BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ LIÊN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG
TẠI THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ LIÊN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG
TẠI THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 60 34 04 03
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN ĐĂNG QUẾ
Xin trân trọng cảm ơn!
Ngƣời thực hiện luận văn
Lê Thị Liên
ii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................ 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA,
KHEN THƢỞNG............................................................................................................................ 9
1.1. Khái niệm về thi đua, khen thưởng........................................................................ 9
1.2. Mục đích, yêu cầu và vai trò của thi đua, khen thưởng............................15
1.3. Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng..................................................... 18
1.4. Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về thi đua, khen
thưởng.................................................................................................................................................... 35
1.5. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng ở một số địa
phương cấp huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk................................................................... 37
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA,
KHEN THƢỞNG TẠI THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK.....................42
2.1. Khái quát chung về thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.................................... 42
2.2. Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh
Đắk Lắk giai đoạn 2009-2016................................................................................................... 46
2.3. Đánh giá chung công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng
tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk............................................................................................. 68
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG TẠI THỊ XÃ BUÔN HỒ,
TỈNH ĐẮK LẮK............................................................................................................................ 77
v
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì
phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất” [28,
tr.473]. Vì vậy, lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chủ trương lấy thi
đua làm động lực để phát huy tinh thần yêu nước, qua phong trào thi đua để
bồi dưỡng, nâng cao lòng yêu nước, biến lòng yêu nước thành sức mạnh vật
chất và tinh thần trong lao động sản xuất, trong huấn luyện chiến đấu bảo vệ
Tổ quốc; đồng thời lấy lòng yêu nước để thúc đẩy thi đua và nâng cao hiệu
quả của công tác thi đua. Người viết: “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích
lợi cho gia đình mình và ích lợi cho làng, cho nước và cho dân tộc” [27,
tr.659]. Chính vì vậy mà Bác Hồ đã đặt tên cho phong trào thi đua của nhân
dân ta là phong trào “Thi đua yêu nước”. Phong trào thi đua yêu nước do
Người khởi xướng và lãnh đạo từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống
Pháp đã nhanh chóng phát triển, thành phong trào sâu rộng và liên tục qua
nhiều thập kỷ, trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước. “Thi đua, khen
thưởng là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con
người mới. Thi đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên, liên tục
hàng ngày” [3, tr.226] và công việc hàng ngày chính là nội dung thiết thực
của thi đua. Từ thực tiễn tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk càng thấy được vai
trò, vị trí của thi đua, khen thưởng trong quá trình xây dựng và phát triển thị
xã từ khi thành lập đến nay; ở bất kỳ lĩnh vực nào, thời điểm nào cũng đều có
sự đóng góp quan trọng của thi đua, khen thưởng.
Vai trò quan trọng của thi đua, khen thưởng là không thể thiếu nhằm
góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới của đất nước cũng như nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của tỉnh Đắk Lắk
2
công tác thi đua, khen thưởng từ đó đề xuất các quan điểm, phương hướng và
giải pháp nhằm đổi mới hoạt động thi đua, khen thưởng và quản lý Nhà nước
về thi đua, khen thưởng, trực tiếp góp phần kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật
thi đua, khen thưởng để thi đua, khen thưởng thực sự là động lực góp phần
thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ mới. Từ thực tiễn nâng lên
thành lý luận. Tuyên truyền toàn dân về vị trí, vai trò của thi đua, khen thưởng
sâu rộng và lan tỏa hơn [23].
- ThS. Nguyễn Thị Phương Lan (2016), Cơ sở khoa học xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ.
Công trình nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của
việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay; đánh giá thực trạng số lượng, chất lượng từ
đó tìm ra các nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm. Trên cơ sở đó
đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công
tác thi đua, khen thưởng từng bước đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác thi đua, khen thưởng trong thời kỳ mới
[25].
Đề tài đã khái quát một cách tương đối có hệ thống, chi tiết một số vấn
đề lý luận liên quan đến quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng
như vai trò của thi đua khen thưởng, các nôi dung quản lý nhà nước về công
tác thi đua, khen thưởng, các yếu tố chi phối, ảnh hưởng đến quản lý nhà nước
về thi đua, khen thưởng; vị trí, vai trò, đặc điểm, cơ cấu của đội ngũ cán bộ,
công chức làm công tác thi đua, khen thưởng. Bên cạnh đó, Đề tài đã phân
tích, làm rõ được thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thi đua,
khen thưởng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, qua những số liệu điều tra
pháp tổ chức phong trào thi đua đạt hiệu quả cao trong giai đoạn hiện nay,
Nhóm nghiên cứu đã phân tích các yếu tố liên quan đến phương pháp tổ chức
4
phong trào thi đua. Dựa vào quan điểm, mục tiêu của Đảng về phương pháp
tổ chức trong phong trào thi đua, từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp [22].
- Đỗ Thúy Phượng (2010), Hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen
thưởng ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp
luật.
Luận văn làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về công tác thi đua, khen
thưởng. Hệ thống hóa và đánh giá khái quát pháp luật về thi đua, khen thưởng
từ năm 1945 đến năm 2010, trong đó đi sâu phân tích, đánh giá những quy
định pháp luật hiện hành về thi đua, khen thưởng. Đánh giá tình hình thực
hiện và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng ở
nước ta tại thời điểm nghiên cứu [29].
- Dương Thị Thanh (2007), Đổi mới quản lý Nhà nước về công tác thi
đua, khen thưởng ở địa phương, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công.
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước về
công tác thi đua, khen thưởng ở tỉnh Ninh Bình từ những năm đổi mới đến
năm 2007 có tham khảo những thời kỳ trước đó, đề xuất các giải pháp đổi mới
để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng
ở địa phương [33].
- Lê Xuân Khánh (2010), Quản lý Nhà nước về thi đua, khen thưởng
giai đoạn 2011-2020, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công.
Đề tài nghiên cứu làm rõ thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước về thi
đua, khen thưởng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung,
phương thức quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng cho phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 [24].
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk
Lắk.
6
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
- Phạm vi thời gian: Từ khi thành lập thị xã Buôn Hồ đến nay (từ năm
2009 đến năm 2016).
- Phạm vi loại hình khen thưởng: Khen thưởng theo công trạng và
thành tích đạt được.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam về thi đua khen thưởng, kết hợp với lý thuyết và thực tiễn của
quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng ở cấp huyện thuộc tỉnh Đắk Lắk, cụ
thể tại thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được tác giả sử dụng trong đề tài gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp quan sát, thu thập số liệu.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Làm cơ sở để nghiên cứu sâu hơn về chủ trương, đường lối của Đảng;
xuất là một tất yếu khách quan trong quá trình lao động sản xuất của con
người. Các Mác đã đưa ra quan niệm về thi đua “Thi đua nảy nở trong quá
trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người với
sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự nâng cao theo lối đặc biệt, nghị lực
sinh động làm tăng thêm nghị lực riêng cho từng người” [26].
Bàn về ngày thứ bảy lao động cộng sản V.I. Lênin đã nói đến thi đua xã
hội chủ nghĩa đó là phong trào lao động tự nguyện, góp sức giải quyết khó
khăn, xây dựng xã hội mới của quần chúng lao động được giải phóng khỏi ách
áp bức bóc lột. Lênin coi đây là một sáng kiến vĩ đại, chính quyền cách mạng
cần chăm lo, tổng kết, phổ biến sáng kiến kinh nghiệm.
Khái niệm Thi đua xã hội chủ nghĩa trong quan điểm của V.I.
Lênin là một hình thức hợp tác giữa người với người, góp phần
phát triển năng lực của con người, phát triển của tính chủ động
sáng tạo của nhân dân lao động và của chế độ dân chủ trong xã hội
mới. Thi đua xã hội chủ nghĩa, ra đời trên cơ sở lao động tập thể,
trên cơ sở những quan hệ tương trợ và hợp tác, đoàn kết theo tinh
thần đồng chí, nhằm giúp đỡ những người lạc hậu dần dần tiến lên
9
ngang những người tiên tiến, nâng cao trình độ văn hóa và trình độ
sinh hoạt tinh thần của mọi người. V.I. Lênin coi thi đua là đòn bẩy
mạnh mẽ của tiến bộ kinh tế - xã hội, là trường học giáo dục chính
trị lao động và đạo đức cho nhân dân lao động. Chức năng chủ yếu
của thi đua xã hội chủ nghĩa là chức năng kinh tế: nâng cao hiệu
suất của sản xuất xã hội, đạt những kết quả cuối cùng cao nhất của
nền kinh tế quốc dân, đạt năng suất lao động cao hơn, tổ chức lao
động một cách khoa học v.v... [34].
Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
giống với bí mật thương nghiệp trong cạnh tranh. Thi đua xã hội chủ nghĩa
chẳng những nhằm mục tiêu kinh tế mà còn nhằm xây dựng con người mới,
rèn luyện nhân cách cao đẹp cho người lao động.
Như vậy, thi đua được coi như một công cụ góp phần nâng cao hiệu quả
sản xuất. Công tác thi đua được hình thành và gắn liền với những chặng
đường lịch sử, đặc biệt khi xã hội đang được xây dựng trong thời kỳ đổi mới,
trong cơ chế thị trường. Nhà nước ta ghi nhận tính tất yếu của công tác thi đua
trong thời kỳ đổi mới đất nước bằng việc xây dựng và thông qua Luật Thi đua
– Khen thưởng năm 2003 và được sửa đổi bổ sung năm 2005, năm 2013.
Trong đó chỉ rõ “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện
của các cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [30].
1.1.2. Khái niệm khen thưởng
Cùng với thi đua, khen thưởng cũng là hoạt động tồn tại khá lâu và phát
triển gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người. Dưới các hình thái kinh
tế xã hội khác nhau, các hình thức khen thưởng cũng tồn tại dưới các hình
thức, giá trị khác nhau tùy thuộc vào bản chất của nhà nước ở trong từng giai
đoạn lịch sử.
11
Ở nước ta, khen thưởng đã được thực hiện từ các triều đại phong kiến
trước đây, các hình thức khen thưởng của thời phong kiến đã được Ngô Sỹ
Liên nêu rõ trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” như sau:
- Khen thưởng người có công trong chiến trận
- Khen thưởng người có công trong việc đi sứ
- Khen thưởng người phò tá có công lao tài đức
- Khen thưởng người tiến cử, người hiền tài
- Khen thưởng người có lời tâu đúng
vậy, khen thưởng là một vấn đề thuộc phạm trù khoa học xã hội. Khen thưởng
và trừng phạt được hình thành phát sinh và tồn tại trong quá trình phát triển
của con người là vấn đề thuộc tâm lý xã hội, sinh hoạt tinh thần của con
người, do đó khen thưởng phải thể hiện quan điểm quần chúng, phải có trách
nhiệm cao trong quá trình phát hiện xét khen thưởng. Khen thưởng tồn tại
cùng với sự tồn tại của Nhà nước. Còn Nhà nước là còn khen thưởng. Khen
thưởng vừa có ý nghĩa động viên về tinh thần và khích lệ bằng vật chất.
Trong điều kiện hiện nay, khen thưởng vẫn có vai trò quan trọng là
động lực thúc đẩy xã hội phát triển là biện pháp của người quản lý thực hiện
nhiệm vụ trọng tâm chính trị của cơ quan đơn vị mình nhằm khuyến khích
động viên mọi tầng lớp trong xã hội tích cực hăng hái lập thành tích trong lao
động sản xuất và công tác. Luật thi đua, khen thưởng đã nêu rõ “Khen thưởng
là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi
ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc” [30].
1.1.3. Mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng
Thi đua và khen thưởng quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động biện
chứng lẫn nhau. Đó là hai mặt của một vấn đề, là hai thành tố hữu cơ của một
quá trình đem đến một hiệu quả chung.
13
Thi đua là động lực thúc đẩy cá nhân và cộng đồng hoàn thành nhiệm
vụ trên cơ sở đó thực hiện khen thưởng. Thi đua là cơ sở của khen thưởng,
nếu tổ chức tốt phong trào thi đua thì kết quả khen thưởng cao. Ngược lại,
khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ có tác dụng động viên, cổ vũ
cho thi đua. Thực tế cho thấy ở đâu phong trào thi đua thực sự là động lực thì
ở đó xã hội phát triển, quần chúng phấn khởi và khen thưởng chuẩn xác;
ngược lại ở đâu phong trào thi đua yếu, hoặc không có phong trào thi đua thì
tiêu cực trong phong trào thi đua, ảnh hưởng đến công tác khen thưởng.
Tuy nhiên, trong thực tế có những hình thức khen thưởng không phản
ánh kết quả trực tiếp từ phong trào thi đua như: Khen thưởng tổng kết thành
tích kháng chiến, khen thưởng người có quá trình cống hiến lâu dài trong cơ
quan, tổ chức, đoàn thể ...; khen thưởng đối với những cá nhân tổ chức trong
nước và ngoài nước có công lao, đóng góp cho xã hội, cho Việt Nam trong
quá trình hội nhập, phát triển kinh tế, những cá nhân dũng cảm cứu người, tài
sản của nhà nước, của tập thể, của công dân ... song việc khen thưởng này
cũng có quan hệ nhất định đối với thi đua, nó cũng bị ảnh hưởng nhất định từ
phong trào thi đua, từ truyền thống thi đua yêu nước của dân tộc.
1.2. Mục đích, yêu cầu và vai trò của thi đua, khen thƣởng
1.2.1. Mục đích, yêu cầu của thi đua, khen thưởng
Mục đích của việc thi đua, khen thưởng là “nhằm tạo động lực động
viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu
nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [32]; khích lệ,
khơi dậy một cách đúng đắn động cơ làm việc của con người, khiến cho họ
coi việc thực hiện mục tiêu của tổ chức cũng như thực hiện nhu cầu của bản
thân, từ đó làm cho tính tích cực và sáng tạo của họ tiếp tục được duy trì và
phát huy, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; thi đua, khen
thưởng có tác dụng giáo dục, nêu gương, để sau khi được biểu dương, khen
15
thưởng, tập thể, cá nhân được khen phát huy tính tích cực trong công việc
được giao; người chưa được khen cũng thấy được trách nhiệm và nghĩa vụ
của mình, cần phải phấn đấu để được ghi nhận trong thời gian tới và đạt được
mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị, địa phương đề ra.
Công tác khen thưởng phải bảo đảm chính xác, kịp thời, công khai,
Hiện nay, công tác thi đua khen thưởng đã được các ngành, các cấp
quan tâm hơn và luôn gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Công tác thi
đua, khen thưởng thực sự đã trở thành động lực quan trọng trong việc thúc
đẩy mọi người, mọi thành phần trong xã hội thi đua lao động sản xuất, học
tập, sáng tạo, sẵn sàng chiến đấu ... Nhiều đồng chí lãnh đạo, thủ trưởng cơ
quan, đơn vị đã coi công tác thi đua, khen thưởng là một trong những biện
pháp quản lý, điều hành cơ quan, đơn vị có hiệu quả, thực sự có tác dụng
động viên cán bộ, công nhân viên chức và người lao động hoàn thành những
nhiệm vụ được giao. Nhờ có sự động viên, khen thưởng kịp thời nên ngày
càng xuất hiện nhiều đơn vị, tập thể sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, các
hộ gia đình nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi trên khắp các vùng miền của
Tổ quốc.
Thi đua tạo ra động lực sản xuất thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thi đua thường xuyên được tổ chức thực hiện hàng ngày, hàng tháng, hàng
quý, hàng năm nhằm thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu và chương trình công tác đề
ra. Các phong trào thi đua được tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ công tác
trọng tâm, đột xuất theo từng giai đoạn và thời gian được xác định.
Nhiều tập thể, cá nhân được khen thưởng đã thực hiện tốt và nhận thức
sâu sắc ý nghĩa của công tác thi đua khen thưởng nên họ càng phấn đấu cao
hơn với mục đích vô tư, trong sáng. Nếu tiếp tục được khen họ sẽ càng vui,
nếu chưa được thì họ lại tiếp tục thi đua, phấn đấu nhiều hơn, tích cực hơn
nữa chứ không vì thế mà biểu hiện tư tưởng dừng lại, chán nản, tiêu cực ...
17