Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng TMCP công thương việt nam chi nhánh cẩm phả - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI
NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH CẨM PHẢ

Chương trình: Điều hành cao cấp - EMBA

LẠI ĐỨC ANH


Hà Nội - 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ tại
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Chi nhánh Cẩm Phả

Ngành: Quản trị kinh doanh
Chương trình: Điều hành cao cấp- EMBA
Mã số: 60340102

Họ và tên học viên: Lại Đức Anh


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
TDBL
CVBL
DSCV
HĐQT
NHCTVN
NHNN
NHTM
TCTD
TMCP
TSĐB
UBND
VND
BIDV

Giải thích
Tín dụng bán lẻ
Cho vay bán lẻ
Doanh số cho vay
Hội đồng quản trị
Ngân hàng Công thương Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng thương mại
Tổ chức tín dụng
Thương mại cổ phần
Tài sản đảm bảo
Ủy ban nhân dân
Việt Nam đồng
Ngân hàng Đầu Tư và phát triển Việt Nam

46
49


DANH MỤC CÁC BIỂU
Số biểu
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5

Tên biểu
Doanh số tín dụng bán lẻ của chi nhánh Vietinbank Cẩm Phả các
năm 2013-2017
Doanh số thu hồi nợ tín dụng bán lẻ của chi nhánh Vietinbank
Cẩm Phả năm 2013-2017.
Dư nợ tín dụng bán lẻ của chi nhánh Vietinbank Cẩm Phả giai
đoạn từ năm 2013-2017.
Cơ cấu dư nợ tín dụng bán lẻ theo thời gian của chi nhánh
Vietinbank Cẩm Phả giai đoạn năm 2013-2017.
Cơ cấu dư nợ tín dụng bán lẻ theo mục đích sử dụng vốn của Chi
nhánh Vietinbank Cẩm Phả giai đoạn năm 2013-2017.

Trang
39
41
43
45
47

các ngân hàng nước ngoài. Xuất phát từ thực tế đó, các NHTM đã dần chuyển sang
triển khai cung cấp các loại hình dịch vụ mới trong đó có sản phẩm tín dụng bán lẻ.
Theo sản phẩm này, khách hàng là cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu vi mô
có thể đi vay tiền ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh, vay tiền tiêu dùng
hoặc sử dụng thẻ tín dụng mua sắm hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ đời
sống hiện tại và trả nợ dần trong tương lai, các hình thức cấp tín dụng khác như bão
lãnh, LC, cho thuê tài chính... Tại các nước phát triển trên thế giới, loại hình dịch vụ
này đã có từ lâu và đến nay đã phát triển rất mạnh, nhưng tại Việt Nam hiện nay
hình thức này còn tương đối mới mẻ và có thị trường đầy tiềm năng ngày càng có
xu hướng tăng. Do đó, tín dụng bán lẻ được dự báo là lĩnh vực kinh doanh đầy tiềm
năng mà các NHTM Việt Nam cần tập trung khai thác và mở rộng. Trong quá trình
công tác tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Cẩm Phả, em
nhận thấy mặc dù lĩnh vực tín dụng bán lẻ là lĩnh vực kinh doanh đầy tiềm năng và
có khả năng mang lại nhiều lợi nhuận nhưng hình thức này ở chi nhánh hiện nay
vẫn chưa được quan tâm phát triển đúng với tiềm năng thực tế trên địa bàn hoạt
động của đơn vị. Do đó việc mở rộng và phát triển loại hình dịch vụ này là rất cần
thiết trong chiến lược kinh doanh của chi nhánh thời gian tới. Đặt ra vấn đề là cần
phải có nghiên cứu để đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cấp tín dụng
đối với khách hàng bán lẻ tại đơn vị. Đó cũng là lý do em chọn đề tài “Nâng cao
hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam chi nhánh Cẩm Phả” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp chương
trình đào tạo cao học của mình.


10

2.Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua quá trình nghiên cứu, luận văn tập trung làm rõ ba mục tiêu sau:
− Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng bán lẻ và nâng cao hiệu quả tín
dụng bán lẻ của NHTM.

hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Cẩm Phả.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Một số vấn đề cơ bản về tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm tín dụng bán lẻ
Tín dụng bán lẻ là một trong những hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng
cho khách hàng. Vì vậy để hiểu một cách rõ ràng về tín dụng bán lẻ, chúng ta cần
phải hiểu rõ khái niệm về tín dụng Ngân hàng.
“Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay
(Ngân hàng và các tổ chức định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh
nghiệp và các chủ thể khác) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay
sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nghiệm
hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”
(PGS.TS. Mai Văn Bạn, giáo trình “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại” – Nhà xuất
bản Tài chính, Hà Nội, 2014)
Tại Việt Nam hiện nay, tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu trong hoạt động kinh
doanh Ngân hàng. Tín dụng được chia ra làm nhiều loại, trong đó có tín dụng bán
lẻ.
Theo Luật Các tổ chức tín dụng, các loại hình cấp tín dụng được quy định
chung, chưa có định nghĩa và giải thích rõ ràng về tín dụng bán buôn và tín dụng
bán lẻ. “Tổ chức tín dụng cho các tổ chức cá nhân vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống” (Khoản 2
Điều 50 Luật Các tổ chức tín dụng) được bao hàm cả hai hoạt động là tín dụng bán
buôn và tín dụng bán lẻ. Trong thực tế, những tiêu chí để phân biệt hoạt động tín
dụng bán buôn với hoạt động tín dụng bán lẻ mang tính chất tương đối và không
phổ biến đối với mọi quốc gia và các ngân hàng. Tiêu chí của mối loại hình thay đổi
theo thời gian và tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn cũng như mục đích quản lý của
từng nước, thậm chí từng ngân hàng. Một số ngân hàng thương mại không có khái
niệm tín dụng bán buôn, tín dụng bán lẻ mà phân biệt bằng khái niệm tín dụng

 Các khoản tín dụng bán lẻ thường có độ rủi ro cao. Do hoạt động tín dụng
bán lẻ chịu nhiều ảnh hưởng từ các yếu tố khách quan (thiên tai, thất nghiệp, ngành
nghề kinh doanh, chu kỳ kinh tế…) và các yếu tố chủ quan (thu nhập, công việc,
sức khỏe, ý thức trả nợ…) ảnh hưởng đến việc trả nợ cho ngân hàng nên lĩnh vực
tín dụng bán lẻ là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.


13

Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng bán lẻ để tiêu dùng thường lớn. Do các
khoản cho vay có độ rủi ro cao và khách hàng thường không quan tâm nhiều đến lãi
suất nên lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn các loại hình cho vay khác.
Đồng thời số lượng các khoản vay tiêu dùng nhiều nên lợi nhuận từ cho vay tiêu
dùng thường cao.
Nguồn trả nợ từ thu nhập thường xuyên, ổn định của khách hàng và thường
phải có tài sản đảm bảo. Sự kiểm soát nguồn thu này của ngân hàng đôi khi gặp khó
khăn. Để hạn chế rủi ro, hầu hết các khoản tín dụng bán lẻ ngân hàng đều yêu cầu
khách hàng phải có bảo đảm bằng tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ ngân hàng.
1.1.2.2. Vai trò của tín dụng bán lẻ
- Đối với người tiêu dùng
Tín dụng bán lẻ góp phần giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn để tiêu
dùng, sản xuất kinh doanh hiện tại của khách hàng vay và khả năng tích luỹ để đáp
ứng nhu cầu đó. Khi khách hàng có nhu cầu vốn kinh doanh, mua sắm một sản
phẩm hay dịch vụ ngay thời điểm hiện tại nhưng họ tích lũy chưa đủ để trang trải
chi phí đó thì sản phẩm tín dụng bán lẻ của ngân hàng sẽ giúp họ có thể giải quyết
được ngay những nhu cầu trong hiện tại cũng như tương lai mà không cần phải chờ
đợi khi có đủ tiền. Từ đó tín dụng bán lẻ giúp các cá nhân, hộ kinh doanh, doanh
nghiệp siêu vi mô có thêm đòn bẩy tài chính trong kinh doanh cũng như cải thiện
đời sống người dân, giúp họ có cuộc sống tiện nghi đầy đủ, tinh thần thoải mái,
nâng cao chất lượng cuộc sống.

các sản phẩm dịch vụ, phân tán rủi ro, góp phần tăng thu nhập cũng như khả
năng cạnh tranh cho ngân hàng.
- Đối với nền kinh tế
Vai trò của tín dụng bán lẻ đối với nền kinh tế là không thể phủ nhận. Ngân
hàng thực hiện tín dụng bán lẻ có thể giúp khách hàng thỏa mãn những nhu cầu vốn
kinh doanh, nhu cầu chi tiêu hiện tại với khả năng thanh toán trong tương lai. Khi
tín dụng bán lẻ được mở rộng và phát triển, người dân sẽ có thêm nhiều cơ hội tiếp
cận, sử dụng các sản phẩm, dịch vụ, phương án kinh doanh mới mà với khả năng
thanh toán hiện tại họ không thể có. Nhờ vậy kích thích người dân tiêu dùng, nâng
cao chất lượng cuộc sống, mở rộng quy mô, hiệu quả kinh doanh tạo điều kiện cho
con người phát triển toàn diện.
Khi cuộc sống của con người được nâng cao sẽ thúc đẩy họ hăng say lao
động, tạo ra nhiều của cải cho xã hội, góp phần làm cho xã hội ngày càng phát triển.


15

Đây chính là đòn bẩy kích thích nền sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, tăng khả năng đầu tư xây dựng, phát triển xã hội, xóa đói giảm nghèo…Hơn nữa
tín dụng bán lẻ còn là nhân tố quan trọng góp phần loại bỏ tình trạng “tín dụng đen”
cho vay nặng lãi, giải quyết tốt các mối quan hệ khác trong xã hội.
1.1.3. Nguyên tắc và điều kiện cấp tín dụng
1.1.3.1. Nguyên tắc chung trong cấp tín dụng khách hàng bán lẻ
- Sử dụng đúng mục đích
Theo nguyên tắc này, tiền vay hay khoản tín dụng phải được sử dụng theo
đúng mục đích sử dụng vốn đúng hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng. Ngân hàng
có quyền từ chối và huỷ bỏ mọi yêu cầu vay vốn không được sử dụng đúng mục
đích đã định. Việc sử dụng khoản tín dụng/tiền vay sai mục đích thể hiện sự thất tín
của bên vay và có khả năng gây ra rủi ro lớn cho ngân hàng. Do đó khi cho vay
ngân hàng yêu cầu bên vay phải tuân thủ nguyên tắc này và trong suốt thời gian

để làm căn cứ xem xét, quyết định cấp vốn. Khách hàng chỉ có thể được cấp tín
dụng của ngân hàng khi họ thoả mãn tất cả các điều kiện. Nội dung các điều kiện
cấp tín dụng gồm:
Thứ nhất, khách hàng phải có đủ tư cách pháp lý
Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng là quan hệ được pháp luật
bảo vệ. Vì vậy, nó phải được lập trên cơ sở quy định của luật pháp. Do đó, các chủ
thể tham gia quan hệ phải có đủ tư cách pháp lý. Hơn thế trong quan hệ vay mượn
sẽ phát sinh sự chuyển giao và giao dịch về tài sản do đó cần có sự xác nhận của các
bên tham gia theo đúng quy định của luật pháp. Như vậy, khách hàng phải có đủ tư
cách pháp lý để thực hiện các giao dịch.
Thứ hai, khoản tín dụng phải được sử dụng hợp pháp
Vốn vay, khoản bảo lãnh, chiết khấu…các hình thức tín dụng phải được sử
dụng hợp pháp tức là không vi phạm pháp luật và mục đích sử dụng phù hợp với
nguyên tắc sử dụng khoản tín dụng mà các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp siêu
vi mô đã cam kết. Vì vậy, khi khách hàng sử dụng vốn bất hợp pháp thì các tài sản
đó sẽ bị phong toả hoặc bị tịch thu từ đó ảnh hưởng tới khả năng hoàn trả gốc và lãi
cho ngân hàng. Ngoài ra, khi vốn sử dụng bất hợp pháp thì tư cách pháp lý của
khách hàng có thể bị mất đi do đó ảnh hưởng tới quan hệ tín dụng hợp pháp giữa
ngân hàng với khách hàng.
Thứ ba, khách hàng phải có năng lực tài chính lành mạnh đủ để đảm bảo
hoàn trả tiền vay đúng hạn đã cam kết.


17

Lý do khách hàng phải có tình hình tài chính lành mạnh có thể được hiểu
như sau: khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh tức là khách hàng chứng minh
được ổn định trong cuộc sống, đảm bảo khách hàng có cơ sở vững chắc về tài chính
để thực hiện được cam kết hoàn trả tiền vay đúng hạn.
Thứ tư, khách hàng phải có phương án kinh doanh, dự án phục vụ đời sống

− Tờ khai về tình hình tài chính.
− Các tài liệu chứng minh mục đích sử dụng khoản tín dụng và nguồn lực trả
nợ.
Bước 2. Thu thập thông tin tín dụng.
Ngân hàng thu thập thông tin tín dụng từ các nguồn:
− Thông tin lưu trữ sẵn tại ngân hàng (nếu có)
− Thông tin từ trung tâm tín dụng.
Bước 3.Ngân hàng thẩm định hồ sơ và quyết định cấp tín dụng.
Thẩm định hồ sơ khách hàng là quá trình ngân hàng tiến hành xem xét, phân
tích các thông tin, số liệu đã thu thập về khách hàng. Từ đó ngân hàng xác định giới
hạn an toàn của quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng nhằm đưa ra quyết
định đúng đắn trong các quyết định tín dụng. Các nội dung cần thẩm định bao gồm
mức thu nhập, hiệu quả kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, tài sản đảm bảo, số dư các
tài khoản tiền gửi, sự ổn định về việc làm và nơi cư trú, tư cách đạo đức người vay...
Ngoài ra, cán bộ tín dụng dự kiến lợi ích thu được cho ngân hàng khi khoản vay được
phê duyệt.
Sau khi cán bộ tín dụng thẩm định tín dụng xong sẽ lập tờ trình tín dụng đề
xuất lãnh đạo ngân hàng xem xét, phê duyệt khoản tín dụng.
Bước 4.Ngân hàng xác định các chỉ tiêu cấp tín dụng và ký hợp đồng tín
dụng với khách hàng.
Mức cấp tín dụng: Dựa vào nhu cầu vay vốn, khoản bảo lãnh, chiết khấu… tỷ
lệ cấp tín dụng tối đa tính trên giá trị tài sản thế chấp hay cầm cố; Khả năng nguồn vốn
của ngân hàng; Khả năng trả nợ của khách hàng; Giới hạn tính dụng tối đa của ngân
hàng đối với một khách hàng. Dựa trên các cơ sở này đưa ra quyết định số tiền cụ thể
mà ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng.
Thời hạn cấp tín dụng: Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng mà thời
hạn cấp tín dụng phù hợp với từng khách hàng nhưng không vượt quá thời hạn tối
đa quy định của sản phẩm riêng.



đồng tín dụng. Khách hàng phải chủ động trả nợ cho ngân hàng khi đến hạn và cũng
có thể trả nợ trước hạn. Đến thời điểm trả nợ gốc và lãi đã thỏa thuận trong hợp


20

đồng, nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn thì ngân hàng đánh giá là không có
khả năng trả nợ đúng hạn và toàn bộ số dư nợ gốc đó là nợ quá hạn, ngân hàng sẽ áp
dụng lãi suất phạt quá hạn và phân loại toàn bộ số dư nợ gốc của khách hàng vào
nhóm nợ tương ứng để xử lý. Khi đã thu hồi hết nợ gốc và lãi, ngân hàng thực hiện
thanh lý hợp đồng tín dụng và lưu trữ thông tin khách hàng.
1.1.5. Các biện pháp bảo đảm tín dụng
Bảo đảm tín dụng là việc ngân hàng thiết lập điều kiện về kinh tế và pháp lý
để đảm bảo thu hồi tín dụng đã cấp trong trường hợp người đi vay không thực hiện
trả nợ theo quy định. Theo đó có thể thấy với bảo đảm tín dụng, ngân hàng sẽ được
giảm bớt tổn thất khi khách hàng vì một lý do khách quan nào đó mà không thể
thanh toán khoản nợ cho ngân hàng, giúp ngân hàng có nguồn thu nợ thứ hai. Đồng
thời bảo đảm tín dụng cũng sẽ gắn trách nhiệm vật chất của người đi vay trong quá
trình sử dụng vốn, làm động lực thúc đẩy khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nếu
không trả được nợ sẽ sẽ mất tài sản và tốn kém chi phí nhiều hơn..
1.1.5.1. Cấp tín dụng có tài sản đảm bảo
Cấp tín dụng có bảo đảm bằng tài sản là việc NHTM cấp tín dụng mà theo đó
nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản
cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc thế chấp
bằng tài sản của bên thứ ba.
Biện pháp cầm cố tài sản bảo đảm
Cầm cố tài sản là việc khách hàng giao tài sản là động sản thuộc sở hữu của
mình cho ngân hàng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự, nếu tài sản cầm cố có
đăng ký quyền sở hữu, thì các bên có thể thỏa thuận bên cầm cố vẫn giữ tài sản cầm
cố hoặc giao cho bên thứ ba giữ.

ký kết giao dịch thế chấp và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp như hoa lợi, lợi
tức, tài sản hình thành từ vốn vay, công trình xây dựng, các bất động sản khác mà
bên thế chấp có quyền nhận.
− Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Bảo đảm tiền vay theo phương thức bảo lãnh
Là việc bên bảo lãnh cam kết với NHTM về việc sử dụng tài sản thuộc quyền
sở hữu, giá trị quyền sử dụng đất của mình, đối với ngân hàng là tài sản thuộc
quyền quản lý, sử dụng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng, nếu đến


22

hạn trả nợ mà khách hàng vay thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng
vay vốn.
1.1.5.2. Cấp tín dụng không có tài sản đảm bảo
Cấp tín dụng không có tài sản đảm bảo là khoản tín dụng không được bảo
đảm bằng bất kỳ tài sản nào. Cấp tín dụng không có tài sản đảm bảo chỉ dựa duy
nhất vào tín nhiệm của bên được cấp tín dụng. Bởi vậy, hình thức vay này thường
khó thực hiện hơn so với cấp tín dụng có bảo đảm.
1.1.6. Phân loại tín dụng bán lẻ
1.1.6.1. Căn cứ theo sản phẩm tín dụng bán lẻ
Bên cạnh các hình thức phân loại chung, tín dụng bán lẻ có một số hình thức
phân loại đặc thù như sau:


Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:
- Tín dụng cho sản xuất, lưu thông hàng hóa;
- Tín dụng tiêu dùng.



sinh tham dự các khóa đại học, sau đại học ở nước ngoài.
- Cho vay học phí: Thông thường là sản phẩm cho vay tín dụng dưới hình thức
trả định kì nhằm hỗ trợ người vay có đủ khả năng chi trả học phí khi bản thân người
vay hoặc thân nhân của người vay theo học các khóa học ở Việt Nam.
- Cho vay nhà đất để phục vụ đời sống: Là sản phẩm cho các khách hàng cá
nhân vay vốn để thực hiện việc xây, mua, sửa chữa, chuyển quyền thuê lại nhà của
nhà nước, chuyển quyền sử dụng đất,…
- Cho vay mua ô tô: Khách hàng vay vốn để có thể sở hữu và sử dụng một
chiếc ô tô mới đẹp, hiện đại phục vụ nhu cầu tiêu dùng và kinh doanh.
- Cho vay theo hình thức phát hành thẻ tín dụng: Phát hành thẻ tín dụng cho
các cá nhân, tổ chức phục vụ chi tiêu mua sắm, tiêu dùng.
- Phát hành các loại bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán cho doanh nghiệp
siêu vi mô: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu…
Ta thấy rằng, tín dụng bán lẻ có rất nhiều loại hình khác nhau, các ngân hàng
có thể căn cứ vào đó mà đưa ra những sản phẩm dịch vụ phù hợp với bản thân ngân
hàng mình và với đối tượng khách hàng của mình.
1.2. Một số vấn đề về hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ của Ngân hàng
thương mại
1.2.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại
Hiệu quả được hiểu là kết quả nhận được đúng những điều đã thực hiện
(Peter Ferdinand Drucker, Những thách thức của quản lý trong thế kỷ 21, tr.15).
Hiện nay chưa có khái niệm, định nghĩa cụ thể về Hiệu quả của tín dụng. Xét trên


24

mặt lý thuyết về hiệu quả thì hiệu quả tín dụng (hiệu quả cho vay) chính là kết quả
đạt được trên chi phí bỏ ra để có kết quả đó. Hay nói cách khác chính là so sánh lợi
nhuận/doanh thu với chi phí. Việc tính toán các số liệu về doanh thu, lợi nhuận là
điều cực kỳ dễ dàng nhưng việc tính toán chi phí, đặc biệt là chi phí tín dụng lại rất

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng bán lẻ
* Tỷ trọng lợi nhuận bán lẻ (%)
Lợi nhuận tín dụng bán
lẻ
Tỷ trọng lợi nhuận bán lẻ (%) = ____________________________
x100%
Tổng lợi nhuận của chi
nhánh
- Chỉ tiêu này để xác định cơ cấu đóng góp của lợi nhuận bán
lẻ so với tổng lợi nhuận.Tỷ trọng này càng cao phản ánh mức độ
đóng góp của lợi nhuận bán lẻ càng lớn.
* Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí (%)
Lợi nhuận tín dụng bán lẻ
trong kỳ
Tỷ

suất

lợi

nhuận

theo

chi

phí

(%)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status