Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
MỤC LỤC
STT
Nội dung
Trang
1
Chú thích phần viết tắt
2
2
A. Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I.
Đặt vấn đề.
II.
Mục đích (Mục tiêu) nghiên cứu
3
3
3
B. Phần thứ 2: GIẢI QUYÉT VẤN ĐỀ
I.
16
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
CHÚ THÍCH PHẦN VIẾT TẮT
STT
Các chữ viết tắt
Nội dung
1
GD-ĐT
Giáo dục và Đào tạo
2
GV
Giáo viên
3
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
9
SGK
Sách giáo khoa
10
THCS
Trung học cơ sở
2
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
1. Lý do lý luận
Học sinh trung học cơ sở (THCS) người dân tộc thiểu số (DTTS) cũng có
những đặc điểm tâm lí chung như những học sinh THCS người Kinh cùng trang
lứa. Tuy nhiên bên cạnh những đặc điểm chung đó các em có những nét đặc
trưng riêng, những đặc trưng mang tính của tộc người và những đặc trưng do
điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa tạo nên. Trong phạm vi bài viết này, tôi dựa
trên những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS người DTTS và đi sâu tìm
hiểu, phân tích một số đặc điểm tâm lí tiêu biểu mà ở trường Phổ thông dân tộc
nội trú trung học cơ sở (PTDNT THCS) Krông Ana.
Là cán bộ quản lí, giáo viên công tác ở trường PTDTNT THCS cấp huyện,
toàn thể giáo viên trong trường nghiên cứu vận dụng vào việc giáo dục cho học
3
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
sinh trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana để giúp các em học tốt các môn
học, có tinh thần yêu trường, mến bạn, quí thầy cô và giúp các em luôn luôn cảm
thấy: “Mỗi ngày mình sống ở trường là một niềm vui, niềm hạnh phúc” để áp
dụng vào việc giáo dục học sinh DTTS tại trường PTDTNT THCS Krông Ana để
hạn chế tình trạng học sinh bỏ học, đảm bảo duy trì sỉ số. Ngoài ra còn giúp các
em phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng
sống cơ bản nhằm phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình
thành nhân cách học sinh, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào
cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
II. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
1. Mục đích:
Giáo dục kỷ luật tích cực góp phần giáo dục đạo đức lối sống cho học
sinh bởi vì mục đích của giáo dục kỷ luật tích cực là:
+ Dạy học sinh tự hiểu hành vi của mình, tự có các sáng kiến và có trách
nhiệm đối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình và tôn trọng người
khác. Nói cách khác giúp trẻ có một quá trình phát triển tư duy và có các hành vi
tích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời con người.
+ Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh.
+ Dạy cho học sinh những kỹ năng sống mà các em sẽ cần trong suốt cả
cuộc đời.
+ Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong học
tập và cuộc sống của các em.
+ Dạy cho học sinh biết cách cư xử nhã nhặn, không bạo lực, tôn trọng
bản thân, biết thông cảm và tôn trọng quyền của người khác.
+ Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong học
tập và cuộc sống của các em.
+ Dạy cho học sinh biết cách cư xử nhã nhặn, không bạo lực, tôn trọng
bản thân, biết thông cảm và tôn trọng quyền của người khác.
Khi giáo viên áp dụng các nội dung GDKLTC như đã nêu trên, học sinh
không cảm thấy bị xúc phạm dẫn đến chán nản, GDKLTC giúp cho việc tạo ra
mối quan hệ thân thiết giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh, bố mẹ và
con cái.
+ Mời phụ huynh tham gia vào các hoạt động tập thể do nhà trường, lớp tổ
chức.
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận của vấn đề:
1. Kỷ luật là gì:
Chúng ta biết rằng kỷ luật là những quy tắc quy định, luật lệ mà con
người phải thực hiện, chấp hành, tuân theo để đạt được mục tiêu đề ra.Kỷ luật là
chìa khóa vạn năng giúp con người trở nên hoàn tất và thành công trong cuộc
sống.
Trong thực tế “kỷ luật” thường được hiểu nhầm là “khống chế” và “
trừng phạt” đặc biệt trừng phạt thân thể. Tuy nhiên, đó không phải là nghĩa thực
của từ “kỷ luật” đối với học sinh.
2. Giáo dục kỷ luật tích cực là gì?
Quan điểm của giáo dục kỷ luật tích cực là: Việc mắc lỗi của học sinh
được coi như lẽ tự nhiên của quá trình học tập và phát triển. Nhiệm vụ quan
trọng của chúng ta là làm thế nào để học sinh tự nhận thức được bản thân, tự
kiểm soát được hành vi, thái độ, trên cơ sở các nội quy, quy chế đã được xây
dựng. Khi học sinh mắc lỗi, giáo viên là bạn, là anh, là chị, người mẹ, người cha
chỉ cho các em nhận ra lỗi của mình để tự điều chỉnh. Việc tự nhận ra lỗi để điều
chỉnh bản thân là cơ sở cho sự phát triển hoàn thiện nhân cách. Kỷ luật tích cực
mang tính xây dựng và là biện pháp hiệu quả, nhằm tìm ra giải pháp giải quyết
các tình huống mang tính thách thức trong lớp học và trong nhà trường. Giáo dục
Không có các quy tắc, giới hạn hay sự mong đợi.
Những phản ứng mang tính ngắn hạn hay những hình phạt thay thế cho
việc tát, đánh hay sỉ nhục.
II. Thực trạng
1. Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh
Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh THCS người DTTS được mô tả
một số nội dung dưới đây:
1.1 Một số vấn đề về tri giác:
Tri giác là một quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính
của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan.
Nghiên cứu đặc điểm tri giác của học sinh THCS người DTTS có thể rút
ra một số nhận xét sau:
Độ nhạy cảm của thính giác của các em rất cao, mắt các em rất tinh. Tai
và mắt của các em rất tinh nhạy là do từ nhỏ các em đã theo người lớn vào rừng
săn bắn, bẫy chim, tìm cây, tìm rau rừng… nên hình thành thói quen tri giác tập
trung, khả năng phân biệt sự vật và hiện tượng tốt. Nghe tiếng chim hót các em
có thể nhận ra đó là chim gì, nhìn vết chân các em biết đó là loài thú gì, các em
có thể phát hiện những con vật nhỏ bé như con vắt, con kiến… Giác quan tinh,
nhạy là điều kiện thuận lợi cho các em tri giác đối tượng trong học tập và biết
vâng lời thầy cô giáo.
6
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
Sự định hướng tri giác theo nhiệm vụ (học tập) đặt ra chưa cao. Các em
thường bị thu hút vào những thuộc tính rực rỡ, màu sắc mới lạ ở bên ngoài đối
tượng tri giác, do vậy các em khó phân biệt được đâu là thuộc tính bản chất, đâu
là thuộc tính không bản chất.
Khả năng tư duy hình học, vật lí của các em còn yếu. Các em có thể nhận
tốt các chuyển di ngôn ngữ có lợi, tôi nghĩ rằng chúng ta coi nhẹ khó khăn hay
quá nhấn mạnh khó khăn của học sinh dân tộc khi học tiếng Việt đều là không
đúng với khoa học dạy tiếng.
1.3 Đặc điểm về tư duy:
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối liên hệ bên trong có tính chất quy luật của sự vật hiện tượng trong
7
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
hiện thực khách quan mà trước đó chưa biết. Học sinh DTTS có các đặc điểm tư
duy riêng biệt sau:
Các em chưa có thói quen lao động trí óc, phần lớn các em ngại suy nghĩ,
ngại động não, khi gặp phải vấn đề khó khăn là các em bỏ qua, nên dẫn tới khả
năng tự học hạn chế. Vì vậy khi gặp vấn đề này thì trong quá trình giáo dục kỷ
luật giáo viên cần lưu ý.
Tư duy của học sinh DTTS còn thể hiện kém nhanh nhẹn, kém linh hoạt
và kém mềm dẻo. Mặt khác do hạn chế về Tiếng Việt nên ngại tranh luận, ngại
trình bày các vấn đề khó nói, sợ bị các bạn cười.
Học sinh DTTS tư duy trực quan hình ảnh tốt, tư duy trừu tượng logic yếu.
Học sinh DTTS thường tồn tại kiểu tư duy kinh nghiệm; yếu về tư duy lí
luận, tư duy sáng tạo, tư duy khoa học.
Những đặc điểm về tư duy chi phối toàn bộ quá trình nhận thức của các
em, tác động mạnh mẽ tới các thuộc tính tâm lí và trạng thái tâm lí, trong giáo
dục giáo viên cần giúp các em tư duy lí luận, tư duy khoa học thông qua các hoạt
động.
1.4 Đặc điểm về trí nhớ
Học sinh DTTS có một số đặc điểm về ghi nhớ sau:
Ghi nhớ máy móc chiếm ưu thế, các em ghi nhớ một cách rời rạc, thiếu
cần thiết.
Nắm được những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS giúp
cho giáo viên lựa chọn được những phương pháp giáo dục thích hợp với từng đối
tượng học sinh dân tộc, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh, nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục ở trường PTDTNT THCS
đặc biệt là giáo dục kỷ luật tích cực.
2. Thực trạng về cách giáo dục kỷ luật của một số giáo viên.
Khi chưa nắm biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực nếu có học sinh vi phạm
các quy định, quy tắc của lớp, của trường thì có một số giáo viên trong trường
thường dùng biện pháp trừng phạt thân thể bao gồm: trừng phạt về thể xác (đánh,
véo, dùng vật để đánh, kéo tai, giật tóc, buộc học sinh phải ở trong một tư thế
không thoải mái (quỳ, úp mặt vào tường…) và trừng phạt về tinh thần (la mắng,
nhiếc móc, hạ nhục, làm cho xấu hổ, chửi rủa làm cho khó xử…)
Trừng phạt về thân thể hay trừng phạt tinh thần đều không phải là giáo dục
kỷ luật, trừng phạt làm đánh mất sự tự tin của học sinh, giảm ý thức kỷ luật và
khiến cho học sinh không thích, thậm chí căm ghét trường học.
Trừng phạt thân thể là việc làm đánh mất danh dự của học sinh, có thể để lại
những vết sẹo trong tâm hồn của học sinh, khiến các em luôn có thái độ thù địch.
Ảnh hưởng của trừng phạt đối với hành vi đạo đức lối sống của học sinh
DTTS:
+ Việc giáo viên trừng phạt thân thể đối với học sinh vô tình đem tới cho trẻ
một thông điêp sai lầm, rằng cứ dùng bạo lực là có thể giải quyết hết mọi việc.
Từ đó trẻ bắt chước cách làm của người lớn rồi dùng bạo lực để giải quyết các
bất đồng của mình với người khác.
+ Việc trừng phạt thân thể có xu hướng nuôi dưỡng thái độ thù địch, hung
hăng, trái ngược với ý thức kỷ luật tự giác. Đôi khi do quá dạn đòn, trẻ sẽ trở nên
chai lì. Bướng bỉnh, khó bảo, thậm chí chống đối.
+ Việc trừng phạt thân thể phá hủy mối quan hệ quan tâm, gắn bó, tin tưởng
giữa giáo viên và học sinh. Có trẻ vì thế mà oán hận thù ghét người lớn, làm
phản lại quá trình phát triển về mặt đạo đức, ảnh hưởng đến mối quan hệ thầy
quan đến môi trường, hoàn cảnh sống của các em, những khó khăn trong học tập
(học yếu, mắt kém, khó khăn về nghe, khó khăn về sử dụng Tiếng Việt) những
vấn đề về ở gia đình (hoàn cảnh kinh tế, cha mẹ bất hòa, ly hôn…) những bức
xúc khi các em bị tổn thương và bị hiểu lầm hay bị đối xử tàn tệ (bị chế nhạo,
xúc phạm, bị bắt nạt, bị bóc lột, hay lạm dụng) Nhiều khi chỉ vì muốn nhanh
chóng chấn chỉnh thái độ và cách cư xử của học sinh mà giáo viên bỏ qua việc
tìm hiểu “cốt lõi” của vấn đề.
2. Tăng cường sự tham gia của học sinh DTTS trong hoạt động xây
dựng nội quy lớp, trường học.
Biện pháp này nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của việc cho học sinh DTTS
tham gia vào quá trình ra quyết định trong lớp học. Cụ thể là việc tham gia xây
dựng nội quy lớp, quy định chế độ khen thưởng và xử phạt, học sinh tham gia
giám sát và thực hiện nội quy thông qua tổ chức cho các em cảm thấy có trách
nhiệm và thực hiện kỷ luật một cách tự giác hơn, giáo viên không cần nhắc nhở
và tránh được những sự cố trong lớp học.
Sau khi đã tổ chức hoạt động này, nội quy do học sinh xây dựng nói chung
đều có nội dung phù hợp với quy định chung của ngành và nhà trường, nhưng
với ngôn ngữ của học sinh DTTS nên gần gũi với các em hơn và các em chấp
nhận một cách dễ dàng và tự nguyện hơn. Không chỉ vậy, thông qua quá trình
10
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
tham gia xây dựng nội quy (Nội quy trường, lớp, nội quy ký túc xá, nội quy nhà
ăn…), để giúp học sinh rèn luyện cho mình khả năng bày tỏ suy nghĩ của bản
thân, biết đưa ra các quyết định, phát huy tinh thần tập thể và tinh thần trách
nhiệm của các em.
3. Xây dựng tập thể lớp
Việc xây dựng một tập thể lớp học tốt, tạo ra mối quan hệ thân thiện, cảm
tích cực
Nhà trường có cơ chế cụ thể trong việc thực hiện các biện pháp giáo dục
tích cực. Cơ chế này được xây dựng trên cơ sở thống nhất của Hội đồng sư phạm
bao gồm đầy đủ các nội dung như kiểm tra giám sát việc thực hiện, khen thưởng,
11
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
tôn vinh những giáo viên thực hiện tốt, kỷ luật nghiêm khắc những giáo viên vi
phạm nội quy. Việc nhà trường thực hiện tốt cơ chế này sẽ đảm bảo tất cả học
sinh để được hưởng lợi ích của biện pháp giáo dục tích cực.
+ Tuyên truyền tới phụ huynh:
Tổ chức tuyên truyền cho phụ huynh về GDKLTC thông qua các buổi họp
phụ huynh đầu năm, kết thúc học kỳ I va cuối năm.
Mời phụ huynh tham gia vào quá trình thực hiện. Ví dụ: Lấy ý kiến của
phụ huynh đóng góp cho nội quy lớp. trường học để phụ huynh nắm được và
phối hợp với nhà trường trong việc theo dõi, giám sát thực hiện.
Mời phụ huynh tham gia vào các hoạt động tập thể do nhà trường, lớp tổ
chức.
IV. Tính mới của giải pháp
1. Đối với giáo viên:
Tính mới của giải pháp GDKLTC đối với giáo viên thể hiện qua các tiêu chí
sau:
1.1 Thay đổi cách cư xử trong lớp học:
Trước đây một số giáo viên thường xử lý sai phạm của học sinh bằng hình
thức trừng phạt như mắng, nhiếc, sỉ nhục, đánh đập … Điều đó có thể giúp mang
lại sự sửa đổi tức thì của học sinh nhưng để lại trong tâm hồn học sinh sự tổn
thương về thể xác và tinh thần.
Khi áp dụng biện pháp Giáo dục kỷ luật tích cực chúng ta đã thay đổi cách
Làm gương trong cách cư xử có ý nghĩa hết sức quan trọng: Giáo viên là
tấm gương mẫu mực cho học sinh về tư cách đạo đức. Học sinh học và làm theo
những gì các em thấy từ cuộc sống và từ những thầy cô trong trường. Giáo viên
trong trường không dùng bạo lực dẫn đến không có học sinh sử dụng bạo lực.
Giáo viên cư xử một cách nhẹ nhàng, có lòng khoan dung, nhẫn nại và học sinh
đã học theo cách cư xử này.
2. Đối với học sinh:
Tính mới của Giáo dục kỷ luật tích cực trong việc giáo dục đạo đức lối
sống cho học sinh là:
+ Dạy học sinh tự hiểu hành vi của mình, tự có các sáng kiến và có trách
nhiệm đối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình và tôn trọng người
khác. Nói cách khác giúp học sinh có một quá trình phát triển tư duy và có các
hành vi tích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời con người.
+ Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh.
+ Dạy cho học sinh những kỷ năng sống mà các em sẽ cần trong suốt cả
cuộc đời.
+ Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong học
tập và cuộc sống của các em.
+ Dạy cho học sinh biết cách cư xử nhã nhặn, không bạo lực, tôn trọng
bản thân, biết thông cảm và tôn trọng quyền của người khác.
Khi giáo viên áp dụng các biện pháp GDKLTC, học sinh không cảm thấy
bị xúc phạm dẫn đến không chán nản, GDKLTC giúp cho việc tạo ra mối quan
hệ thân thiết giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh, bố mẹ và con cái.
V. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi nghiên cứu đề tài Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân
tộc thiểu số, bản thân đã hướng dẫn giáo viên vận dụng đề tài vào việc giáo dục
cho học sinh dân tộc thiểu số trường PTDTNT THCS Krông Ana từ năm hoc
2018 - 2019 đã đạt được các kết quả:
Thứ nhất: Giáo viên trong trường không dùng bạo lực dẫn đến không có
học sinh sử dụng bạo lực. Giáo viên cư xử một cách nhẹ nhàng, có lòng khoan
sinh trở nên ngoan hơn, có ý thức kỷ luật tốt hơn, dẫn tới kết quả học tập tốt hơn.
Nếu thầy cô giáo nào tâm huyết thì đề tài này áp dụng được vào các trường
THCS có nhiều học sinh dân tộc thiểu số. Ngoài ra nếu nghiên cứu thêm tâm
sinh lý của lứa tuổi học sinh THCS thì đề tài sẽ áp dụng được vào các trường
THCS. Trong quá trình nghiên cứu và vận dụng đề tài sẽ có bất cập, bởi vậy tôi
muốn lắng nghe ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp.
Rất mong ý kiến phản hồi.
II.
Kiến nghị
Một sáng kiến kinh nghiệm có thể áp dụng được cho nhiều năm và cũng
có thể nhiều năm mới có một sáng kiến kinh nghiệm, do vậy tôi đề nghị các cấp
của ngành Giáo dục và Đào tạo nên nghiên cứu và giải quyết hai vấn đề sau:
+ Vấn đề thứ nhất: Khi một sáng kiến kinh nghiệm có giải cao nên tổ chức
thành chuyên đề để áp dụng và nhân rộng.
+ Vấn đề thứ hai: Khi một sáng kiến kinh nghiệm có giải cao nên cho tác
giả đó được bảo lưu từ 1 – 2 năm. Nếu một năm viết một sáng kiến kinh nghiệm
thì hiệu quả không cao.
Krông Ana, ngày 20 tháng 2 năm 2019
Người viết
Võ Đại Luân
14
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc tại trường
PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
4
Nghiên cứu về chuyển tiếp từ Tiểu học
lên THCS của trẻ em người DTTS
16
Tên tác giả
NXB
Lê Văn Hồng
Hà Nội
Hà Đức
Giáo
dục
Nguyễn X Thức
Hà Nội
UNCEF
Giáo
dục