Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
MỤC LỤC
STT
Nội dung
PHẦN MỞ ĐẦU:
I.
Lý do chọn đề tài.
II.
Mục tiêu, nhiêm vụ của đề tài.
III. Đối tượng nghiên cứu.
IV. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
V.
Phương nghiên cứ
A.
1
Trang
2
2
11
14
14
14
PHẦN NỘI DUNG:
I.
Cơ sở lý luận.
23
24
1
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I.
Lý do chọn đề tài
1. Cơ sở khoa học
Học sinh trung học cơ sở (THCS) người dân tộc thiểu số (DTTS) cũng có
những đặc điểm tâm lí chung như những học sinh THCS người Kinh cùng trang
lứa. Tuy nhiên bên cạnh những đặc điểm chung đó các em có những nét đặc
trưng riêng, những đặc trưng mang tính của tộc người và những đặc trưng do
điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa tạo nên. Trong phạm vi bài viết này, tôi dựa
trên những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS người DTTS và đi sâu tìm
hiểu và phân tích một số đặc điểm tâm lí tiêu biểu mà ở trường PTDNT
THCSKrông Ana vùng dân tộc và miền núi nơi tôi quan tâm để trong quá trình tổ
chức các hoạt động dạy học và giáo dục kỷ luật.
Là cán bộ quản lí, giáo viên công tác ở trường PTDTNT THCS cấp
huyện, việc hiểu những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS là rất
cần thiết.
Nắm được những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS giúp
cho giáo viên lựa chọn được những phương pháp giáo dục thích hợp với từng đối
tượng học sinh dân tộc, phát huy được tính tích cực, chủ động, sang tạo của học
sinh, nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục ở trường PTDTNT THCS
đặc biệt là giáo dục kỷ luật tích cực.
tập quán, ngôn ngữ khác nhau. Khi mới vào trường PTDTNT THCS các em còn
nhỏ (độ tuồi từ
phối hợp với nhà trường trong việc theodõi, giám sát thực hiện.
+ Mời phụ huynh tham gia vào các hoạt động tập thể do nhà trường / lớp tổ
chức.
+ Tuyên truyền bằng tờ rơi bằng cách gửi trực tiếp cho phị huynh, bằng áp
píc treo ở các trung giáo dục cộng đồng hay các nhà văn hóa của các thôn buôn
• Đối với giáo viên:
Khi GDKLTC cho học sinh giáo viên cần thực hiện các nội dung sau:
+ Dạy trẻ tự hiểu hành vi của mình, tự có các sáng kiến và có trách nhiệm
đối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình, biết tôn trọng mình và tôn
trọng người khác. Nói cách khác giúp trẻ có một quá trình phát triển tư duy và có
các hành vi tích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời con người.
+ Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh.
+ Dạy cho học sinh những kỷ năng sống mà các em sẽ cần trong suốt cả
cuộc đời.
+ Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong học
tập và cuộc sống của các em.
+ Dạy cho học sinh biết cách cư xử nhã nhặn, không bạo lực, tôn trọng
bản thân, biết thông cảm và tôn trọng quyền của người khác.
Khi giáo viên áp dụng các nội dung GDKLTC như đã nêu trên, học sinh
không cảm thấy bị xúc phạm dẫn đến chán nản, GDKLTC giúp cho việc tạo ra
mối quan hệ thân thiết giữa giáo viên và học sinh , học sinh và học sinh, bố mẹ
và con cái.
•
Đối với Phụ huynh:
Tìm hiểu về GDKTTC thông qua các buổi họp phụ huynh, các buổi hội
thảo, tọa đàm…
Tham gia ý kiến đóng góp cho nội quy lớp, trường học để phụ huynh năm
được và phối hợp với nhà trường trong việc theo dõi, giám sát thực hiện.
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
Qua quá trình triển khai thực hiện có lấy ý kiến đóng góp của cán bộ giáo
viên, phụ huynh và học sinh để bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực
tế ở trường.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận:
Trong trường học, khi học sinh vi phạm các quy định, quy tắc của lớp,
của trường, tùy mức độ vi phạm, các em sẽ bị kỷ luật theo mức độ và hình thức
khác nhau. Trong thực tế có rất nhiều hình thức kỷ luật học sinh. Do ảnh hưởng
của tư tưởng Nho giáo và cách giáo dục truyền thống “Yêu cho roi cho vọt, ghét
cho ngọt cho bùi” “Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”, nhiều giáo viên sử
dụng các hình thức như mắng nhiếc, sỉ nhục, đánh, tát, phạt quỳ, bêu riếu… Biện
pháp cuối cùng của hình thức là đuổi học sinh. Biện pháp này thể hiện sự bất lực
của giáo viên đặc biệt là giáo viên các trường có học sinh DTTS, vô hình chung
chúng ta đẩy ra ngoài xã hội những “sản phẩm kém GD chất lượng” và đó chính
là mầm mống của các hiện tượng tiêu cực gây rối loạn trật tự xã hội tại các vùng
miền núi.
1 Kỷ luật và giáo dục kỷ luật:
Chúng ta biết rằng kỷ luật là những quy tắc quy định, luật lệ mà con
người phải thực hiện, chấp hành, tuân theo để đạt được mục tiêu đề ra.Kỷ luật là
chìa khóa vạn năng giúp con người trở nên hoàn tất và thành công trong cuộc
sống.
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
5
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
Trong thực tế “kỷ luật” thường được hiểu nhầm là “khống chế” và “
cách, chứ không phải làm cho các em bị đớn đau.
Giáo dục kỷ luật tích cực tôn trọng trẻ và không mang tính bạo lực. Đây là
cách tiếp cận mang tính giáo dục, giúp trẻ thành đạt, cung cấp cho các em thông
tin các em cần để học và hỗ trợ sự phát triển của các em.
Giáo dục kỷ luật tích cực không phải là:
- Sự buông thả, để cho học sinh muốn làm gì thì làm.
- Không có các quy tắc, giới hạn hay sự mong đợi.
- Những phản ứng mang tính ngắn hạn hay những hình phạt thay thế cho
việc tát, đánh hay sỉ nhục.
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
6
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
II. Thực trạng
1. Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh
Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh THCS người DTTS được mô tả
một số nội dung dưới đây:
1.1 Một số vấn đề về tri giác:
Tri giác là một quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính
của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan.
Nghiên cứu đặc điểm tri giác của học sinh THCS người DTTS có thể rút
ra một số nhận xét sau:
Độ nhảy cảm của thính giác của các em rất cao, mắt các em rất tinh. Tai và mắt
của các em rất tinh nhạy la do từ nhỏ các em đã theo người lớn vào rừng săn bắn,
bẫy chim, tìm cây, tìm rau rừng… nên hình thành thói quen tri giác tập trung, khả
năng phân biệt sự vật và hiện tượng tốt. Nghe tiếng chim hót các em có thể nhận
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
tiếp bằng tiếng mẹ đẻ. Khi đến trường các em học bằng tiếng Việt, các em đã gặp
khó khăn về ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp.
Qua thảo luận nhóm với học sinh, qua xem bài kiểm tra của các em, xem
vỡ ghi chép hàng ngày của các em và quan sát các em giao tiếp với nhau… Từ
đó có thể kết luận nhận thức về ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh DTTS:
-
Vốn tiếng Việt của học sinh DTTS còn nghèo nàn;
Các em hiểu rất ít về ngôn ngữ tiếng Việt;
Khó khăn trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt;
Khó khăn trong tư duy và nhận thức khoa học.
Theo nhận thức của tôi, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của học sinh dân
tộc nhưng không phải là ngoại ngữ. Học sinh dân tộc tiếp nhận tiếng Việt là tiếp
nhận với trách nhiệm, tình cảm, nghĩa vụ và quyền lợi. Tiếng Việt và các tiếng
dân tộc cũng có nhiều điểm gần gũi về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Vấn đề quan
trọng là giáo viên cần giúp học sinh khắc phục những chuyển di ngôn ngữ có hại
và khai thác tốt các chuyển di ngôn ngữ có lợi, tôi nghĩ rằng chúng ta coi nhẹ
khó khăn hay quá nhấn mạnh khó khăn của học sinh dân tộc khi học tiếng Việt
đều là không đúng với khoa học dạy tiếng.
1.3 Đặc điểm về tư duy:
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối liên hệ bên trong có tính chất quy luật của sự vật hiện tượng trong
hiện thực khách quan mà trước đó chưa biết. Học sinh DTTS có các đặc điểm tư
duy riêng biệt sau:
Các em chưa có thói quen lao động trí óc, phần lớn các em ngại suy nghĩ,
giáo viên cần hướng dẫn học sinh có thói quen truy bài, trao đổi bài thường
xuyên, phát biểu trước đám đông…
1.5 Đặc điểm về tình cảm:
Học sinh DTTS có những đặc điểm về tình cảm như sau:
Tình cảm của các em là chân thực, mộc mạc, yêu ghét rõ ràng, không có
hiện tượng quanh co, lèo lái hoặc khéo léo che đậy những tình cảm của mình.
Tình cảm của các em rất thầm kín.
Các em học sinh rất gắn bó với gia đình, làng bản, quê hương. Hầu hết
các em không muốn xa gia đình. Khi phải đi học ở trường PTDTNT THCS các
em rất nhớ nhà, nhiều khi khóc cả tuần.
Tình cảm bạn bè của các em học sinh DTTS rất độc đáo, thân nhau như
anh em, bảo vệ nhau đến cùng. Bạn nghỉ học cũng phải nghỉ học theo.
Các em rất ưa tình cảm và giải quyết mọi vấn đề bằng tình cảm. Một em
gái dân tộc nói “Khi giáo viên mắng, em thấy buồn và không muốn học nữa”
Sự phát triển cơ thể của thiếu niên diễn ra mạnh mẽ nhưng không cân
đối. Sự hoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng nhất (tuyến yên,
tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận) tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể trẻ, trong
đó sự nhảy vọt về chiều cao và sự phát dục.
1.6 Đặc điểm về tính cách:
Học sinh THCS người DTTS có một số đặc điểm riêng:
Các em sống hồn nhiên, giản di, thật thà, chất phác.
Do hạn chế về Tiếng Việt nên các em rất rụt rè, rất ít nói, hay tự ti.
Các em đã bắt đầu có lòng tự trọng, có tính bảo thủ và đặc biệt là hay tự ái và
hay tủi thân.
Các em sống theo kiểu phóng khóang, tự do, không thích gò bó, chặt chẽ.
Trong giao tiếp, các em không biết nói năng mềm dẻo, tế nhị. Đại đa số nói trống
không, cộc lốc, không cần thưa gửi, một phần do ngôn ngữ bị hạn chế.
1.7 Đặc điểm về nhu cầu:
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
DTTS. Do vậy việc mở rộng phạm vi nhu cầu như: Tổ chức các hoạt động học
tập thể, lao động, vui chơi, giao lưu, hoạt đ6ọng xã hộ, văn hóa thể thao… là tiền
đề sinh ra nhu cầu mới, nhu cầu nhận thức. Tổ chức giáo dục theo các hình thức
khác nhau như giáo dục tự học, giáo dục học ngoài giờ chính khóa, giáo dục qua
tình huống, giáo dục qua hoạt động ngoại khóa đều có tác dụng bổ sung tri thức,
mở ra những nhu cầu mới cho học sinh.
Trong một môi trường mới, trường PTDTNT THCS, hoạt động của bản
thân học sinh là động lực trở thành thành viên xã hội, phát triển nhân cách. Các
dạng hoạt động như: Học tập, vui chơi, hoạt động xã hội …đều được thong qua
giao lưu quan hệ với người khác (thầy- trò, bạn bè, gia đình, xã hội…). Trong dó
nhu cầu khẳng định trong học tập và rèn luyện ngày càng chiếm ưu thế và là đặc
điểm quan trọng của học sinh. Đồng thời, nhu cầu của học sinh ở cuối cấp hướng
vào sự thành đạt, nhu cầu học nghề, nhu cầu tình bạn, tình yêu… so với học sinh
người kinh có sự đa dạng và phân hóa về mức độ và tính chất. Sự phát triển về
nhu cầu của học sinh đang diễn ra đúng quy luật chung: Từ những quá trình và
chức năng trực tiếp thành gián tiếp, từ không chủ định thành chủ định, từ chưa có
ý thức đến có ý thức. Quá trình hình thành nhu cầu, động cơ học tập không tách
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
10
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
rời phương pháp, biện pháp tổ chức học tập. Do đó, mọi hoạt động của học sinh
DTTS, dưới sự chí đạo của thầy phải xác định học sinh là chủ thể của hoạt động
giáo dục.
Nếu như trước khi đến trường PTDTNT THCS, học sinh chưa có nhu
cầu, động cơ học tập rõ rệt thì quá trình hình thành nhu cầu của học sinh trong
thấy chỉ có một hành vi cử chỉ không thân thiện của giáo viên là các em có thể
bỏ học. Một em gái dân tộc ÊĐê nói “Khi giáo viên mắng, em thấy buồn và
không muốn học nữa”.
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
11
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
Giao tiếp với người lớn: Ở tuổi thiếu niên xuất hiện một cảm giác rất độc
đáo: “Cảm giác mình đã là người lớn” Các em cảm thấy mình không còn là trẻ
nhỏ nữa, nhưng các em cũng có cảm giác mình chưa thực sự là người lớn.
Cảm giác mình đã là người lớn được thể hiện rất phong phú về nội dung
và hình thức. Các em quan tâm đến hình thức, tác phong, cử chỉ… và những khả
năng của bản thân. Cảm giác về sự trưởng thành và nhu cầu được người lớn thừa
nhận nó là người lớn đã đưa đến vấn đề quyền hạn của người lớn và các em
trong quan hệ với nhau. Các em mong muốn hạn chế quyền hạn của người lớn
mà mở rộng quyền hạn của mình; các em mong muốn người lớn tôn trọng nhân
cách, phẩm giá, tin tưởng và mở rộng tính độc lập của các em.
Do đặc điểm cư trú, văn hóa cho nên học sinh THCS người DTTS đã
sớm có tính tự lập từ nhỏ, khi học tiểu học các em tự đến trường không cần phải
người lớn đưa đón như học sinh người Kinh ở thành phố; các em gái đã làm giúp
gia đình được nhiều việc; nhiều em gái dân tộc Mnông có thể biết tự may vá
quần áo cho mình; các em có thể nấu cơm, giặt quần áo… khi học lên THCS các
em đã phát triển về thể lực và sinh lí, do vậy các em càng khẳng định mình là
người lớn.
Quá trình học tập ở trường PTDTNT THCS học sinh được mở rộng tầm
ngôn ngữ. Nhu cầu giao tiếp tích cực, chủ động mở rộng phạm vi giao tiếp phụ
thuộc vào năng lực, trí tuệ và động cơ.
Tóm lại phạm vi giao tiếp của học sinh ở trường THCS, trường PTDTNT
THCS được mở rộng: Phương tiện giao tiếp chủ yếu của các em là tiếng phổ
thông; tính tích cực giao tiếp chưa cao; khả năng giao tiếp và nhận thức, nhu cầu
còn có mâu thuẫn. Giao tiếp của học sinh được định hướng bởi mục đích, nội
dung các hoạt động, phương thức giáo dục của nhà trường. Từ những đặc điểm
này đòi hỏi các tổ chức học tập của học sinh DTTS phải đổi mới, phù hợp với
nhu cầu đúng đắn của các em, tạo ra môi trường rèn luyện giao tiếp cho học sinh.
1.9 Đặc điểm về sự hình thành ý thức và tự ý thức:
Đặc điểm về nhận thức, về tính cách, tình cảm, giao tiếp… của học sinh
THCS đã nói lên những đặc điểm về sự hình thành ý thức và sự tự ý thức của
học sinh DTTS.
Do sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, đặc biệt do sự phát triển của các
mối quan hệ xã hội và sự giao tiếp trong tập thể mà ở các em đã biểu hiện nhu
cầu tự đánh giá nhu cầu so sánh mình với người khác. Các em đã bắt đầu xem
xét mình, vạch cho mình một nhân cách tương lai, muốn hiểu biết mặt mạnh mặt
yếu trong nhân cách của mình.
Mức độ ý thức của các em cũng có sự khác nhau. Về nội dung, không
phải tất cả là những phẩm chất của nhân cách đều ý thức được hết. Ban đầu các
em chỉ nhận thức hành vi của mình trong những phạm vi khác nhau, cuối cùng
các em mới nhận thức hành vi của mình, sau đó là nhận thức những phẩm chất
đạo đức , tính cách và năng lực của mình trong những phạm vi khác nhau, cuối
cùng các em mới nhận thức những phẩm chất phức tạp thể hiện nhiều mặt nhân
cách (tình cảm, trách nhiệm, lòng tự trọng…) về cách thức, ban đầu các em còn
dựa vào đánh giá của những người gần gủi và có uy tín với minh. Dần dần các
em hình thành khuynh hướng độc lập phân tích và đánh giá bản thân. Nhưng khả
năng tự đánh giá của thiếu niên còn hạn chế, chưa đủ khách quan… do đó, nảy
sinh những xung đột, mâu thuẫn giữa thái độ kỳ vọng của các em đối với địa vị
thực tế của chúng trong tập thể; mâu thuẫn giữa thái độ và các em đối với bản
huyện, việc hiểu những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS là rất
cần thiết.
Nắm được những đặc điêm tâm lí của học sinh THCS người DTTS giúp
cho giáo viên lựa chọn được những phương pháp giáo dục thích hợp với từng đối
tượng học sinh dân tộc, phát huy được tính tích cực, chủ động, sang tạo của học
sinh, nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục ở trường PTDTNT THCS
đặc biệt là giáo dục kỷ luật tích cực.
2.
Thực trạng về cách giáo dục kỷ luật của giáo viên.
Khi chưa nắm biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực nếu có học sinh vi phạm
các quy định, quy tắc của lớp, của trường thì có một vài giáo viên trong xã hội
thường dùng biện pháp trừng phạt thân thể bao gồm: trừng phạt về thể xác (đánh,
véo, dùng vật để đánh, kéo tai, giật tóc, buộc học sinh phải ở trong một tư thế
không thoải mái (quỳ, úp mặt vào tường…) và trừng phạt về tình thân (la mắng,
nhiếc móc, hạ nhục, bỏ rơi, làm cho xấu hổ, chửi rủa làm cho khó xử…)
Trừng phạt về thân thể hay tinh thần đều không phải là giáo dục kỷ luật,
trừng phạt làm đánh mất sự tự tin của học sinh, giảm ý thức kỷ luật và khiến cho
học sinh không thích, thậm chí căm ghét trường học.
Trừng phạt thân thể là việc làm đánh mất danh dự của học sinh, có thể để lại
những vét sẹo trong tâm hồn của học sinh, khiến các em luôn có thái độ thù địch.
Ảnh hưởng của trừng phạt đối với hành vi đạo đức lối sống của học sinh
DTTS:
2.1 Việc người lớn trừng phạt thân thể đối với trẻ vô tình đem tới cho trẻ
một thông điêp sai lầm, rằng cứ dùng bạo lực là có thể giải quyết hết mọi việc.
Từ đó trẻ bắt chước cách làm của người lớn rồi dùng bạo lực để giải quyết các
bất đồng của mình với người khác.
Người thực hiện: Võ Đại Luân
và đánh, mắng của cô giáo”
III. Nội dung và hình thức của giải pháp:
1. Mục tiêu của giải pháp
• Đối với giáo viên:
Mục tiêu của giải pháp GDKLTC là giúp giáo viên phải đạt đến các
tiêu chí sau:
a. Thay đổi cách cư xử trong lớp học:
Trước đây một số giáo viên thường xử lý sai phạm của học sinh bằng hình
thức trừng phạt như mắng, nhiếc, sĩ nhục, đánh đập … Điều đó có thể giúp mang
lại sự sửa đổi tức thì của trẻ nhưng để lại trong tâm hồn trẻ sự tổn thương về thể
xác và tinh thần.
Khi áp dụng biện pháp Giáo dục kỷ luật tích cực chúng ta cần phải thay đổi
cách xử lý sai phạm của học sinh. Cần xử lý nghiêm khắc nhưng với thái độ
động viên khuyến khích nhằm giúp học sinh có hành vi và thái độ ứng xử đúng
đắn. Nhóm biện pháp này nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của những quy tắc rõ
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
15
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
ràng và nhất quán, niềm tin vào sự tiến bộ của trẻ. Việc xử lý những sai phạm
một cách rõ ràng, dứt khoát, sự động viên, khuyến khích và làm gương trong
cách cư xử. Nguyên tắc là thay chê bai bằng khen ngợi.
b. Xây dựng nguyên tắc rõ ràng và nhất quán:
Nguyên tắc cơ bản của việc thay đổi cách cư xử nhằm duy trì kỷ luật ở lớp
học, thông qua cách cư xử là xây dựng được những quy tắc rõ ràng và đảm bảo
học sinh hiểu được vì sao cần có những quy tắc ấy.
trọng người khác. Nói cách khác giúp trẻ có một quá trình phát triển tư duy và có
các hành vi tích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời con người.
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
16
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
b. Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh.
c. Dạy cho học sinh những kỷ năng sống mà các em sẽ cần trong suốt cả
cuộc đời.
d. Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong học
tập và cuộc sống của các em.
e. Dạy cho học sinh biết cách cư xử nhã nhặn, không bạo lực, tôn trọng
bản thân, biết thông cảm và tôn trọng quyền của người khác.
Khi giáo viên áp dụng các biện pháp GDKLTC, học sinh không cảm thấy bị
xúc phạm dẫn đến chán nản, GDKLTC giúp cho việc tạo ra mối quan hệ thân
thiết giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh, bố mẹ và con cái.
2. Nội dung và cách thực hiện giải pháp
a. Quan tâm đến những khó khăn của học sinh DTTS.
Những vấn đề về hành vi có thể khiến học sinh DTTS gặp khó khăn trong
học tập và những khó khăn trong học tập có thể gây ra những vấn đề về hành vi.
Các chuyên gia tâm lí về trẻ em, những người nghiên cứu về hành vi của trẻ
ở trường học kết luận rằng. Những vấn đề về thái độ và cách cư xử trong trẻ em
phần lớn bắt nguồn từ những vấn đề thực tế mà các em phải đối mặt trong cuộc
sống. Đây thường là những vấn đề có liên quan đến môi trường, hoàn cảnh sống
của các em, những khó khăn trong học tập (học yếu, mắt kém, khó khăn về nghe,
khó khăn về sử dụng Tiếng Việt) những vấn đề về ở gia đình (hoàn cảnh kinh tế,
thông và gắn bó giữa giáo viên và học sinh trong quá trình giáo dục. Một tập thể
lớp tốt là môi trường lý tưởng để trẻ học tập và phát triển nhân cách, là một tập
thể hướng tới hoạt động dựa trên các giá trị như: Tôn trọng, yêu thương, giúp đỡ
lẫn nhau, đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm, biết cách giải quyết các xung đột
không bằng bạo lực… Học sinh DTTS có thể học từ một tập thể lớp tốt những
bài học đạo đức qua tấm gương tốt của giáo viên và của bạn trong lớp học. Trong
tập thể có, học sinh có cơ hội suy nghĩ, cảm xúc của mình về các nguyên tắc đạo
đức với sự khuyến khích, cảm thông và tôn trọng của thầy cô và các bạn. Trong
tập thể lớp đó không có trừng phạt thân thể và học sinh DTTS học cách giải
quyết xung đột bằng cách thức không bạo lực.
d. Đề xuất các biện pháp tuyên truyền giáo dục kỷ luật tích cực tới giáo
viên, phụ huynh:
+ Tổ chức tuyên truyền vận động
Tuyên truyền, vận động là một trong những biện pháp quan trọng để cán bộ
quản lý giáo dục tác động đến nhận thức của giáo viên. Công tác tuyên truyền,
vận động càng rộng rãi, thường xuyên bằng nhiều hình thức phong phú như treo
panô, khẩu hiệu, tờ rơi sẽ giúp giáo viên thay đổi nhận thức trong thời gian sớm
nhất.
+ Cung cấp sách báo, tài liệu:
Sách báo, tài liệu là một trong những nguồn cung cấp thông tin không thể
thiếu, giúp cho việc thay đổi nhận thức của giáo viên. Thông qua nguồn thông tin
này, giáo viên tự học hỏi và tích lũy kinh nghiệm giao dục học sinh mà không
dung hình phạt.
+ Tổ chức các lớp tập huấn:
Các lớp tập huần, hội thảo luôn mang lại cho giáo viên những ý tưởng hay.
Cánbộ quản lý giáo dục cần tổ chức các cuộc hội thảo, tập huấn để giáo viên
nhận thức được mục đích việc sử dụng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực,
giúp họ chọn lọc, sáng tạo những hình thức giáo dục phù hợp với đối tượng học
sinh lớp mình.
+ Xây dựng cơ chế khuyến khích việc thực hiện các biện pháp giáo dục tích
Năm
TS
Tổng
Học
Lớp
Số
HS
2015 -2016
HẠNH KIỂM
Tốt
SL
%
Khá
SL %
Ghi
TB
SL
Yếu
1,1
0
0
Chú
Kết quả trên cho thấy nếu vận dụng tốt “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với
học sinh dân tộc thiểu số tại trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông
Ana”thì tỷ lệ hạnh kiểm tốt năm sau cao hơn năm trước, tỷ lệ hạnh kiểm khá và
trung bình giảm. Điều này làm cho học sinh thích thú hơn khi đến trường và các
em thực hiện rất tốt trong phong trào thi đua học tốt cụ thể trước năm học 2015
– 2016 học sinh giỏi văn hóa cấp huyện hầu như không có nếu có thì chỉ 1 - 2
emnhưng từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2016 – 2017 số học sinh giỏi
văn hóa cấp huyện ngày càng cao cụ thể:
Năm học 2015 – 2016 có 4 học sinh đạt học sinh giỏi văn hóa cấp huyện, có
1 học sinh đạt giải ba môn Lịch sử cấp tỉnh.
Năm học 2016 – 2017 có 6 học sinh đạt học sinh giỏi văn hóa cấp huyện, có
1 học sinh đạt giải khuyến khích môn Lịch sử cấp tỉnh.
Ngoài ra vận dụng tốt “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc
thiểu số tại trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana ” còn giúp thầy
trò gần gũi nhau hơn, thân thiện hơn. Nhằm góp phần không nhỏ vào sự hình
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
19
Krông Ana, ngày 2 tháng 2 năm 2018
Người viết
Võ Đại Luân
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
20
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
21
Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
5
GDKLTC
Giáo dục kỷ luật tích cực
6
PTDTNT
Phổ thông dân tộc nội trú
7
DTTS
Dân tộc thiểu số
8
QĐ
Quyết định
9
SGK
Sách giáo khoa
lên THCS của trẻ em người DTTS
Tên tác giả
NXB
Lê Văn Hồng
Hà Nội
Hà Đức
Giáo
dục
Nguyễn X Thức
Hà Nội
UNCEF
Giáo
dục
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana
22