A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Công việc của giáo viên chủ nhiệm (GVCN) là một trong những
“khâu” quan trọng góp phần vào sự nghiệp giáo dục toàn diện cho học sinh.
Giáo viên chủ nhiệm phải đề ra được kế hoạch, phương pháp giáo dục thích
hợp cho từng trường hợp đặc biệt bằng cả tấm lòng yêu thương, nhân ái của
người Thầy.
Bác Hồ đã từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, nếu
không có kiến thức thì không có thể bình đẳng với các dân tộc khác được”.
Trước yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập khu vực và
quốc tế, đồng thời nhằm thực hiện chính sách “Bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc”, xóa dần khoảng cách
chênh lệch về giáo dục giữa “miền ngược và miền xuôi”, Đảng và Chính
phủ rất quan tâm và chú trọng đến công tác giáo dục cho đồng bào các dân
tộc thiểu số. Để lấp dần khoảng cách trên thì khâu duy trì sĩ số là rất quan
trọng. Công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông, việc duy trì sĩ số học
sinh là một trong những nhiệm vụ trọng yếu. Duy trì tốt sĩ số học sinh
không những nâng cao được hiệu quả giáo dục mà đặc biệt hơn là tránh
được tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng. Những học sinh thất học là
một mối nguy hại lớn cho xã hội: Các em dễ dàng dính vào các tệ nạn xã
hội, đặc biệt dễ bị kẻ xấu lôi kéo vào các tổ chức phản động. Bên cạnh đó
duy trì tốt sĩ số học sinh còn gắn liền với chất lượng dạy học và hiệu quả
giáo dục. Đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đánh
giá, nhận xét chất lượng hoạt động của mỗi giáo viên chủ nhiệm lớp và của
tập thể nhà trường. Đối với trường có nhiều con em dân tộc thiểu số muốn
có được kết quả như vấn đề nêu trên đòi hỏi phải có rất nhiều yếu tố như:
Năng lực của giáo viên trong thực hiện công tác phối kết hợp tốt giữa nhà
trường, gia đình và xã hội. Sự phối hợp nhịp nhàng và đồng thuận tốt là
tiền đề giúp cho việc duy trì và phát triển sĩ số học sinh đạt kết quả tốt.
Trang 1
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Xây dựng tập thể lớp vững mạnh là yêu cầu giáo dục bắt buộc
của tất cả các trường trung học phổ thông, đó cũng là nhiệm vụ quan trọng
của giáo viên chủ nhiệm. Một tập thể lớp vững mạnh sẽ là động lực thúc
đẩy mọi hoạt động khác nhất là hoạt động học tập của nhà trường. Bên
cạnh đó khi giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm và có phương pháp tốt thì
sẽ tạo điều kiện và có thời gian để bồi dưỡng và hoàn thành tốt chuyên môn
của mình.
Song song với việc đổi mới ấy, việc quản lí giáo dục học sinh
cũng rất quan trọng, đặc biệt vai trò của GVCN trong công tác giáo dục học
sinh. GVCN được coi như người mẹ, người cha thứ 2 của học sinh, người
mà luôn được học sinh gửi gắm tâm tư nguyện vọng của mình khi mà cả
cha và mẹ đều không biết đến việc học của con mình như ở địa bàn nơi tôi
đang công tác.
Đối với học sinh THPT, lứa tuổi mà ở đó đặc điểm tâm sinh lí
khá phát triển, trí tuệ biến đổi cả về chất và lượng. Các em biết quan sát
nhạy bén và cảm nhận tinh tế, tư duy trừu tượng ở mức cao. Nhưng lại rất
dễ thay đổi tính nết, dễ sa ngã và bị lôi kéo, lứa tuổi đang và muốn tự
khẳng định mình trước mọi người.
Để làm tốt công tác chủ nhiệm trước hết GVCN phải nắm rõ
nhiệm vụ của GVCN trong điều lệ trường phổ thông.
Vì GVCN có một vị trí quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, ý
thức đạo đức học sinh, tạo điểm nhấn góp một phần trong phong trào xây
dựng trường học thân thiện học sinh tích cực. Do đó, GVCN là một trong
những nhân tố thúc đẩy sự hình thành nhân cách của học sinh, mang lại
một phần kết quả rèn luyện đạo đức, học tập của các em.
lạc với nhà trường. Mặt khác, giáo viên chủ nhiệm phải làm cho quan hệ
giữa tập thể học sinh với xã hội trở nên gắn bó hơn.
Trang 4
2. Chức năng của giáo viên chủ nhiệm lớp:
- Giáo viên chủ nhiệm xây dựng, tổ chức tập thể lớp mình thành
đơn vị vững mạnh.
- Giáo viên chủ nhiệm tổ chức điều khiển, lãnh đạo các hoạt động
giáo dục của tập thể lớp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
- Giáo viên chủ nhiệm luôn thiết lập và phát triển các mối quan
hệ với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục học
sinh.
3. Những phẩm chất chủ yếu của giáo viên chủ nhiệm:
- GVCN phải có nhân cách toàn vẹn thể hiện qua việc nhận thức,
có thái độ và hành vi cá nhân phù hợp với chuẩn mực xã hội và phát huy
truyền thống đạo đức của dân tộc (hiếu học, trọng đạo, tôn sư).
- Có lòng nhân ái, nhất là đối với học sinh, người già, trẻ em,
người thiệt thòi bất hạnh,…
- Yêu nghề, say sưa với công tác giáo dục.
- Có tinh thần trách nhiệm và lòng tự trọng cao, có lương tâm
nghề nghiệp vững vàng.
- Khiêm tốn, cầu tiến, tích cực tự hoàn thiện không ngừng.
- Mẫu mực, trung thực trong cuộc sống.
4. Những năng lực sư phạm cần thiết đối với giáo viên chủ
nhiệm:
- Có tầm hiểu biết rộng về văn hoá chung.
- Có tri thức sâu sắc, hiện đại về môn học phụ trách ở lớp chủ
nhiệm.
số cha mẹ không biết tiếng phổ thông, không quan tâm đến việc học của
con em mình. Vì vậy, đối với học sinh còn thiếu sự quan tâm của các bậc
phụ huynh.
2. Thuận lợi, khó khăn
a. Thuận lợi
Một bộ phận học sinh có ý thức kỷ luật cao, ngoan, lễ phép với
thầy cô, biết vâng lời cha mẹ. Tích cực tham gia hoạt động phong trào do
Đoàn trường, lớp tổ chức.
Trang 6
Cơ sở vật chất được nhà trường và các cấp lãnh đạo ngày càng
quan tâm để tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học của giáo viên và
học sinh.
Được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, đội ngũ giáo viên
bộ môn có chuyên môn vững, nhiệt tình trong giảng dạy.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa một số bậc phụ huynh với giáo viên
chủ nhiệm và đoàn thể.
b. Khó khăn:
IaHdreh là một xã vùng sâu, đời sống kinh tế đa số gia đình khó
khăn, việc đầu tư cho con em trong quá trình học tập còn nhiều hạn chế.
Đa số cha mẹ không biết tiếng phổ thông, không quan tâm đến
con em của mình.
Một phần học sinh cá biệt chưa có ý thức trong học tập và rèn
luyện đạo đức chủ yếu do tác động từ hoàn cảnh gia đình hoặc xã hội, bạn
bè. Một số học sinh có hoàn cảnh gia đình không thuận lợi, không ổn định,
cha mẹ ly thân, ly dị, đi làm ăn xa lo kiếm sống không có thời gian chăm
sóc con cái.
Với những thực trạng trên, để duy trì sĩ số học sinh ở lớp chủ
trước kết hợp trao đổi với giáo viên để nắm sức học của từng em. Việc làm
này đã giúp tôi lựa chọn biện pháp kèm cặp, uốn nắn phù hợp không để cho
các em chán nản, bỏ học vì học yếu, phân công cho học sinh khá và học
sinh yếu kém ngồi chung bàn hoc để tạo điều kiện giúp đỡ nhau và thành
lập Đôi bạn học tập, Nhóm học tập.
3. Liên lạc với Chi hội Phụ huynh học sinh của lớp
Ở lần họp Phụ huynh học sinh đầu năm, Phụ huynh lớp đã bầu ra
Chi hội Phụ huynh học sinh của lớp. Chi hội đã giúp tôi tạo điều kiện cho
những em nghèo có đủ sách vở, quần áo, dụng cụ học tập,… Cùng tôi tìm
đến nhà gia đình những học sinh vắng không phép, vận động các em trở lại
lớp. Đây là cánh tay đắc lực, hỗ trợ cho tôi trong công tác chủ nhiệm. Chi
hội Phụ huynh học sinh của lớp phải có đủ thành phần của 3 xã để khi cần
là có người ở địa phương giúp đỡ.
Trang 8
4. Giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn
Nắm được một số em có hoàn cảnh nghèo đặc biệt (cha mẹ đều đi
làm thuê xa ở với ông bà nội (ngoại); mồ côi cha (mẹ)), tôi rà soát lại xem
em nào còn khó khăn trong học tập như: sách vở, đồ dùng học tập,… tôi
đăng kí cho các em được nhận dụng cụ do nhà trường hỗ trợ. Ngoài ra, tôi
còn kêu gọi sự hỗ trợ từ một số phụ huynh có khả năng để trang bị thêm
những dụng cụ còn lại cho những em này để các em được yên tâm đến
trường, không phải mặc cảm vì nhà nghèo. Qua đây, tôi cũng thấy tình cảm
giữa bạn nhà nghèo và bạn khá giả gần gũi nhau hơn.
5. Thành lập Đôi bạn học tập, Nhóm học tập
Qua nắm được sức học của từng em, tôi lưu ý nhiều đến những
em thuộc diện trung bình, yếu. Tôi phân công một em giỏi hoặc khá kèm
một em trung bình hoặc yếu và sắp xếp cho 2 em ngồi cùng một bàn. Tôi
quy định này và nhờ phụ huynh hàng ngày theo dõi, nhắc nhở. Ngoài ra, tôi
còn cho từng học sinh viết bản cam kết thực hiện tốt “ Nội quy trường học”
và “ An toàn giao thông”. Bên cạnh đó, tôi cũng đã xây dựng nội quy của
lớp (Biên bản thi đua hàng tuần) như sau:
BẢNG ĐIỂM THI ĐUA HÀNG TUẦN
I. Điểm thưởng trong tuần
- Tổ không có học sinh vắng không phép trong tuần được 50 điểm/tuần.
- Tổ không có học sinh vi phạm về đồng phục (kể cả học trái buổi) được 50
điểm/tuần.
- Tổ không có học sinh vi phạm tác phong, lời nói được 50 điểm/tuần.
- Tổ ổn định tốt 15 phút ôn bài đầu giờ (như: không học sinh rời chỗ ngồi,
không mất trật tự,…) được 50 điểm/tuần.
- Học sinh có điểm kiểm tra miệng được 8; 9 điểm: +3đ/hs, được 10 điểm
được cộng: +5 đ/hs.
- Cá nhân phát biểu bài trong giờ học: +1đ/lần.
II.Điểm phạt trong tuần:
1. Chuyên cần
- Đi học trễ, vào lớp sau giáo viên, nói chuyện: - 5đ/lần.
Trang 10
- Vắng học không phép (bố, mẹ không gặp GVCN): - 5đ/buổi/hs.
- Trốn học (cúp tiết): -5đ/buổi/hs.
- Vắng có phép: - 3đ/buổi/hs.
2. Học tập
- Điểm kiểm tra miệng kém 0; 1; 2: - 10đ và điểm 3; 4: -5đ.
- Quay cóp khi làm bài kiểm tra: -10đ/lần.
- Không chép bài: -10đ.
3. Đạo đức, tác phong...
Trong tiết sinh hoạt cuối tuần, sau khi nghe các tổ trưởng báo cáo,
tôi cho lớp tuyên dương những tổ đạt duy trì sĩ số suốt cả tuần để làm
gương cho lớp và khen những em có tiến bộ về mặt học tập để các em thấy
nhiệm vụ học tập của mình và “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.
Đối với những mặt học sinh còn hạn chế, tôi nhắc nhở nhẹ nhàng
kèm theo hướng dẫn, uốn nắn cho các em để tuần sau các em thực hiện tốt
hơn, có thể phạt những em này những hình thức nhẹ nhàng như trực nhật ở
tuần sau,…
Ngoài ra tôi còn nêu gương các anh, chị học sinh những năm
trước dù đầu năm còn yếu kém nhưng nhờ sự kiên trì, cố gắng đến cuối
năm cũng đã đạt loại khá, giỏi để củng cố lòng tin nơi các em, có thể cho cả
lớp đọc báo hoặc xem phim nhưng gương mặt vượt khó học giỏi, gương
hiếu học,…
Tôi còn yêu cầu học sinh nào có ý kiến gì thì phát biểu để giáo viên
giải thích hoặc điều chỉnh.
8. Biện pháp tinh thần
Mỗi ngày bước vào lớp tôi đều quan sát cả lớp, thấy các em có
mặt đầy đủ là lòng tôi rất vui. Nhất là những hôm thời tiết khắc nghiệt như:
mưa, bão, … Những hôm ấy, tôi cho lớp hoan nghênh bằng một tràng pháo
tay để động viên khích lệ tinh thần các em. Trong giờ dạy, tôi đầu tư soạn
giảng phân hóa theo đối tượng học sinh sao cho phù hợp với trình độ mọi
học sinh trong lớp - nhất là những em trung bình, yếu nhằm kích thích học
sinh hứng thú học tập, tiếp thu bài nhanh hơn.
Trang 12
Tôi cũng thật sự hòa nhập cùng các em trong giờ dạy bộ môn của
mình hay trò chơi của lớp, của trường tổ chức, tôi luôn tìm cách đề các em
luôn đoàn kết, tạo ra một thể thống nhất để giải quyết mọi vấn đề và kết
ngồi cho học sinh (chú ý đến các học sinh có bệnh khuyết tật về mắt, tai,
…). Sau đó chia thành 4 tổ. Lập sơ đồ chỗ ngồi thành 2 bản: tại lớp 1 bản,
giáo viên lưu lại một bản để tiện lợi cho việc theo dõi học sinh.
Căn cứ vào học lực của học sinh: học sinh yếu kém, chậm tiến
ngồi gần giáo viên hơn; học sinh khá giỏi ngồi xa giáo viên hơn, nhưng
trong một bàn nhất thiết phải có 2 loại học sinh khá/giỏi và yếu/kém.
Căn cứ vào tình trạng sức khỏe của học sinh: học sinh thấp trước,
cao sau; học sinh mắt yếu ngồi gần bảng.
Căn cứ vào nhiệm vụ của ban cán sự lớp và ban chấp hành chi
đoàn: tôi sắp xếp các em ở vị trí các góc của lớp và cuối lớp để tiện việc
theo dõi.
b. Thành lập sơ đồ tổ chức lớp học của lớp 12A1
BGH
HỘI
PHHS
LỚP
PHÓ HỌC
TẬP
Tổ
trưởng.
TỔ 1
ĐOÀN
TN
GVCN
4:
Thả
Sa
o
đỏ
c: Thành lập sơ đồ cơ cấu ban cán sự lớp
GIÁO VIÊN
CHỦ NHIỆM
LỚP
TRƯỞNG
LỚP
PHÓ
LAO
ĐỘNG
LỚP
PHÓ
VĂN
THỂ
TỔ
TRƯỞNG
TỔ 1
BÍ THƯ
KÝ
LỚP
PHÓ
BÍ
THƯ
CHI
ĐOÀN
TỔ
TRƯỞNG
TỔ 4
d. Giao nhiệm vụ cụ thể
- Lớp trưởng: quản lý, điều hành toàn bộ các hoạt động của lớp
dưới sự chỉ đạo của GVCN, chủ trì các cuộc họp lớp, sinh hoạt lớp cuối
tuần, báo cáo mọi hoạt động trực tiếp GVCN.
- Lớp phó học tập: lên danh sách học sinh học tốt nhất cho từng
bộ môn phân công phụ trách giúp đỡ bạn học yếu hơn, phải là học sinh học
Trang 15
ỦY
VIÊN
BAN
CHẤP
HÀNH
tốt, báo cáo việc học tập của học sinh trong lớp, duy trì truy bài 10 phút đầu
- Biện pháp thực hiện.
- Kết quả đạt được.
- Nhận xét, rút kinh nghiệm.
11. Liên hệ với già làng, người có uy tín trong địa phương, xin
số điện thoại của đại diện phụ huynh, già làng, trưởng buôn, …
Có những học sinh đặc biệt mà GVCN đã dùng tất cả các biện
pháp trên mà không giải quyết được vấn đề thì GVCN có thể liên hệ với
già làng, người có uy tín trong địa phương, xin số điện thoại của cha mẹ,
đại diện phụ huynh, già làng, trưởng buôn, … để nhờ những người này
giúp đỡ trao đổi với em đó, gia đình em đó hiểu hơn về việc mình đang
làm. Đặc biệt là người dân tộc thiểu số, họ có lòng tự trọng rất cao và tin
tưởng vào già làng, nên GVCN phải nhờ già làng giúp đỡ. Ngoài ra, GVCN
có thể yêu cầu với trưởng buôn, trong các cuộc họp của buôn thì nêu ra vi
phạm của những HS đặc biệt này để mọi người trong buôn tìm cách giúp
đỡ (xin nhắc lại là biện pháp này nên áp dụng cuối cùng vì người dân tộc
thiểu số thì có lòng tự trọng rất cao, nếu họ không hiểu thì học sinh đó vì tự
ái mà bỏ học).
12. Kết hợp với Đoàn trường
Bí thư Đoàn trường luôn là người sát cánh cùng giáo viên chủ
nhiệm trong mọi hoạt động phong trào của lớp. Do vậy, trong công tác duy
trì sĩ số giáo viên chủ nhiệm cần phải biết và phối hợp để theo dõi, nắm bắt,
giáo dục kịp thời những hiện tượng tiêu cực trong học sinh, những tệ nạn
ngoài xã hội xâm nhập vào trường học, lớp học như: mâu thuẫn dân tộc, bè
phái, lớn bắt nạt bé, chơi game, hút thuốc, uống rượu, đầu tóc, ăn mặc
không phù hợp,… Từ đó, cùng tìm ra các biện pháp ngăn chặn giúp các em
đi học đều góp phần duy trì sĩ số từng ngày, từng tuần, từng tháng và cả
năm học.
vì đa số cha mẹ của học sinh là người không biết tiếng Việt. Bản thân tôi đã
tự học tiếng Jrai bằng cách học qua từ điển, qua giao tiếp với học sinh,
Trang 18
người dân địa phương. Do năng lực có hạn nên tôi chưa hiểu hết tiếng Jrai
nên khi vận động học sinh bỏ học để đến trường lại tôi thường dẫn theo học
sinh người dân tộc thiểu số, tôi sẽ cố gắng hơn nửa để tiếp thu tốt hơn tiếng
Jrai.
Đây cũng là điểm mới mà tôi chưa thấy sáng kiến kinh nghiệm
nào đưa ra nên tôi đã tự suy nghĩ và áp dụng cho trường của tôi và kết quả
rất khả quan.
IV. BIỆN PHÁP THỰC HIÊN NHẰM GIÁO DỤC HỌC
SINH ĐẶT BIỆT. TRÁNH TÌNH TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC.
1. Thực trạng:
Mặc dù đã áp dụng các biện pháp trên nhưng lớp do tôi chủ
nhiệm vẫn có học sinh đặc biệt (là những học sinh chưa ngoan lắm hay bỏ
tiết, nghỉ học không phép, vi phạm nội qui nhà trường hoặc có hoàn cảnh
đặc biệt), ví dụ: Ksor Ngân, Nay H’ Tlí,... Tôi không muốn sử dụng từ học
sinh cá biệt bởi ai cũng có những ưu khuyết điểm, biết cách loại bỏ nó thì
tất yếu sẽ trở nên tốt hơn.
Thực ra những học sinh chưa ngoan thường gây không ít khó
khăn cho GVCN, ảnh hưởng lớn đến kết quả thi đua của lớp, nhiều khi
khiến cho GVCN cảm thấy mệt mỏi thậm chí buông xuôi vì nói hoài mà
các em không chuyển biến, càng phạt, càng lỳ, chống đối ngầm, cố tình
quậy hơn, vi phạm nhiều hơn…thậm chí còn tìm cách trả thù GVCN.
2. Tìm hiểu nguyên nhân:
Không phải tự nhiên bản chất sinh ra của các em có những hành
vi, hành động thiếu đi tính văn hoá, thiếu đi cái chuẩn mực của đạo đức,
bao dung, vị tha với các em hơn.
Thuyết phục bằng lời nói rõ ràng, dứt khoát, có lý, bằng tình cảm
và nguyên tắc tác động lên nhận thức và tình cảm của học sinh như: giành
thời gian trò chuyện nói về học tập, về cuộc sống, nêu gương người tốt việc
tốt cụ thể trong nhà trường, bằng các câu chuyện giáo dục về đạo đức (với
bản thân tôi phải là tấm gương để các em noi theo như qui định về đồng
phục, lời nói phải đi đôi với việc làm và phải đối xử thật công bằng với mọi
học sinh), thậm chí tới tận nhà tìm hiểu nguyên nhân.
Trang 20
Đưa các em vào hoạt động tập thể trong và ngoài trường với
những nhiệm vụ cụ thể. Khuyến khích khen chê đúng mục đích, đúng việc,
đúng lúc, đúng chỗ, tế nhị và có hiệu quả.
Kiên trì quan tâm, tạo sự tin tưởng của học sinh, tạo niềm tin để
các em thoải mái, nói những tâm sự, trăn trở của mình cho GVCN biết, từ
đó tôi sẽ nhận định được vì sao em đó có những hành động như vậy, để có
biện pháp giáo dục hợp lý.
Mỗi học sinh đều có đặc điểm về tâm sinh lý, về mức độ nhận
thức, về vốn sống, cung cách cư xử với mọi người xung quanh. Vì thế khi
giáo dục những học sinh chưa chuẩn mực không nên quá máy móc, rập
khuôn một cách hình thức làm vậy sẽ không bền vững trong giáo dục đạo
đức và nhân cách của học sinh.
4. MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ ĐÃ ÁP DỤNG CÁC
BIỆN PHÁP TRÊN
Trường hợp 1
Trong lớp tôi chủ nhiệm năm học 2014-2015 có một em học sinh
học rất kém, lại thường xuyên đi học muộn, trong giờ học lại thường ngủ
gật, không chú ý nghe giảng. Khi bạn đến gặp phụ huynh của em ấy, nhà ở
tình hình như vậy, tôi trao đồi với Ông (bà) của em như sau:
Giải pháp:
Trước hết, tôi dẫn học sinh người dân tộc thiểu số trong lớp theo
để làm nhiệm vụ phiên dịch viên vì Ông (Bà) không biết tiếng phổ thông,
tôi trao đổi thêm với Ông (Bà) của em học sinh đó, động viên gia đình tạo
điều kiện cho em học tiếp, chỉ ra hậu quả sau này nếu mình không có trình
độ, kiến thức, xã hội ngày càng phát triển, gia đình ông bà có đủ điều kiện
cho em đi học tiếp lên Đại học vẫn được. Khuyên ông bà cố gắng giúp em
cố gắng vượt qua nỗi buồn này. Giáo viên chủ nhiệm gặp riêng học sinh đó
để tìm hiểu thêm nguyên nhân, trao đổi một cách tế nhị với em về việc ly dị
của bố mẹ là do nhiều nguyên nhân, em còn nhỏ nên chưa hiểu, tuy bố mẹ
ly dị nhưng trong tâm của họ rất mong em vẫn đi học, khi nào em lớn lên
sẽ hiểu, sau đó động viên khích lệ em vượt qua nỗi buồn cố găng học tiếp,
Trang 22
quên đi, nghĩ tương lai sau này của mình tươi sáng hơn và nhìn gương cha
mẹ để có kinh nghiệm sống sau này.
Trường hợp 3
Trong lớp tôi chủ nhiệm đầu năm học 2013-2014 có một học sinh
học lực khá vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, ở
buôn Thiêl xã IaRmok, phụ huynh đến trình bày với tôi xin cho con nghỉ
học. Vì gia đình quá khó khăn không có đủ tiền để tiếp tục cho con đi học
tiếp, nghe qua tôi rất buồn cho em đó và rất tiết nên tôi có cách giải quyết
như sau:
Giải pháp
Phản ánh với gia đình là học sinh đó có lực học khá, ham học,
động viên gia đình tìm mọi cách khắc phục để cho em đó di học tiếp,
GVCN chỉ ra nguyên nhân, hậu quả, và tương lai của em nó sau này cho
số
SL
36
44
45
43
TL%
100
100
100
100
SL
36
44
42
42
44
TL%
100
100
93
97,6
46
12A1
46
Ghi
chú
3/2015)
Bảng so sánh kết quả duy trì sĩ số qua các lớp trong năm 2015 như sau:
TT
1
2
3
4
5
6
Năm
2014-2015
2014-2015
2014-2015
2014-2015
2014-2015
2014-2015
Từ cách
Lớp
100
44
93,6
100
39
81,25
100
40
83,33
100
39
82,97
100
40
86,95
trình bày trong tổ, được các thành
viên trong tổ đánh giá việc công tác chủ nhiệm và nhận thấy việc duy trì sĩ
số của tôi có đạt đạt kết quả cao.
Nhìn lại kết quả trên, bản thân tôi rất vui vì mình đã thực hiện đạt
cam kết Duy trì sĩ số với Ban Giám Hiệu nhà trường và đã hoàn thành được
nhiệm vụ của một giáo viên chủ nhiệm.
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. KẾT LUẬN:
Trang 24
Trong nhiều năm làm GVCN, tôi đã áp dụng các biện pháp trên