skkn một số biện pháp duy trì sĩ số đối với học sinh dân tộc thiểu số (tiểu học) - Pdf 49

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở Tiểu học việc duy trì sĩ số đảm bảo tính chuyên cần đóng vai trò rất quan trọng
trong việc học tập của học sinh. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một
cách đầy đủ, mang lại kết quả cao trong việc học tập và rèn luyện.
Đây là mục tiêu quản lý về số lượng của nhà trường. Có duy trì được sĩ số trong
nhà trường thì mới bảo đảm được vững chắc công tác phổ cập giáo dục tiểu học
(PCGDTH), mới đảm bảo được hiệu quả đào tạo của nhà trường nhằm thực hiện đúng
đường lối giáo dục của Đảng.
Trường Tiểu học Lê Hồng Phong có phân hiệu buôn Drai 100% là học sinh dân
tộc vùng đặc biệt khó khăn. Cuộc sống gia đình nghèo khổ, trình độ dân trí thấp. Học
sinh hay nghỉ học để theo bố mẹ kiếm sống bằng nghề mò tôm bắt cá, bắt sâu, hái cà
phê, lượm tiêu theo thời vụ. Nhiều em vốn quen sống tự do theo ý thích, lại chưa nhận
thức được tầm quan trọng của việc học luôn có ý định bỏ buổi, nghỉ học…
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm lớp tôi luôn suy
nghĩ và trăn trở: “Làm thể nào để duy trì sĩ số học sinh và đảm bảo tỷ lệ chuyên cần/
ngày? ”. Đây cũng là một vấn đề quan trọng của việc chống bỏ học, bỏ buổi nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của lớp của trường.
Chính vì những lí do trên mà tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Một số
biện pháp duy trì sĩ số đối với học sinh dân tộc thiểu số” . Đề tài này đã được nghiên
cứu và trải nghiệm thành công xin được trao đổi và chia sẽ với tất cả quý thầy cô và
các bạn đồng nghiệp.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
* Mục tiêu
Điều tra, tìm hiểu rõ nguyên nhân nghỉ học, bỏ buổi ; phong tục tập quán và
hoàn cảnh sống của học sinh dân tộc thiểu số ở buôn Drai để tìm ra các biện pháp
khắc phục.

1




- Phương pháp cải tiến
Qua việc tìm ra nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu . Từ đó đưa ra một số
phương pháp cải tiến để tìm ra giải pháp tốt nhất làm cơ sở nghiên cứu.
II.PHẦN NỘI DUNG
1.Cơ sở lý luận
Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nơi tạo những
cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên bậc học cao hơn. Nhà
trường Tiểu học có vị trí, chức năng, nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong việc hình
thành nhân cách cho trẻ em, là nơi tổ chức một cách tự giác quá trình phát triển đúng
đắn, lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kỹ năng học tập, rèn luyện của học
sinh để trở thành học sinh năng khiếu và là tiền đề cơ bản phát triển những tài năng
chủ nhân tương lai của đất nước.
Vì vậy việc duy trì sĩ số trong các trường học, là một chủ trương lớn của ngành
giáo dục nhằm cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng các cấp, đây là giải pháp có tính chiến
lược nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và bồi dưỡng những tài năng.
2. Cơ sở thực tiễn
Học sinh lớp 2 là lứa tuổi chuyển giao giữa giai đoạn ở hoạt động vui chơi sang
giai đoạn học tập chính thức của bậc tiểu học. Ở lứa tuổi này các em luôn muốn tự
làm theo ý thích của bản thân và ham chơi nhiều hơn là ham học ; Đồng thời các em
cũng dễ bị cám dỗ, bắt chước theo bạn bè. Các em luôn muốn tìm hiểu, khám phá thế
giới xung quanh mình. Chính vì vậy, phải học tập, thực hiện theo những khuôn khổ
của nhà trường là việc các em cảm thấy không thoải mái, không muốn tuân thủ. Từ
đó, các em muốn thoát ra, muốn được tự do. Vậy phải làm gì để giúp các em học tập
tốt, rèn luyện đạo đức theo những khuôn khổ, giáo huấn của nhà trường với tâm lý
thoải mái, thích thú hơn là bị ép buộc ?
Chính vì thế mà tôi đã đề ra những biện pháp cụ thể riêng, những cách làm việc
riêng và luôn có sự đổi mới, tích cực để tạo sự mới mẻ, ham thích đối với học sinh
nhằm thúc đẩy các em thực hiện tốt việc duy trì sĩ số.
3



- Nhiều gia đình cũng đã có sự quan tâm đến việc học của con em mình, tích cực
trong việc phối hợp với nhà trường giáo dục đạo đức học sinh, vận động con em
chuyên cần trong học tập.
b. Khó khăn
- Phân hiệu buôn Drai của Trường TH Lê Hồng Phong là một phân hiệu thuộc
vùng đặc biệt khó khăn. Với 100 % dân tộc Ê- đê. Tỷ lệ hộ đói nghèo và cận nghèo
cao. Trình độ dân trí thấp, vì thế việc nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ học tập của
người dân trong Buôn chưa cao. Qua thời gian giảng dạy học sinh dân tộc thiểu số tôi
nhận thấy:
* Về phía học sinh:
- Nhiều em thuộc gia đình nghèo, đông con, các em không có áo quần lành lặn
để đến lớp như bao bạn khác. Những học sinh này thường mặc cảm, tự ti về hoàn
cảnh, tự cho thân phận của mình không bằng bạn bè, tự tách biệt khỏi tập thể, các em
luôn cảm thấy lòng tự trọng bị tổn thương và chán nản dẫn đến bỏ học .
- Phần đa học sinh dân tộc, bố mẹ không biết chữ nên khi đi học về không có ai
kèm, dẫn đến học yếu, các em phải ở lại lớp nhiều năm liền cảm thấy xấu hổ không
ham muốn đến trường.
- Một số em mồ côi cha (mẹ), bố mẹ ly hôn phải ở với ông bà, các em này
thường có tính khí bất thường, hay quậy phá, giận hờn, đánh nhau, tự ti, lúc nào cũng
mặc cảm, tự cho mình thua kém và tự xa lánh bạn bè không muốn đến lớp .
- Một số em thuộc gia đình có mức kinh tế trung bình bố mẹ ít quam tâm đến
con cái, lo kiếm sống, suốt ngày để các em lêu lổng không quản lý giờ giấc. Các em
thích tự do học ít chơi nhiều, hay trốn học, thường nói dối cha mẹ.
* Về phía giáo viên:
- Giáo viên chủ nhiệm là người kinh không biết tiếng Ê- đê, không hiểu phong
tục tập quán của học sinh, phương pháp vận động học sinh đến trường chưa khéo léo
còn cứng nhắc nên hiệu quả chưa cao.


61.0 %
57.8 %

Nguy cơ bỏ học
SL
TL

21.4 %
21.1 %

05
4

17.6%
21.1 %

Với những thực trạng trên, để đảm bảo tỷ lệ chuyên cần và duy trì sĩ số, đòi hỏi
người giáo viên phải có bản lĩnh, sự nhiệt tình tấm lòng bao dung, nhân hậu, yêu
thương học sinh như con em của chính mình.
Vì vậy việc đưa ra một số biện pháp nhằm duy trì sĩ số học sinh là việc làm cấp
bách và rất cần thiết.
4. Nội dung và hình thức của giải pháp.
a.Mục tiêu của giải pháp
Trao đổi kinh nghiệm với ban giám hiệu, các giáo viên chủ nhiệm, các tổ chức
đoàn thể trong nhà trường và địa phương một số giải pháp nhằm phòng và chống học
sinh bỏ học, huy động học sinh đã bỏ học quay lại trường.
Giúp các em học sinh, các bậc phụ huynh nhận thức sâu sắc về tác hại của việc
thất học, từ đó nhận thấy sự cần thiết của việc học: Học để lập nghiệp, học để chung
sống, học để làm người…
Tìm ra giải pháp hay nhất để duy trì sĩ số học sinh trong nhà trường, vận động học

Tăng cường công tác phụ đạo học sinh chậm tiến bộ vào những buổi chiều để giảm
nguy cơ bỏ học do chán nản.
Thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học theo hướng: “Phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo tiếp thu kiến thức của học sinh, xây dựng cho học sinh
phương pháp tự học…” khuyến khích sự chuyên cần, ý thức vươn lên, khuyến khích
học sinh tham gia đóng góp ý kiến, cùng các giáo viên thực hiện các tiết dạy có hiệu
quả hơn. Từ đó giúp học sinh “Hiểu bài sâu, nhớ bài lâu”, ham thích học tập, có động
cơ, thái độ học tập đúng đắn”.
7


Trong các kỳ họp phụ huynh GVCN luôn lắng nghe nắm bắt nguyện vọng của
phụ huynh, thông báo những khoản đóng góp; Luôn chú ý đến gia đình nghèo, kiến
nghị lên cấp trên các khoản đóng góp, vận động các em trong lớp tổ chức thăm hỏi,
động viên các gia đình gặp hoàn cảnh không may những việc làm nhỏ bé đó sẽ tạo
được tình cảm gắn bó, các em biết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau với tinh thần đoàn kết
tương trợ.
* Biện pháp 2: Gửi thư, Phiếu liên lạc, điện thoại
Bên cạnh việc tiếp xúc trực tiếp với gia đình của các em thì sau mỗi tháng học
tập hoặc sau mỗi lần kiểm tra định kì. Tôi đều gửi Phiếu liên lạc thông báo cho gia
đình biết được tình hình học tập của con em mình để có biện pháp hổ trợ ệc giáo dục
các em. Trong quá trình giảng dạy nếu như các em có hiện tượng nghỉ học giữa buổi
hoặc bỏ buổi học tôi sẽ trao đổi với phụ huynh các em, thông qua điện thoại hoặc gửi
thư đến gia đình của các em để cùng nhau tháo gỡ kịp thời.
Ví dụ: Lớp tôi có em Y. Tranh hay nghỉ học buổi chiều mà không có lí do. Tôi
đã tranh thủ giờ ra chơi trực tiếp đến nhà của em thì được biết gia đình em người lớn
không có nhà do đi làm mướn. Em phải giữ nhà, trông em nên không đến lớp được.
Hôm sau, tôi đến gia đình em một lần nữa. Qua trao đổi, gia đình đã cho em đi học và
từ đó trở về sau em không còn nghỉ học nữa.
Hoặc em H.Nanh có bố mẹ làm ăn tận Đăk Nông, không có dịp tiếp xúc trực tiếp


ngay lúc đầu đưa ra một lượng kiến thức quá lớn khiến các em thấy việc học quá nặng
nề. Từ đó để các em coi thầy cô là chỗ dựa tinh thần và tạo được mối quan hệ tình
cảm thầy - trò, làm cho các em thích đến trường hơn ở nhà.
* Biện pháp thứ 4 : Theo dõi – Kiểm tra sĩ số /ngày
Thứ
Thứ hai
hai ngày
ngày 10
10 tháng
tháng 11 năm
năm 2018
2018

Bàn GV

CỬA
RAVÀO

-

Hằng ngày bước vào lớp tôi kiểm tra sĩ số học sinh qua sơ đồ vị trí lớp và bảng

theo dõi dán trên góc lớp sát cửa ra vào. Nếu thấy em nào vắng mặt liền xuống nhà
tìm và trao đổi với phụ huynh nhằm giúp các em đi học chuyên cần.
Cuối tuần tôi tổng kết ngày nghỉ của các em rồi phân tích cho các em thấy nghỉ học
như thế nào là chính đáng và không chính đáng, việc nghỉ học của mình không những
làm ảnh hưởng đến kết quả học tập và hạnh kiểm của bản thân, mà còn làm phiền lòng
đến lớp, thầy cô và bạn bè.
- Bên cạnh đó tôi cũng thường xuyên kiểm tra hòm thư: “Điều em muốn nói” để

sao của BGH, sân chơi rộng rãi thoáng mát như hiện nay. Đó là một thuận lợi rất lớn
để xây dựng một môi trường sư phạm tốt cho học sinh vui chơi, học tập làm cho học
sinh ngồi trong lớp học thấy vui tươi, thích thú không nặng nề, sợ sệt. Tôi luôn coi
trọng và bảo quản tài sản của trường, chăm sóc trường lớp như nhà của mình để cùng
nhau lao động, làm vệ sinh, trang trí trường lớp xanh sạch đẹp.

Giờ ra chơi, tôi tổ chức hướng dẫn các em vui chơi tập thể, đọc sách thư viện để
tạo sự gắn bó thương yêu học sinh và sự gần gủi thân mật giữa cô và trò. Hàng tháng
12


tôi tổ chức những tiết học vui cuối tuần. Trong tiết sinh hoạt sao nhi đồng, sinh hoạt
chủ điểm với hình thức đố vui, ôn tập, hái hoa, thể dục thể thao. Tổ chức sinh nhật
theo tháng…

Các hoạt động ngoại khóa như tham quan xung quanh trường, thi kể chuyện, vẽ
tranh, hát …. bằng hình thức này tôi đã tạo cho các em sự vui thích, tìm tòi tham gia
tích cực cho phong trào của lớp của trường. Vì vậy cứ đến ngày cuối tuần là các em
13


rất buồn vì sắp phải xa không khí học tập, hứng thú ấy và mong gặp nhau trong những
tuần học tới, kể cho nhau nghe những gì vui nhất mà các em đã tham gia và chứng
kiến .
* Biện pháp thứ 7 : Phối kết hợp với các đoàn thể trong trường và Phụ huynh
- Đối với các giáo viên dạy môn chuyên
Việc phối hợp với các giáo viên chuyên là hết sức quan trọng nhằm theo dõi sĩ số
học sinh. Mặt khác có những em học sinh thích học môn này, lại không thích môn kia
vì những lý do khác nhau do vậy tôi luôn tìm hiểu cặn kẽ các nguyên nhân từ các giáo
viên bộ môn để cùng với giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp

nhiều buổi. Từ đó trở thành học sinh chậm tiến bộ.
Vì thế gia đình là chỗ dựa lớn nhất của các em nên phải thường xuyên quan tâm
và lo lắng cho con cái, giúp các em đi học chuyên cần và nâng cao chất lượng học tập.
* Biện pháp thứ 8: Tạo mối gắn kết thân thiện giữa cô và trò
Học sinh dân tộc rất thích được khen và vuốt ve âu yếm. Đặc biệt muốn cô giáo
tặng cho một vật gì đó dù là rất nhỏ.
Đồng thời cũng rất thích được cô viết những lời khen bằng mực đỏ vào vở để về
nhà khoe với bố mẹ. Nhờ những lời khen đó mà các em rất vui sướng, thích đến
trường học và phát huy được tính tích cực tự giác hơn trong học tập.
Hiểu được đặc điểm tâm lí, tôi luôn theo dõi sát về thái độ cũng như kết quả học
tập nhằm để động viên, khuyến khích các em dù chỉ là tiến bộ nhỏ bằng những món
quà như cục tẩy, bút chì màu, vở…vào cuối tuần.

15


16


Đối với học sinh khá hơn tôi thường tán thưởng biểu dương bằng những tràng
pháo tay trước lớp. Nhờ thế mà các em luôn đi học đều và đúng giờ đảm bảo tỷ lệ
chuyên cần 100%.
Tóm lại: Muốn làm tốt công tác duy trì sĩ số người giáo viên chủ nhiệm cần biết
động viên và khuyến khích kịp thời những hoạt động, việc làm mang tính chất sửa đổi
ở các em chứ không phải phê bình. Phải theo dõi từng bước chuyển biến của các em
mà động viên để học sinh đó không nghĩ mình bị “ Ghét bỏ” Phải biết phối hợp chặt
chẽ giữa 3 môi trường giáo dục: “ Nhà trường - Gia đình và xã hội” ; phải biết động
viên, khyến khích, khen thưởng kịp thời.
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp và biện pháp.
Trong các biện pháp tôi vừa trình bày trên thì biện pháp 1: “Làm tốt công tác


Bỏ buổi
SL
TL

28

17

61.0 %

06

21.4 %

05

17.6%

19

19

100 %

0

0

0

trường, thôn buôn thì tình trạng học sinh nghỉ học, bỏ buổi sẽ được khắc phục hoàn
toàn.
18


Biện pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc thiểu số là một hệ thống giải pháp liên
hoàn. Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề, cần phải có sự nỗ lực cố gắng của giáo viên
dạy môn chuyên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm và sự ủng hộ giúp đỡ nhiệt tình của
các lực lượng trong nhà trường và ngoài xã hội thì mới đem lại kết quả ngày càng cao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Thật vậy, một dân
tộc mà dân trí thấp kém thì khó có điều kiện để tiếp thu và phát huy tinh hoa văn hóa,
khoa học, công nghệ mới của nhân loại. Chúng ta làm tốt công tác duy trì sĩ số học
sinh, giảm tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học đến mức thấp nhất để góp phần xây dựng sự
nghiệp giáo dục huyện nhà phát triển bền vững. Góp phần thực hiện mục tiêu “Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
2. Kiến nghị
* Đối với giáo viên
- Giao tiếp với đồng bào và học sinh dân tộc bằng tiếng Êđê.
- Tăng cường công tác tự học, tự rèn, tích cực nghiên cứu học tập chương trình
bồi dưỡng thường xuyên do BGD quy định.
- Tâm huyết với nghề, tận tụy, thân thiện với học sinh nhất là học sinh DTTS
- Tích cực đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện cho học sinh.
* Đối với gia đình
Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học sinh học tập, động viên con em đi học chuyên
cần.
* Đối với thôn buôn
Thật sự quan tâm, chăm lo đến công tác giáo dục của địa phương, vận động tuyên
truyền ra lớp đúng độ tuổi.
Trên đây là một số biện pháp duy trì sĩ số nhằm nâng cao tỷ lệ học sinh chuyên

Lý do chọn đề tài
Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Giới hạn của đề tài
phương pháp nghiên cứu
PHẦN II. NỘI DUNG

2

3

1. Cơ sở lý luận
2. Cơ sở thực tiễn
3.Thực trạng của vấn đề

4

a. Thuận lợi
b.Khó khăn
4.Nội dung và cách thức của giải pháp

5

a. Mục tiêu của giải pháp

6

b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
* Biện pháp


Tạp chí giáo dục
Thông tư 22
Bồi dưỡng thường xuyên

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG
22


……………………………………………………………………………
………………………………………………...........................................
……………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………
………………………………………………...........................................
……………………………………………………………………………

Chủ tịch hội đồng sáng kiến
(Ký tên, đóng dấu)

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN

……………………………………………………………………………
………………………………………………...........................................
……………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………
………………………………………………...........................................
……………………………………………………………………………

Chủ tịch hội đồng sáng kiến
(Ký tên, đóng dấu)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status