SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI:
“MỘT VÀI GIẢI PHÁP DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH TRONG
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ MỸ, BẾN TRE”
1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số:
………………………………………………………………………………………………
1. Tên sáng kiến:
“Một số giải pháp duy trì sĩ số học sinh trong trường tiểu học”.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phổ cập giáo dục tiểu học.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết:
a. Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới:
Hiện nay, học sinh bỏ học là vấn đề nan giải và là nỗi lo của ngành giáo dục
Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Theo Báo cáo số 1471/BC-SGD&ĐT:
Báo cáo tổng kết năm học 12-13 và phương hướng nhiệm vụ 13-14 thì ở năm
học 12-13 cấp tiểu học có 83 HS bỏ học. Trường tiểu học nơi tôi công tác trong
2
giúp hộ nghèo, cận nghèo có thêm thu nhập, ổn định cuộc sống, tạo điều kiện
cho con em được đến trường, không bỏ học giữa chừng.
b. Ưu điểm và một số hạn chế của giải pháp đã thực hiện:
Ưu điểm:
Nhìn chung, các giải pháp chống học sinh bỏ học trước đây có ưu điểm là đã
giúp cho tình hình học sinh bỏ học có nhiều chuyển biến tốt, không còn xảy ra
trầm trọng như thời gian trước kia. Học sinh có nhiều điều kiện tốt về cơ sở vật
chất, môi trường học tập, hoàn cảnh kinh tế gia đình để ổn định học tập.
Hạn chế:
Nhược điểm của việc giải quyết vấn đề chính là các nhà trường chưa quan
tâm đúng mức các biện pháp phòng ngừa khi học sinh có nguy cơ bỏ học mà
chỉ thực hiện việc phòng chống học sinh bỏ học theo kiểu “theo đuôi”, khi học
sinh đã bỏ học rồi mới thực hiện việc tìm hiểu nguyên nhân và vận động trở lại
lớp nên nhiều khi đã quá muộn. Và gia đình học sinh, chính quyền địa phương
và cả cán bộ giáo viên ở một số nơi do năng lực hạn chế, chưa thật sự hết lòng
và tích cực xem trọng công tác này mà chỉ làm qua loa, chiếu lệ nên hiệu quả
thu được không cao.
Trong khi, công việc này lại đòi hỏi nhiều công sức, sự
kiên trì và tâm huyết của những người có liên quan. Chính vì thế, vấn nạn học
sinh bỏ học đến nay vẫn chưa giải quyết được triệt để mà vẫn còn nằm trong
mức báo động ở nhiều nơi.
c. Sự cần thiết của việc đề xuất giải pháp mới:
Hiện tượng học sinh bỏ học như hiện nay nhìn chung là một thực trạng rất
đáng lo ngại, là nỗi bức xúc của ngành giáo dục, nỗi trăn trở của cấp ủy, chính
3
Mục đích nghiên cứu của đề tài này nhằm đưa ra những giải pháp tối ưu, có
tính khả thi để khắc phục, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng học sinh bỏ
học, nhằm giữ vững, duy trì tốt sĩ số học sinh của trường và góp phần thực hiện
tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu học tại địa bàn, góp phần giữ gìn và phát huy
kết quả đạt được của phổ cập giáo dục tỉnh nhà và của toàn quốc.
Tôi nhận thấy những giải pháp này đã giúp cho việc duy trì sĩ số học sinh
trong độ tuổi đến trường ở đơn vị tôi đạt kết quả rất tốt, giúp cho thành quả đã
đạt được của phổ cập giáo dục tiểu học ở địa phương tôi được duy trì và phát
huy có hiệu quả. Chính vì thế, tôi rất muốn giới thiệu, chia sẻ những giải pháp
này đến với những giáo viên làm công tác phổ cập giáo dục tiểu học như tôi ở
các đơn vị bạn để cùng trao đổi, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm để cùng nhau
hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
b. Nội dung của giải pháp:
Những điểm khác biệt và tính mới của giải pháp đề nghị công nhận là
sáng kiến so với giải pháp đã biết:
Trong thời gian qua, việc đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục, cơ sở vật
chất, quan tâm giúp đỡ học sinh khó khăn, vận động học sinh bỏ học trở lại
trường là công việc chung trường nào cũng thực hiện. Còn việc xây dựng mô
hình hay các giải pháp ngăn ngừa học sinh bỏ học thì chưa có tài liệu, quy định
cụ thể nào để hướng dẫn làm. Điểm mới ở đây là dựa trên những ưu điểm và
hạn chế của những cách thức đã thực hiện, tôi đã xây dựng và thiết lập mô hình
tích cực cho người giáo viên phổ cập gồm một số giải pháp hữu hiệu mà theo
tôi có thể duy trì hiệu quả sĩ số học sinh trong trường tiểu học. Tính mới của
các giải pháp tôi đưa ra thể hiện rõ tầm quan trọng của việc “phòng hơn
chống” học sinh bỏ học và nhấn mạnh vai trò của giáo viên làm công tác phổ
cập trong việc tích cực tham mưu, phối hợp cùng các đoàn thể địa phương, phụ
huynh học sinh, đội ngũ cán bộ, nhân viên và ban giám hiệu nhà trường trong
việc thực hiện các biện pháp ngăn ngừa học sinh bỏ học bằng cả tinh thần và
nhiệm lớp xây dựng các hoạt động ngoại khóa để thu hút học sinh đến
trường:
Tham mưu cùng ban lãnh đạo nhà trường, Tổng phụ trách Đội, giáo viên
chủ nhiệm, giáo viên bộ môn xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ, bao gồm
hoạt động giữa giờ ra chơi; sinh hoạt chủ điểm; kế hoạch hoạt động chéo buổi
xen lẫn các môn học Thể dục, học phụ đạo, học bồi dưỡng; cắm trại; hoạt động
vui chơi trong hè tạo sự thu hút, tập trung của các em khi vào trường, giúp các
em hăng hái hơn trong sinh hoạt và học tập, làm cho học sinh cảm nhận được
mỗi ngày đến trường là một ngày vui và ham thích đến trường.
Nội dung các hoạt động này chủ yếu tập trung vào việc tổ chức cho học
sinh chơi các trò chơi dân gian, trò chơi tập thể, văn nghệ, múa hát cộng đồng,
thi đố vui để học, Rung chuông vàng, hội khỏe Phù Đổng, sinh hoạt Sao kết
hợp tăng cường chú trọng việc tích hợp rèn luyện, giáo dục các chuẩn mực đạo
đức, kĩ năng sống, nhận thức xã hội cho học sinh. Các hoạt động nói trên phải
được tổ chức kết hợp đan xen trong chương trình học, trong tiết học một cách
hợp lý sao cho phong phú, sinh động và hấp dẫn để giảm bớt mệt mỏi, căng
thẳng cho học sinh do hằng ngày các em phải tiếp thu một khối lượng kiến thức
lớn khi đến trường. Đề xuất thực hiện một số phong trào nhằm giúp các em đi
học đầy đủ như: phong trào giúp bạn vượt khó, phong trào cùng nhau đi học,
phong trào cùng bạn học giỏi vận động học sinh tích cực tham gia để giúp học
sinh có ý thức và thái độ tốt hơn trong học tập.
Xem ví dụ minh họa hoạt động trò chơi trong tiết học và một số trò chơi
dành cho hoạt động Đội, hoạt động ngoài giờ trong Phụ lục 1
Phối hợp chặt chẽ với giáo viên, cán bộ công nhân viên và các đoàn
thể trong nhà trường đối với công tác quản lí và giáo dục học sinh:
Giáo viên phổ cập kết hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, các
đoàn thể trong nhà trường thường xuyên kiểm tra giám sát sự chuyên cần của
học sinh, đặc biệt là đối tượng học sinh yếu và học sinh cá biệt để có biện pháp
phối hợp giáo dục, giúp đỡ. Học sinh chỉ cần vắng mặt một buổi học không lí
do là giáo viên chủ nhiệm liên lạc với gia đình để tìm hiểu nguyên nhân, vắng
rồi tích cực kết hợp với gia đình kiên trì rèn luyện cho học sinh nắm vững kiến
thức, đem lại cho các em sự tự tin và thích thú học tập, giải quyết triệt để tình
trạng học sinh “ngồi nhầm lớp”. Trong giảng dạy, chú trọng ngay những học
sinh có biểu hiện lơ là, sa sút trong học tập, kết hợp cùng gia đình tìm nguyên
nhân và kịp thời bồi dưỡng kiến thức. Một biện pháp quan trọng khác là cần
khuyến khích, tôn vinh những giáo viên sau một năm học đã có công giáo dục
học sinh cá biệt, học sinh yếu kém. Thực tế cho thấy, giáo dục một học sinh cá
biệt, có học lực yếu kém mất nhiều công sức, thời gian không kém gì so với
việc bồi dưỡng một học sinh giỏi và chính họ là những người góp phần trực
tiếp làm giảm thiểu nguy cơ bỏ học của học sinh.
Thẳn thắn đấu tranh, góp ý,
nhắc nhở nếu có đồng nghiệp có thái độ và tư tưởng chủ quan, không có tinh
thần trách nhiệm trong công tác. Thường xuyên trao đổi và nắm bắt thông tin từ ban cán sự của các
lớp và giáo viên chủ nhiệm:
Ban cán sự lớp chính là một tổ chức trực tiếp theo dõi và lãnh đạo lớp được
giáo viên chủ nhiệm cùng cả lớp tín nhiệm đề cử. Chính ban cán sự lớp nắm bắt
rõ nhất về tình hình của lớp mình. Giáo viên phổ cập của trường phải thường
xuyên trao đổi với ban cán sự của các lớp và giáo viên chủ nhiệm để theo dõi
tình hình của từng lớp, kịp thời nắm bắt những thay đổi của lớp về tình hình
duy trì sĩ số học sinh để đề ra biện pháp và xử lý kịp thời khi có vấn đề xảy ra.
Kết hợp cùng với giáo viên chủ nhiệm liên lạc thường xuyên với phụ
huynh học sinh để nắm tình hình:
Sự buông lỏng của gia đình là nguyên nhân chủ yếu làm cho học sinh lơ là
học tập. Sự lười biếng học tập kéo dài sẽ dẫn đến hậu quả là học lực nhanh
chóng giảm sút. Học sinh bị mất căn bản do lỗ hổng kiến thức quá lớn, vào học
thầy cô giảng bài không hiểu được đồng thời hay bị phê bình nên chán nản bỏ
kết hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể tích cực thường
xuyên tuyên truyền cho các bậc phụ huynh học sinh về tầm quan trọng của việc
học tập, vận động xây dựng gia đình văn hóa nhằm phát hiện và giáo dục học
sinh tránh xa các tệ nạn xã hội cùng các loại hình giải trí không lành mạnh, hỗ
trợ kịp thời không để cho xảy ra tình trạng học sinh bỏ học tại thôn ấp mình,
nhất là lứa tuổi học sinh tiểu học
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp:
Các giải pháp trên được ứng dụng trong việc ngăn ngừa học sinh trường
tiểu học bỏ học, nhằm bảo vệ vững chắc và duy trì sĩ số học sinh của trường nơi
tôi đang công tác. Dựa vào những kết quả đạt được từ việc đổi mới cách tổ
chức, phương pháp ngăn ngừa tình trạng học sinh bỏ học, duy trì sĩ số tôi nghĩ
kết quả nghiên cứu này có thể ứng dụng rộng rãi ở các trường tiểu học.
3.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua áp dụng những biện pháp cụ thể như trên, tôi nhận thấy ý thức học
tập và kết quả giáo dục của các em học sinh chán học đã được nâng cao rất
nhiều. Các em không còn ý định bỏ học, không còn tìm lí do để trốn học và học
tập tiến bộ hơn. Nhờ sự tác động tư tưởng của giáo viên mà gia đình phụ huynh
học sinh đã nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của việc học và trách nhiệm của
mình trong việc quản lí, giáo dục các em. Cụ thể trong năm học 2012 – 2013, sĩ
số học sinh trường tôi dù có biến động nhưng cuối cùng đã được giữ vững.
Thống kê kết quả:
Năm học
Tổng số học
sinh đầu
năm học
Số học sinh
có nguy cơ
bỏ học