Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
PHẦN 1 : MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
1.1: Lý do khách quan
Việc duy trì sĩ số đảm bảo chuyên cần ở trường Tiểu học đóng một vai trò rất quan trọng
trong việc học tập của học sinh. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách
đầy đủ, mang lại kết quả tốt. Nhưng hiện nay, tình hình học sinh bỏ học ở Tỉnh Đăk Lăk ta
đến mức báo động, nhất là học sinh ở vùng khó khăn, vùng biên giới. Theo thống kê của
các năm gần đây cho thấy tỉ lệ học sinh bỏ học ngày càng cao, nhất là học sinh ở độ tuổi
Cấp I, Cấp II.
Căn cứ vào nghị quyết Hội nghị công nhân viên chức năm học 2009 - 2010 của Trường
Tiểu học La Văn Cầu về việc hạn chế tình trạng học sinh bỏ học. Nhà trường đã thành lập
Ban phòng chống bỏ học gồm : Ban giám hiệu; giáo viên chủ nhiệm; Hội cha mẹ học sinh ;
các đoàn thể ; chính quyền địa phương đã thống nhất quan điểm về công tác huy động học
sinh đến trường và hạn chế tình trạng học sinh bỏ học là trách nhiệm của cả hệ thống chính
trị và của toàn xã hội. Xác định lí do học sinh không muốn đi học và bỏ học giữa chừng có
rất nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân do học lực yếu, kém dẫn đến chán nản, bỏ
học là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp thuộc trách nhiệm của ngành Giáo dục và Đào tạo.
Để duy trì, nâng cao hiệu quả công tác phổ cập giáo dục Tiểu học và đạt chỉ tiêu phổ
cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, đòi hỏi một trong những điều kiện không thể thiếu
được đó là : “ Duy trì sĩ số cho học sinh nói chung và học sinh dân tộc nói riêng ” . Đây là
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 1
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
vấn đề mà các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương quan tâm , chỉ đạo bằng các Nghị
quyết của Đảng bộ các cấp và chi bộ nhà trường.
2.1: Lí do chủ quan.
Với trách nhiệm của một giáo viên Tiểu học, bất cứ người giáo viên chủ nhiệm nào cũng
mong muốn lớp mình phụ trách suốt từ đầu năm đến cuối năm phải đảm bảo về mặt sĩ số
cũng như phải đạt yêu cầu về mặt chất lượng học tập. Nhưng thực tế vô cùng phức tạp vì
đối tượng học sinh rất đa dạng, vì mỗi em có hoàn cảnh và điều kiện sống khác nhau, nếu
giáo viên không khéo léo thì khó mà duy trì sĩ số lớp mình đạt như mong muốn.
Đảng ủy xã Cư Pơng, Nghị quyết Hội nghị CNVC năm học 2009 – 2010, năm học 2010-
2011 của Trường Tiểu học La Văn Cầu”.
3.2/ Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
Tôi đã dùng phương pháp phỏng vấn Phụ huynh, học sinh. Điều tra hoàn cảnh gia đình
học sinh, chế độ chính sách đối với học sinh dân tộc.
3.3/ Nhóm các phương pháp hỗ trợ : Bảng thống kê số liệu học sinh bỏ học của những
năm học trước.
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 4
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
PHẦN 3 : NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nơi tạo những
cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên bậc học cao hơn. Nhà trường
Tiểu học có vị trí, chức năng, nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nhân
cách cho trẻ em, là nơi tổ chức một cách tự giác quá trình phát triển đúng đắn, lâu dài về
tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kỹ năng học tập, rèn luyện của học sinh. Mục tiêu, nhiệm
vụ của trường tiểu học là đem đến cho trẻ em hạnh phúc được học tập, là làm cho trẻ em
được hưởng thụ một nền giáo dục tốt đẹp ở trường tiểu học.
Việc duy trì sĩ số trong các trường học, là một chủ trương lớn của ngành giáo dục
nhằm cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng các cấp, đây là giải pháp có tính chiến lược nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục và bồi dưỡng những tài năng của đất nước.
Vì chỉ trên cơ sở của sự phát triển phong phú, hài hoà có tính toàn diện của nhân cách
thì tài năng con người mới có điều kiện nảy nở và phát triển một cách cơ bản và bền vững.
Ở những trường tiểu học việc duy trì tốt sĩ số học sinh, học sinh được giáo dục toàn diện,
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 5
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
được học đủ các môn học theo quy định, được thực hiện các hoạt động khác; đặc biệt các
em được học các thầy cô giáo có tâm huyết, có tay nghề và tinh thần trách nhiệm cao, các
em có đầy đủ các điều kiện và phương tiện học tập, các em được phát triển trong môi
trường giáo dục đầy đủ, lành mạnh. Trong điều kiện đó, mỗi học sinh sẽ được phát triển
kèm, dẫn đến học yếu, các em phải ở lại lớp nhiều năm liền cảm thấy xấu hổ thế là bỏ học .
+ Có một số em lại chưa qua lớp mẫu giáo, chưa làm quen với Tiếng Việt , các em phát
âm rất khó, tiếp thu bài cũng chậm đâm ra chán nản , và không thích đi học
+ Trẻ em thuộc gia đình thiếu bố ( mẹ) hoặc thiếu cả bố lẫn mẹ ; Tức là bố mẹ ly hôn
hoặc bố mẹ hay cãi nhau . Số trẻ em này thường có tính khí bất thường , hay quậy phá ,
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 7
Năm học TSHS dân tộc TSHSDT bỏ học Tỷ lệ
Năm học 2007-2008 324 10 3,08%
Năm học 2008-2009 311 16 5,14%
Năm học 2009-2010 301 18 5,98%
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
hờn giận , đánh nhau , tự ti , ủ ê , lúc nào cũng mặc cảm , tự cho mình thua kém và tự xa
lánh bạn bè dẫn đến bỏ học .
+ Trẻ em mồ côi bố hoặc mẹ , thường hay nhút nhát, ít hòa đồng , thường hay sợ hãi đám
đông , cảm thấy thua kém bạn bè, dẫn đến tự ti , mặc cảm và bỏ học.
+ Trẻ em thuộc gia đình có mức kinh tế trung bình, không đông con, nhưng bố mẹ ít
quam tâm đến con cái, lo kiếm sống , suốt ngày để các em lêu lổng , không quản lý giờ
giấc. Số trẻ này rất tự do , bừa bãi , hay quậy phá , học ít chơi nhiều , hay trốn học, thường
nói dối cha mẹ , thầy cô , hay cãi lại người lớn , không biết nghe lời, ít có lòng tự trọng và
thích là bỏ học .
+ Trẻ em thuộc gia đình khá giả, có của, được cha mẹ nuông chiều. Thường những em
này như những ông trời con, tính khí đỏng đảnh, muốn gì được nấy, hay dỗi , thích thì học
không thích thì thôi, đôi lúc còn tỏ ra khoe khoang coi thường bạn bè .
- Nguyên nhân thứ hai từ phía nhà trường và giáo viên :
+ Về công tác tổ chức và quản lí : Trường có 1 điểm lẻ cách xa trung tâm, Ban giám
hiệu chỉ có 2 người rất khó kết hợp với giáo viên để quản lý học sinh .
+ Về đội ngũ giáo viên của trường có: 17 người.
Trình độ đào tạo giáo viên trong trường: có 16/17 người đạt chuẩn trở lên, Chia theo tỉ
lệ 1.2 còn thiếu 2 giáo viên, giáo viên đạt “ Giáo viên dạy giỏi” các cấp còn ít, điểm
trường lẻ cách xa trung tâm.
thành một quyển sổ theo dõi, phân loại đối tượng học sinh, đặc biệt học sinh có hoàn cảnh
khó khăn có nguy cơ bỏ học.
Việc làm này giúp tôi nắm rõ hơn hoàn cảnh từng em để có biện pháp giáo dục thích
hợp. Sau đó tôi theo dõi sĩ số học sinh hằng ngày, đặc biệt là những em hay vắng học rồi
tìm hiểu hoàn cảnh của những học sinh hay nghỉ học và những học sinh có nguy cơ bỏ học.
Một trong những yếu tố quan trọng là tìm hiểu môi trường và hoàn cảnh sống của các em ,
bởi vì đó chính là cái nôi nuôi dưỡng và hình thành nhân cách của các em ngay từ thuở ban
đầu. Để các em hình thành cho mình một hướng đi tốt nhất.
Các bước tiến hành như sau :
- Tìm hiểu qua phiếu thông tin ( điều tra sơ yếu lý lịch) : Phiếu thông tin này ngoài
những thông tin cơ bản: Họ tên bố, mẹ; địa chỉ; thêm cả hoàn cảnh sống; gia đình em đó có
mấy người ; em ấy là con thứ mấy; sở thích của em, thường chơi với bạn như thế nào.
- Tìm hiểu hoàn cảnh học sinh trực tiếp bằng cách: đến tại gia đình các em , tiếp xúc với
bố mẹ các em để biết cụ thể hoàn cảnh của những học sinh này và trao đổi tình hình học
tập của những học sinh đó.
- Tìm hiểu tính cách các em qua bạn bè trong lớp.
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 10
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
- Tìm hiểu qua thôn, buôn ( thông qua buôn trưởng) .
-Tôi theo dõi , thấy những học sinh nào nghỉ học từ 2 buổi trở lên , tôi đến ngay gia
đình để tìm hiểu hoàn cảnh của các em, rồi kết hợp với thôn buôn đến nhà vận động các
em đi học lại. Lập danh sách những học sinh có nguy cơ bỏ học báo ngay với Ban giám
hiệu và buôn trưởng. Để các buôn trưởng nắm về thôn buôn vận động bố mẹ nhắc nhở các
em đi học.
Đồng thời tôi đưa ra biện pháp giáo dục trực tiếp, gần gũi, an ủi động viên và khích lệ
kịp thời những kết quả đạt được, dù những ưu điểm nhỏ nhất. Cụ thể:
* Năm học 2009- 2010 lớp tôi chủ nhiệm
6 em có nguy cơ bỏ học, trong đó: 2 em có hoàn
cảnh gần giống nhau. Bố mẹ làm nghề tự do, suốt ngày lo kiếm sống, ít quan tâm đến con
chuyện trong lớp, quay ngang, quay ngửa, khuấy động trong lớp, người lớn nói không nghe
lời, hay cãi lại, luôn nghĩ ra mọi trò tinh nghịch ,hễ la mắng là em nghỉ học. Qua tìm hiểu
biết được em này con một gia đình khá giả, được bố mẹ nuông chiều. Tôi đã phải thực hiện
nhiều biện pháp: chủ động gặp gỡ bố mẹ của em bàn bạc góp ý với họ về biện pháp giáo
dục, không chiều theo sở thích của các em và nghiêm khắc với những sai phạm.
2.2/ Nắm chất lượng học tập và hạnh kiểm năm trước:
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 12
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
Trong tuần đầu ôn tập, tôi cho các em ôn lại những bài tập bám sát theo kiến thức cơ
bản của năm trước, đồng thời tôi còn xem lại học bạ của các em năm trước để nắm sức học
của từng em. Việc làm này đã giúp tôi lựa chọn biện pháp kèm cặp, uốn nắn phù hợp
không để cho các em chán nản, bỏ học vì học yếu.
2.3/ Liên lạc với Chi hội Phụ huynh học sinh của lớp:
Ở lần họp Phụ huynh học sinh đầu năm, Phụ huynh lớp đã bầu ra Chi hội Phụ huynh
học sinh của lớp. Chi hội đã giúp tôi tạo điều kiện cho những em nghèo có đủ quần áo
trắng, đồ dùng học tập…; Cùng tôi tìm đến nhà gia đình những học sinh vắng không phép,
vận động các em trở lại lớp. Đây là cánh tay đắc lực, hỗ trợ cho tôi trong công tác chủ
nhiệm.
2.4/ Giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn:
Nắm được một số em có hoàn cảnh nghèo đặc biệt ( mồ côi cha hoặc mẹ) , tôi rà soát
lại xem em nào còn thiếu quần áo trắng, đồ dùng học tập,… tôi đăng kí cho các em được
nhận dụng cụ do nhà trường hỗ trợ. Có 3 em con nhà nghèo không có đủ áo quần , đồ dùng
học tập để đi học . Tôi mua tặng các em đồ dùng học tập ngay vào đầu năm học. Ngoài ra
tôi còn kêu gọi các em trong lớp dành tặng bạn một số quần áo cũ và tranh thủ sự hỗ trợ từ
một số phụ huynh có khả năng để trang bị thêm những dụng cụ còn lại cho những em này
để các em được yên tâm đến trường, không phải mặc cảm vì nhà nghèo. Qua đây tôi cũng
thấy tình cảm giữa bạn nhà nghèo và bạn khá giả gần gũi nhau hơn.
2.5/ Thành lập Đôi bạn học tập:
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 13
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
thật sự là một ngày vui.
- Đối với những mặt học sinh còn hạn chế, tôi nhắc nhở nhẹ nhàng kèm theo hướng
dẫn, uốn nắn cho các em để tuần sau các em thực hiện tốt hơn.
- Ngoài ra tôi còn nêu gương các anh, chị học sinh những năm trước dù đầu năm còn
yếu kém nhưng nhờ sự kiên trì, cố gắng đến cuối năm cũng đã đạt loại Khá, Giỏi để củng
cố lòng tin nơi các em.
2.8/ Biện pháp tinh thần:
- Mỗi ngày bước vào lớp tôi đều quan sát cả lớp, thấy các em có mặt đầy đủ là lòng tôi
rất vui. Nhất là những hôm thời tiết khắc nghiệt như: mưa, bão, …Những hôm ấy, tôi cho
lớp hoan nghênh bằng một tràng pháo tay để động viên khích lệ tinh thần các em. Trong
giờ dạy, tôi đầu tư soạn giảng phân hóa theo đối tượng học sinh sao cho phù hợp với trình
độ mọi học sinh trong lớp - nhất là những em Trung bình, Yếu nhằm kích thích học sinh
hứng thú học tập, tiếp thu bài nhanh hơn.
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 15
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
- Tôi cũng thật sự hòa nhập cùng các em trong giờ dạy hoạt động ngoại khoá hay trò
chơi của môn Thể dục, tổ chức đố vui qua hình thức Giải ô chữ trong các tiết Ôn tập hết
chương…
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.
2. Kết quả:
Sau một năm áp dụng cách làm trên. Năm 2009 – 2010, ở lớp tôi chủ nhiệm đạt
kết quả như sau:
( Số liệu học sinh Cuối năm học 2009 – 2010)
Năm học
Đầu năm Cuối năm
Tỉ lệ
T. số Nữ DT T. số Nữ DT
2009 -2010 19 6 15 19 6 15 100 %
Từ cách làm trên, tôi đã bày tỏ sáng kiến cho tất cả giáo viên trong tổ, được các thành
viên trong tổ áp dụng vào công tác chủ nhiệm và nhận thấy việc duy trì sĩ số của toàn khối
học.
3. Nguyên nhân thành công và tồn tại:
* Bản thân tôi suy nghĩ rằng, là một giáo viên chủ nhiệm phải đáp ứng những yêu cầu
sau:
+ Ngoài việc nâng cao chất lượng dạy học, phải đảm bảo đến việc duy trì sĩ số lớp.
+ Quan tâm đến học sinh, nhất là nắm rõ hoàn cảnh những em khó khăn để kịp thời hỗ
trợ về vật chất lẫn tinh thần để các em yên tâm học tập.
+ Tạo mối quan hệ tương hỗ giữa Gia đình - Nhà trường – Xã hội để có biện pháp giáo
dục tốt hơn.
+ Tạo tình cảm gắn bó giữa các thành viên trong lớp và tình thân ái giữa thầy và trò để
học sinh thêm yêu trường lớp hơn.
* Những tồn tại:
Trong quá trình thực hiện, chúng ta phải lưu ý những vấn đề sau:
+ Không phải phụ huynh nào cũng quan niệm giống nhau, có gia đình nghèo tiền nhưng
không chịu nghèo chữ; cũng có gia đình nhìn chuyện học chữ của con em họ theo hướng
chưa tích cực nên đôi khi họ có thái độ bất cần khi giáo viên đến vận động. Lúc ấy người
giáo viên phải thật sự kiên nhẫn.
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 17
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
+ Địa bàn dân cư còn một số khó khăn, đường trơn, có gia đình sống ở trong rẫy lầy,
dốc …nên còn gặp vất vả trong vận động học sinh.
+ Mỗi học sinh có hoàn cảnh, tâm lý khác nhau nên phải tùy theo hoàn cảnh của từng
em mà áp dụng từng biện pháp thích hợp.
4. Những bài học kinh nghiệm:
Qua những việc đã làm, bản thân tôi đã rút ra cho mình bài học kinh nghiệm quý báu
mà người giáo viên cần phải có và phải thực hiện:
+ Phải thật sự yêu nghề, yêu trẻ; gần gũi, yêu thương trẻ; hiểu biết tâm tư nguyện vọng
của trẻ; xem trẻ như người thân trong gia đình.
+ Phải nhạy bén trong mọi tình huống và xử lí tình huống đúng lúc, kịp thời.
+ Phải kiên trì, nhẫn nại và chịu khó thì mới không bó tay trước mọi thử thách.
- Đối với nhà trường:
+ Có hình thức khen thưởng kịp thời đối với lớp, đối với giáo viên chủ nhiệm không có
học sinh bỏ học.
- Đối với ngành :
+ Sắp xếp bố trí đủ số lượng giáo viên đứng lớp ngay từ đầu mỗi năm học.
+ Hỗ trợ kinh phí để nhà trường mở lớp 2 buổi/ ngày.
+ Tiếp tục tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, như vậy chất lượng, trình độ tay nghề
của giáo viên mới nâng lên cả về chất và về lượng.
- Đối với chính quyền các cấp:
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 20
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
+ Đề nghị tập trung đầu tư cơ sở vật chất cho các đơn vị trường học, gắn kế hoạch đầu tư
cơ sở vật chất với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.
+ Luôn tạo mọi điều kiện giúp đỡ về vật chất cho những em học sinh nghèo và những em
có hoàn cảnh khó khăn để các em được đến trường như các bạn khác và tham gia vận động
học sinh bỏ học đi học lại cùng với giáo viên chủ nhiệm.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã đúc kết được trong quá trình công tác.
Xin nêu ra để cùng quý thầy cô và đồng nghiệp trao đổi nhằm giúp tôi hoàn thiện hơn
trong những lần nghiên cứu sắp tới.
Xin chân thành cảm ơn !
Cư Pơng, ngày 15 tháng 10 năm 2010
Người viết
Trần Thị Thông
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 21
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 22
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
MỤC LỤC
2/ Kết quả:
3/ Nguyên nhân thành công và tồn tại.
4/ Những bài học kinh nghiệm:
PHẦN 4: KẾT LUẬN - ĐỀ XUẤT- KIẾN NGHỊ Trang 10
1. Kết luận .
2. Một số đề xuất kiến nghị .
Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 24
Một số biện pháp duy trì sĩ số học sinh vùng dân tộc thiểu số
Nhận xét , xếp loại của hội đồng khoa học nhà trường :
Nhận xét xếp loại của hội đồng khoa học PGD :Giáo viên: Trần Thị Thông – Trường Tiểu học La Văn Cầu * Trang 25