt được “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”. Do vậy việc áp dụng mô hình hợp tác công tư vào nước ta bên cạnh những mục tiêu
mang tính kinh tế, tạo cơ hội phát triển đất nước giàu mạnh hơn, thu hút thêm được nhiều
nguồn vốn đầu tư thì Chính phủ luôn phải quan tâm đến việc phát triển xã hội, nâng cao
những lợi ích cuộc sống của nhân dân.
Căn cứ pháp lý thực hiện dự án PPP: Tại Việt Nam, quy định về pháp luật hiện hành
đối với dự án PPP có sự chồng chéo giữa các luật liên quan, trong khi quy định về PPP mới
ở tầm Nghị định. Việc xây dựng một hành lang pháp lí chặt chẽ, hợp lí là điều quan trọng
để vận hành hiệu quả mô hình hợp tác công tư.

4


CHƯƠNG 2. THỰC TẾ VẬN HÀNH MÔ HÌNH HỢP TÁC CÔNG TƯ
TẠI VIỆT NAM
2.1. Thực trạng về mô hình hợp tác công tư ở Việt Nam
2.1.1. Thống kê số liệu các dự án đầu tư PPP tại Việt Nam
Mô hình hợp tác công tư PPP trên thực tế đã có mặt ở Việt Nam từ đầu thập niên 1990,
dự án đô thị mới Phú Mỹ Hưng được thực hiện theo cách kết hợp giữa BOT và đổi đất lấy
hạ tầng. Đây có thể xem là dự án theo mô hình hợp tác công tư thành công nhất tại Việt
Nam.
Giai đoạn từ năm 1994 -2009, theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, đã có 32 dự án

Biểu đồ thống kê số lượng dự án PPP
hoàn thành thu xếp tài chính giai đoạn 1990-2017
76

80
70
60
50
40

30
20
10

8
1

3

1

Viễn thông

Khí gas

2

5

0

Vồn đầu tư công
Vốn đầu tư tư nhân
Vốn vay thương mại

79.11%

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ số liệu thống kê của Bộ KH&ĐT
Gần đây hợp tác PPP trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng giao thông đang được đẩy mạnh. Theo
số liệu công bố của Vụ Đối tác công tư, Bộ Giao thông Vận tải, tính đến
năm 2017 có 74 dự án hạ tầng giao thông thực hiện theo mô hình PPP do Bộ Giao thông
Vận tải quản lý. Trong đó có 41 dự án đang vận hành khai thác, 12 dự án đang triển khai
xây dựng, 16 dự án đang chuẩn bị đầu tư và 5 dự án đang đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.
Các dự án này chủ yếu là dự án BOT, một số dự án BT và số ít dự án BTO (Xây dựng Chuyển giao - Kinh doanh).
Gần đây, Nghị định số 63/2018/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác
công tư đã được ban hành ngày 04/05/2018 và có hiệu lực ngày 19/06/2018. Điều này làm
tăng thêm căn cứ pháp lý cho dự án PPP, dự đoán số lượng cũng chất lượng dự án PPP
trong thời gian tới sẽ được nâng cao đáng kể.
2.1.2. Đánh giá việc vận hành mô hình hợp tác công tư tại Việt Nam
 Khả năng thu hút vốn đầu tư tư nhân
Tổng vốn đầu tư các dự án PPP theo kế hoạch trong năm 2017 là hơn 25,8 nghìn tỷ đồng.
Đáng chú ý, có tới hơn 20,4 nghìn tỷ đồng là vốn vay các ngân hàng thương mại, còn lại
vốn chủ sở hữu của các nhà đầu tư chỉ có hơn 5,1 nghìn tỷ đồng. Như vậy việc thu hút vốn
đầu tư tư nhân của các dự án PPP còn chưa cao.
7


 Khả năng quản lí dự án
Hiện nay, có một thực tế là các hoạt động của dự án đều do cơ quan quản lý nhà nước
kiểm tra giám sát nhưng phần lớn các dự án hoàn thành đều không đạt được mục đích ban
đầu về tất cả các nội dung của quản lý dự án (tiến độ, chi phí, chất lượng). Có tới 41 cơ

 Khả năng đem lại hiệu quả KT-XH:
Theo đánh giá của bộ Giao thông vận tải các dự án thực hiện bằng hình thức hợp tác
công tư tại Việt Nam hiện nay đã và đang mang lại nhiều lợi ích trong cuộc sống hằng ngày
của người dân như: Rút ngắn được thời gian vận chuyển hàng hóa và hành khách, tiết kiệm
nhiên liệu, giảm chi phí sửa chữa, khấu hao phương tiện…
Nhờ các công trình đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long
Thành – Dầu Giây được xây dựng nhờ việc áp dụng mô hình hợp tác công tư PPP mà người
dân chúng ta có thể tiết kiệm thời gian, xã hội có thể giảm thiểu được tắc nghẽn giao thông
qua đó ô nhiểm môi trường cũng giảm xuống góp phần vào cái thiện đời sống nhân dân.
 Căn cứ pháp lý thực hiện dự án PPP:
Trong bối cảnh việc thực hiện dự án PPP theo Nghị định 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo
hình thức PPP đã bộc lộ một số hạn chế khiến các dự án PPP được triển khai trong thời gian
qua không hiệu quả và các dự án PPP chưa hấp dẫn nhà đầu tư tư nhân, Nghị định
63/2018/NĐ-CP đã được ban hành và có hiệu lực ngày 19/06/2018.
Nghị định 63 được thiết kế với nhiều nội dung sửa đổi nổi bật so với Nghị định 15 như
sau:
Thứ nhất, về nguồn vốn hỗ trợ chuẩn bị đầu tư. Theo Nghị định 15, Bộ KHĐT có trách
nhiệm huy động một số nguồn vốn hợp pháp rồi cấp phát cho các bộ, ngành, UBND cấp
tỉnh. Nhưng theo Nghị định 63 các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh phải chủ động việc huy động
vốn cho mục đích này.
Thứ hai, về vốn chủ sở hữu và vốn huy động của nhà đầu tư, Nghị định 63 đã nâng tỷ lệ
vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư lên tối thiểu 20% so với mức 15% trong Nghị định 15 đối
với dự án có tổng đầu tư đến 1.500 tỉ đồng.
Thứ ba, về hình thức nhà nước tham gia trong dự án PPP, ngoài vốn góp và vốn thanh
toán cho nhà đầu tư, điểm mới trong Nghị định 63 là Nhà nước có thể tham gia dự án PPP
bằng cách góp quỹ đất, trụ sở làm việc, tài sản kết cấu hạ tầng thanh toán cho nhà đầu tư
hoặc quyền kinh doanh, khai thác công trình, dịch vụ được nhượng cho nhà đầu tư trong
dự án áp dụng loại hợp đồng BT (xây dựng - chuyển giao).
Thứ tư, về lập kế hoạch vốn đầu tư công làm phần nhà nước tham gia trong dự án PPP,
Nghị định 63 đã không còn yêu cầu Bộ KH&ĐT và Bộ Tài chính tổng hợp kế hoạch sử

như tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn cho người lao động
 Phân bổ và quản lí rủi ro, chi phí hiệu quả
Khi áp dụng PPP, rủi ro sẽ được phân bố cho bên giải quyết tốt nhất với chi phí thấp
nhất. Với nhiều trường hợp, Nhà nước sẽ là bên có trách nhiệm giải quyết những rủi ro liên
quan tới cộng đồng, môi trường hoặc bảo lãnh vay vốn do tiếng nói của Nhà nước “có trọng
10


lượng” hơn đối với các đối tượng đó. Ngược lại, khu vực tư nhân ưu việt hơn trong việc xử
lý những rủi ro liên quan tới quản lý, sử dụng đồng vốn…
PPP cũng mang lại hiệu quả trong việc quản lí dòng chi phí đầu tư.
Tiền

Không trả tiền nếu
chưa có dịch vụ để
sử dụng

Thanh toán dịch
vụ được cố định
trước khi bắt đầu

Thời gian

Hình 2.1. Quy trình đầu tư theo PPP
Nguồn: KPMG (2011)
Đồ thị thanh toán từ hình trên thể hiện sự ổn định của dòng chi phí đầu tư và chính phủ
chỉ thanh toán khi có dịch vụ. Doanh nghiệp tư nhân sẽ nhận được khoản thanh toán này
trong suốt vòng đời của hợp đồng PPP (trung bình là 25 năm) theo một thỏa thuận trước và
không trả thêm cho phần vượt dự toán. Các rủi ro liên quan đến thiết kế xây dựng, chi phí
vận hành và bảo dưỡng một phần được chuyển từ nhà nước sang tư nhân.

năng lực tài chính của một số nhà đầu tư yếu, không góp đủ vốn chủ sở hữu tham gia vào
các dự án theo đúng cam kết, dẫn đến phải dừng dự án.
 Tính minh bạch không cao
Tính minh bạch của dự án khi áp dụng hình thức PPP là điều cần được lưu ý bởi việc
tiếp cận với thông tin của đối tác tư nhân rất khó khăn, đặc biệt là những thông tin tài chính,
thương mại được coi là bí mật kinh doanh. Theo đó mà việc đánh giá toàn bộ dự án cũng
sẽ gặp nhiều trở ngại.

12


CHƯƠNG 3. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP VẬN HÀNH HIỆU QUẢ MÔ
HÌNH HỢP TÁC CÔNG TƯ TẠI VIỆT NAM
3.1. Kinh nghiệm vận hành mô hình hợp tác công tư của một số quốc gia trên thế giới
Mô hình hợp tác công-tư (Public-Private Partnership) vốn được bắt nguồn chủ yếu từ
các nước phương Tây. Vào thế kỷ XVIII, mô hình PPP đã được áp dụng trong việc xây
dựng các kênh đào ở Pháp, các cây cầu ở London ở thế kỷ XIX cùng với cây cầu Brooklyn
nổi tiếng ở New York được xây dựng vào thế kỷ XIX cũng áp dụng mô hình hợp tác công
tư PPP. Tuy nhiên, mô hình hợp tác công tư chỉ thực sự bắt đầu phổ biến trên thế giới từ
đầu thập niên 1980 và nó đã đóng góp một phần quan trọng giúp cho các nước phát triển
trên thế giới phát triển cơ sở hạ tầng cũng như các ngành khác.
 Anh – Chỉ lựa chọn những dự án tạo ra giá trị vượt trội so với hình thức đầu tư truyền
thống
Anh là một trong những quốc gia áp dụng mô hình hợp tác công tư sớm nhất trên thế
giới và cũng là quốc gia đứng đầu Châu Âu về dự án hợp tác công tư trong cung cấp dịch
vụ công. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới thì vào năm 2017, tổng số vốn đầu tư vào
PPP của Anh đạt 2,896,832.82 triệu USD. Trong thời gian đầu áp dụng mô hình PPP, mục
tiêu của Chính phủ Anh là thu hút nguồn vốn tư nhân nhằm bổ sung ngân sách nhà nước
tuy nhiên về sau này mục tiêu của các dự án PPP đã được thay đổi và Chính phủ chỉ lựa
chọn những dự án tạo ra giá trị vượt trội so với hình thức đầu tư truyền thống.

 Mỹ - Chú trọng đến chất lượng của dự án hơn là số lượng dự án
Mỹ đã bắt đầu triển khai mô hình hợp tác công tư từ những năm 1980 và đến năm 2017,
tổng số vốn đầu tư theo mô hình hợp tác công tư tại Mỹ đạt 19,390,604 triệu USD, xếp thứ
2 trên thế giới. Chính phủ Mỹ cho rằng mô hình PPP đã thực sự mang lại hiệu quả đối với
nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng và các dịch vụ công cộng của nước này. Để triển khai
hiệu quả mô hình PPP, Mỹ đã thực hiện tốt một số các giải pháp như:
Xây dựng cơ chế chính sách và luật pháp, chính quyền liên bang một mặt chủ động xây
dựng và hoàn thiện các cơ chế chính sách các công cụ điều hành hướng dẫn triển khai mô
hình này trên phạm vi toàn nước Mỹ, mặt khác phân quyền cho các bang tự quyết định việc
tổ chức và triển khai mô hình PPP.
Xác định cụ thể các lĩnh vực đầu tư và hình thức đầu tư. Các dự án PPP phải là trọng
điểm, có lợi ích về kinh tế - xã hội lầu dài, trong quá trình tổ chức và triển khai chú trọng
đến chất lượng hơn là số lượng. Đó chính là lí do mà hầu hết các dự án PPP ở Mỹ hiện nay
đều là những công trình lớn, tác động lâu dài đến đời sống và xã hội.
Đối với các doanh nghiệp nước ngoài tham gia các dự án hợp tác công tư tại Mỹ, Chính
phủ ngoài việc khuyến khích các doanh nghiệp này tham gia nhằm thu hút vốn, công nghệ
và kinh nghiệm thì cũng có những quy định mang tính đặc thù nhằm hạn chế những rủi ro.
14


Từ những kinh nghiệm đi trước rất thành công của các quốc gia trên thế giới có thể thấy
mô hình hợp tác công tư PPP là một hình thức đầu tư rất hiệu quả đối với Việt Nam để thực
hiện các dự án phát triển cơ sở hạ tầng của đất nước. Nhờ vào việc áp dụng mô hình hợp
tác công tư PPP sẽ giảm áp lực cho ngân sách nhà nước cũng như sự lệ thuộc quá nhiều vào
nguồn vốn ODA. Và qua sự thành công của các nước phát triển ta cũng thấy được rằng nếu
muốn mô hình hợp tác công tư có hiệu quả cao phụ thuộc rất nhiều vào những chính sách,
cải cách từ phía Chính phủ. Kế thừa được những thành công và thất bại của những nước đi
trước giúp Chính phủ Việt Nam có thể đưa ra được những quyết định đúng đắn và hợp lí
hơn trong quá trình vận hành mô hình hợp tác công tư ở nước mình.
3.2. Bài học áp dụng vận hành hiệu quả mô hình công tư tại Việt Nam

cuối cùng của dự án. Cơ quan chịu trách nhiệm về các dự án kết cấu hạ tầng do tư nhân vận
hành phải đủ năng lực quản lý các quá trình thương mại có liên quan và hợp tác bình đẳng
với các đối tác khu vực tư nhân. Mục đích tham gia của khu vực tư nhân vào kết cấu hạ
tầng cần được hiểu rõ, mục tiêu phải được chia sẻ ở tất cả các cấp chính quyền và trong tất
cả các bộ phận liên quan của cơ quan hành chính công.
Đối tác công cũng cần phải có khả năng kỹ thuật để theo dõi hợp đồng. Đối tác tư nhân
nói chung thường có nguồn nhân lực có năng lực về tài chính, thương mại và kỹ thuật. Cơ
quan nhà nước muốn giữ vai trò và quyền kiểm soát của mình, một cách thường xuyên hay
chỉ là tư vấn, không phải lúc nào cũng có được một ê-kíp hiệu quả để thực hiện điều đó.
Chính vì vậy, trong mọi trường hợp, việc thương lượng giữa hai đối tác phải được thực hiện
một cách nghiêm túc và có đủ thời gian cần thiết để tìm được sự cân bằng đảm bảo cho
quan hệ đối tác và xác định được những điều khoản của hợp đồng. Mọi việc không được
giải quyết ở giai đoạn này có thể sẽ dẫn đến những tình huống xấu do sự vận hành không
tốt của quan hệ đối tác.
 Bố trí nguồn lực tài chính tối thiểu
Dự án cần phải tính đến khả năng bù đắp chi phí của người sử dụng và được đặt vào
trong bối cảnh chung về giao thông, quy hoạch đô thị. Những rủi ro kinh doanh hay công
việc phát sinh cần phải được xem xét kỹ càng và phải chuẩn bị các phương thức cung cấp
thay thế trong trường hợp thiếu hụt nguồn vốn. Nếu dự án không thể tự cấp vốn, đối tác
công phải có chuẩn bị sẵn khả năng cân đối tài chính cho dự án.
Việc lựa chọn một mô hình cụ thể và phân bổ rủi ro đi kèm được cần được xác định dựa
trên sự đánh giá, phân tích về lợi ích công cộng và lợi nhuận tài chính. Nguyên tắc minh
bạch tài chính phải được bảo đảm. Trong đó, ảnh hưởng của tài chính công có thể phát sinh
về việc chia sẻ trách nhiệm với khu vực tư nhân đối với kết cấu hạ tầng phải được dự báo.
16


 Giảm rủi ro đối với các nhà đầu tư tư nhân
Trong suốt thời hạn của một dự án cơ sở hạ tầng, cá nhà đầu tư tư nhân phải đối mặt với
nhiều rủi ro: rủi ro đấu thầu, rủi ro đàm phán, rủi ro xây dựng, rủi ro hoạt động và rủi ro từ


KẾT LUẬN
Như vậy, đề tài trên đã nghiên cứu tổng quan về hợp tác công tư; thực tế vận dụng mô
hình hợp tác công tư vào việt nam và một số giải pháp kiến nghị đưa ra để thực hiện mô
hình hợp tác công tư hiệu quả hơn. Có thể thấy, quá trình xây dựng triển khai hợp tác công
tư (PPP) gặp khó khăn trong quy định pháp lý, về nhân sự, dữ liệu và sơ sở truyền thông và
đặc biệt là khó khăn về nguồn vốn khi vốn ngân sách nhà nước hạn hẹp và nguồn tín dụng
thương mại có thời hạn ngắn hoặc đòi hỏi các cơ chế bảo lãnh chưa được quy định.
Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm vận hành hợp tác công tư của một số nước trên thế
giới như Anh, Ấn Độ, Mỹ từ đó đưa ra kiến nghị giải pháp về khuôn khổ tổ chức pháp lý
thuận lợi và sự ủng hộ chính sách mạnh mẽ. ngoài ra, cần phải xác định cụ thể mục tiêu
chiến lược của dự án và năng lực quản lí ở tất cả các cấp và bố trí nguồn lực tài chính tối
thiểu. Cuối cùng, cần giảm rủi ro đối với các nhà đầu tư tư nhân, tạo ra cơ chế thúc đầy
hoạt động kinh doanh có trách nhiệm.
Hi vọng với những nghiên cứu và giải pháp trên, đề tài này có thể góp phần để cải thiện
việc vận dụng mô hình hợp tác công tư trong thực tế hiện nay, đưa nền kinh tế phát triển
trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập quốc tế hiện nay.

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Aecom Consult Team 2007, ‘Case Studies of Transportation Public-Private
Partnerships around the World’, AECOM Company
2. Asian Development Bank 2017, ‘Public–Private Partnership Monitor’, Ngân hàng Phát
triển Châu Á
3. Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA 2017, ‘Khảo sát VGF cho các dự án PPP tại
Việt Nam’, JICA
4. Khánh Ngọc 2018, Tổng vốn đầu tư dự án PPP năm 2017 là 25.856 tỷ đồng, Báo Đấu
Thầu, truy cập ngày 09/09/2018



1



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status