MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, có ảnh hưởng sâu sắc
đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục,
tập quán của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia. Mỗi tôn giáo ngay từ khi ra đời đã
chứa đựng mục đích tốt đẹp là mang lại sự công bằng, bác ái, hướng thiện cho
con người, là nơi để con người gửi gắm niềm tin mang tính thiêng; tôn giáo
vừa giúp con người điều chỉnh hành vi, vừa có khả năng gắn kết cộng đồng và
chuyển giao văn hóa. Song, đây lại là lĩnh vực rất dễ bị thế lực thù địch lợi
dụng biến thành những hoạt động gây khó khăn, bất ổn cho chính quyền, gây
phức tạp về an ninh, chính trị, ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của xã
hội. Những năm gần đây, tình hình tôn giáo trên thế giới có nhiều diễn biến
phức tạp mà ở phía sau nó có sự đan xen những động cơ tôn giáo cực đoan…
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, nhà khoa học “chưa bao giờ bức tranh
tôn giáo trên thế giới lại đa dạng, nhiều màu sắc, pha trộn ánh sáng và bóng
tối như hiện nay”.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo cùng tồn tại lâu
đời trong lịch sử của dân tộc và là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân
dân; hòa trong trong dòng chảy của nhân loại, tôn giáo ở Việt Nam đang có
những biến đổi nhất định, xu hướng quốc tế hóa của tôn giáo, dân tộc hóa tôn
giáo, đan xen, đa dạng trong các tôn giáo là tất yếu, khách quan diễn ra trong
tôn giáo và hoạt động tôn giáo. Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở
Việt Nam có tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn, không chỉ đảm bảo quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn góp phần ổn định trật tự xã hội và an ninh
quốc gia. Với những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước,
các hoạt động của tôn giáo được phát triển; Công tác vận động đồng bào tôn
1
giáo hưởng ứng tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại
chính quyền, nhất là cấp cơ sở và một số cơ quan chức năng trong việc giải
quyết thủ tục, hồ sơ liên quan đến hoạt động tôn giáo; số vụ việc vi phạm
pháp luật còn nhiều; khiếu kiện về đất đai, cơ sở thờ tự một số nơi còn kéo
dài; việc hiến, nhượng đất, xây dựng, sửa chữa, nâng cấp mở rộng cơ sở thờ
tự khi chưa được cấp phép của cơ quan chức năng có xu hướng gia tăng. Đây
là những vấn đề dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để kích động, chống phá.
Việc nghiên cứu đánh giá đúng tình hình, đề ra những giải pháp để
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động của đạo Công giáo trên địa
bàn tỉnh hiện nay là vấn đề hết sức quan trọng. Xuất phát từ tình hình trên, tôi
chọn đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động của đạo Công giáo trên địa
bàn tỉnh Đắk Lắk” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý
công. Với đề tài này, tôi hy vọng sẽ làm sáng tỏ thêm một số vấn đề về lý luận
và thực tiễn, góp phần năng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hoạt
động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trên thế giới và ở Việt Nam có rất nhiều đề tài nghiên cứu, bài viết của
các tổ chức, các chuyên gia, các học giả và người nghiên cứu khoa học về tôn
giáo, hoạt động tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Quản lý
nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về tôn giáo nói riêng là một trong
những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới; Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày
16/10/1990 của Bộ Chính trị (khóa VI) về “Tăng cường công tác tôn giáo
trong tình hình mới” là dấu mốc phát triển về nhận thức và chính sách của
Đảng về tôn giáo, Đảng ta khẳng định: “Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu
dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và
tôn giáo có những giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp với chế độ mới”; tiếp sau
đó là nhiều công trình, đề tài nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau trên bình
diện cả nước như: “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” -
3
nhà nước về hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
+ Nghiên cứu các cơ sở lý luận về tôn giáo và quản lý nhà nước về hoạt
động tôn giáo; tìm hiểu quá trình hình thành và hoạt động của đạo Công giáo
ở Đắk Lắk.
+ Đánh giá thực trạng, xác định rõ ưu điểm, hạn chế cũng như những
khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động của đạo
Công giáo ở tỉnh Đắk Lắk.
+ Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về
hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong tình hình mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nhà nước về hoạt động
của đạo Công giáo ở tỉnh Đắk Lắk
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước về hoạt động tôn
giáo nói chung, đạo Công giáo nói riêng theo quy định của pháp luật.
- Về không gian: Địa bàn tỉnh Đắk Lắk (tập trung các địa phương có
đông tín đồ đạo Công giáo như: Thành phố Buôn Ma Thuột, Thị xã Buôn Hồ,
Huyện Cư M’gar, Krông Pắc, Cư Kuin, Krông Búk, Ea H’leo).
- Về thời gian: Từ năm 2005 đến năm 2019 (sau khi Pháp lệnh số
21/2004/PL-UBTVQH11, ngày 18/6/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
về Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực thi hành).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng
6
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là căn cứ khoa học để các địa phương
cơ sở và các ban ngành liên quan tham khảo trong việc phối hợp giải quyết
các vấn đề phát sinh liên quan đến đạo Công giáo hoặc xử lý các vụ việc vi
phạm pháp luật trong hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn.
- Kết quả của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
công tác nghiên cứu, giảng dạy, giúp cho học viên và cán bộ có thêm tư liệu
khi nghiên cứu vấn đề này ở các lớp bồi dưỡng về quản lý nhà nước ngạch
chuyên viên…
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được chia ra thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về hoạt động của đạo Công
giáo
Chương 2: Thực trạng hoạt động của đạo Công giáo và quản lý nhà
nước về hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Một số giải pháp quản lý nhà nước về hoạt động của đạo
Công giáo trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong tình hình mới.
7
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO
1.1. Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về hoạt động
tôn giáo, đạo Công giáo
1.1.1. Quản lý nhà nước và vai trò quản lý nhà nước
- Chủ thể của quản lý là con người hay tổ chức của con người. Những
cá nhân hay tổ chức của con người phải là những chủ thể đại diện có quyền
uy, có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ
của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định
trong quản lý.
- Khách thể của quản lý là trật tự quản lý. Trật tự này được quy định
bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm tập quán, quy phạm
đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật.
Khi nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng
nhất do Nhà nước đảm nhiệm - Quản lý nhà nước xuất hiện. Quản lý nhà
nước hiện nay được hiểu theo hai nghĩa:
* Theo nghĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của nhà nước, được sử
dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt
động của con người do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư
pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã hội.
* Theo nghĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà
nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của
các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp).
Pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước. Bằng pháp luật,
Nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức xã hội hoặc cá nhân để họ thay
mặt Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước.
9
1.1.2. Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, đạo Công giáo
1.1.2.1. Khái niệm tôn giáo và đạo Công giáo
* Tôn giáo: Tôn giáo là hiện tượng xã hội, hình thành và phát triển
trong nhiều cộng đồng dân tộc trên thế giới. Do được hình thành và phát triển
trong các cộng đồng dân tộc khác nhau, nên tôn giáo rất đa dạng, phong phú.
chỉ là sự phản ánh xã hội con người vào trong ý thức của con người. Vì thế
tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh cái tồn tại xã hội
sinh ra nó. (2) Song sự phản ánh đó chỉ là sự phản ánh phi lý tính, hoang
đường, để rồi sau đó lấy cái phi lý, hoang đường làm chân lý, chuẩn mực để
giải thích hoặc chi phối cái hiện thực. (3) Tôn giáo là sản phẩm của con
người, nhưng không phải là con người cá nhân, riêng lẻ mà là con người xã
hội, do đó tôn giáo là một hiện tượng xã hội. (4) Xét về bản chất, tôn giáo là
một hiện tượng xã hội tiêu cực, nó vừa biểu thị sự phản kháng tiêu cực trước
những nỗi khổ đau và bất hạnh của con người, vừa biểu thị sự nhẫn nhục, sự
bất lực của con người trước những sức mạnh tự phát của tự nhiên và xã hội.
Ở Việt Nam, cũng có nhiều cách định nghĩa về tôn giáo; theo một số Từ
điển Tiếng Việt, “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm
dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có
những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải
phục tùng, tôn thờ”. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm tôn giáo được quy định
tại Khoản 5, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Tôn giáo là niềm tin
của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối
tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [60, tr.1].
* Tổ chức tôn giáo:
Tổ chức tôn giáo là một tập hợp những người cùng tin theo một hệ
thống giáo lý, giáo luật, nghi lễ và tổ chức theo một cơ cấu nhất định, tổ chức
này được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân và được cấp phép hoạt
động. Khoản 12, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016 quy định: “Tổ chức
11
tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo
được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực
hiện các hoạt động tôn giáo”. Tổ chức được công nhận là tổ chức tôn giáo khi
là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong
tổ chức.
Khoản 9, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 quy định: Chức việc
là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp
chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ
chức vụ trong tổ chức.
* Đạo Công giáo
Đạo Công giáo là một nhánh lớn của đạo Thiên chúa giáo (còn có tên
gọi khác là Kitô giáo); Đạo này thờ chúa Giêsu, gồm có các nhánh: Chính
Thống giáo; Đạo Tin lành do Lute thành lập ở Đức (1517) và Calvin ở Thụy
Sĩ (1543); Anh Giáo do Hăngri VIII, vua nước Anh thành lập (1539) và đạo
Công giáo là một phái lớn, được tổ chức chặt chẽ. Khi mới ra đời đạo Công
giáo được gọi chung là Kitô giáo, tuy nhiên sau nhiều lần chia tách, tôn giáo
này có tên mới là đạo Công giáo như hiện nay. Đạo Công giáo có Giáo hội
chung để quản lý toàn đạo trên toàn thế giới là Giáo triều Vatican, đứng đầu
giáo hội là Giáo Hoàng; Giáo Hoàng có quyền tối cao đối với toàn Giáo hội
Công giáo trên phạm vi toàn cầu. Đạo Công giáo lấy Kinh Thánh làm kinh
điển cho tôn giáo mình, được xem là văn bản linh ứng và trung thực; là mẫu
mực tối cao của đức tin phải được tôn sùng. Theo giáo lý đạo Công giáo,
Thiên chúa có trước đời đời, có sau đời đời, có trước cả không gian và thời
gian; Thiên Chúa tạo ra trời đất, muôn loài và có 3 ngôi [41, tr.140], [35].
Về khái niệm, cho đến nay chưa có tài liệu nào đề cập chi tiết và làm rõ
khái niệm về đạo Công giáo; Theo Từ điển Tiếng Việt 2016, ghi: “đạo Công
giáo là Thiên Chúa giáo, người theo đạo Thiên Chúa”. Tuy nhiên, trên cơ sở
nghiên cứu quá trình ra đời tôn giáo này, các nhà khoa học khái quát: “Đạo
13
Công giáo là một tổ chức tôn giáo quốc tế có nguồn gốc hình thành từ Do
thuần túy tôn giáo và Hoạt động xã hội của các tôn giáo.
- Hoạt động thuần túy tôn giáo là những hoạt động cụ thể của tổ chức
tôn giáo và cá nhân tín đồ, chức sắc, nhà tu hành nhằm mục đích thỏa mãn các
nhu cầu tôn giáo của cộng đồng và từng cá nhân. Hoạt động tôn giáo chủ yếu
được diễn ra dưới 3 hình thức:
Thứ nhất là những hoạt động lễ nghi, thờ phụng nhằm thỏa mãn nhu
cầu tín đồ, chức sắc, tôn giáo. Nhà nước không can thiệp đối với hoạt động
này. Tuy nhiên các hoạt động đó chỉ được diễn ra trong khuôn viên thờ tự của
các tôn giáo, hoặc nhà riêng tín đồ. Nếu hoạt động này diễn ra ngoài khuôn
viên cơ sở thờ tự hoặc thành phần tham gia là người nước ngoài, người ở
những nơi khác đến, thì phải xin phép và chịu sự quản lý của chính quyền và
các cơ quan chức năng theo quy định của pháp luật. Nêu người nào lợi dụng
hoạt động tôn giáo để tuyên truyền mê tín, dị đoan, kích động quần chúng,
hoặc vì mục đích phi tôn giáo, thì đều coi là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý
tùy theo mức độ vi phạm.
Thứ hai là những hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất, phát triển
lực lượng của tôn giáo như xây sửa nơi thờ tự, đào tạo chức sắc, quan hệ quốc
tế... Tuy đây là hoạt động vì mục đích tôn giáo nhưng có liên quan đến các
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như tài nguyên, môi trường, đất đai,
quy hoạch, in ấn, xuất bản, xuất nhập cảnh... Vì vậy, hình thức hoạt động này
cũng phải chịu sự quản lý của Nhà nước theo quy định.
Thứ ba là những hoạt động liên quan đến cơ cấu hành chính của các tổ
chức giáo hội như việc tách, lập xứ, họ đạo mới, thành lập hội đoàn, dòng tu,
bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc... Hình thức hoạt động này mang tính nội
bộ của tôn giáo, nhưng có liên quan đến vấn đề quản lý nhà nước đối với các
hội quần chúng, ảnh hưởng nhất định đối với việc đảm bảo an ninh, trật tự ở
địa phương. Vì vậy, cũng phải chịu sự quản lý của Nhà nước theo quy định
15
- Hoạt động quản lý tài sản; cải tạo, trùng tu, nâng cấp, xây mới công
trình kiến trúc đạo Công giáo.
- Quan hệ quốc tế của tổ chức đạo Công giáo, chức sắc và tín đồ đạo
Công giáo
1.1.2.3. Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo
Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo là quá trình sử dụng quyền lực
Nhà nước để tác động, điều chỉnh các hoạt động tôn giáo của các pháp nhân
tôn giáo và các thể nhân tôn giáo để hoạt động của các tôn giáo diễn ra theo
đúng quan điểm của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà nước. Quản lý nhà
nước về hoạt động tôn giáo được hiểu:
Theo nghĩa rộng: Là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo quy định của pháp
luật để tác động, điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt
động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo, diễn ra phù họp với pháp luật,
đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.
Theo nghĩa hẹp: Là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước,
là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ
quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi
hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định
của pháp luật.
Đối tượng quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo bao gồm hoạt động
của các tín đồ, chức sắc, nơi thờ tự, đồ dùng việc đạo, cơ sở vật chất và xã hội
của tôn giáo và địa điểm sinh hoạt.
1.1.2.4. Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động của đạo Công
giáo
Quản lý nhà nước về hoạt động của đạo Công giáo thực chất đó là
những tác động, điều hành của các cơ quan nhà nước, tới các hoạt động của
18
ủy ban nhân dân các cấp.
- Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ và Vụ Công giáo thuộc
Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền riêng, quản lý nhà nước về
chuyên ngành tôn giáo ở Trung ương.
- Ban Tôn giáo cấp tỉnh (trực thuộc Sở Nội vụ), phòng Nội vụ (cấp
huyện) là cơ quan có thẩm quyền riêng, quản lý nhà nước về chuyên ngành
tôn giáo ở địa phương.
Ngoài ra, còn có cơ quan phối hợp làm công tác tôn giáo như: Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên; cơ quan Công an, cơ quan
Quốc phòng; Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Ban Dân vận Tỉnh ủy...
* Đối tượng quản lý nhà nước về hoạt động của đạo Công giáo
Đối tượng quản lý nhà nước về hoạt động đạo Công giáo là những tổ
chức, cá nhân, các mối quan hệ, các sự việc, hiện tượng chịu tác động, điều
chỉnh từ phía các cơ quan hành chính Nhà nước. Đây chính là những quá trình
tôn giáo, các hoạt động tôn giáo của những tổ chức, giáo xứ, giáo phận, chức
sắc, tín đồ đạo Công giáo, những đối tượng này chịu những tác động, ảnh
hưởng bởi chủ thể quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, đối tượng quản lý nhà
nước về hoạt động đạo Công giáo còn là các quá trình hoạt động đạo của
những chức sắc, tín đồ của các tổ chức đạo Công giáo và các công trình kiến
trúc của Giáo hội Công giáo.
1.1.2.5. Mục tiêu quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo
Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo nhằm đảm bảo quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân; Làm cho những hoạt động tôn giáo diễn ra
trong khuôn khổ pháp luật, thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước đối với tôn giáo. Đồng thời, chống lại những âm mưu, thủ đoạn
lợi dụng tôn giáo vì mục đích phi tôn giáo. Do vậy, quản lý nhà nước về hoạt
cộng đồng và lợi ích quốc gia, xã hội.
20
1.2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo
1.2.1. Khái quát đạo Công giáo
1.2.1.1. Khái quát sự ra đời của đạo Công giáo
Vào thế kỷ thứ II và thứ I trước Công nguyên, các dân tộc vùng Địa
Trung Hải bị đế quốc Rôma thống trị, do không chịu nổi ách áp bức, bóc lột
đến cùng cực, những người nô lệ đã nổi dậy chống lại ách thống trị của đế
quốc Rôma, đã bị chúng đàn áp khốc liệt, các cuộc đấu tranh đều bị thất bại.
Đạo Thiên Chúa ra đời trong hoàn cảnh đó.
Đạo Thiên chúa có 2 trung tâm là Rôma và Công-stăng-ti-nốp. Vào
khoảng cuối thế kỷ thứ V trở đi, mâu thuẫn giữa hai trung tâm Rôma và
Công-stăng-ti-nốp diễn ra gay gắt, quá trình giành quyền bính, tranh giành sự
độc tôn dẫn đến sự đoạn tuyệt và phạt vạ lẫn nhau, đến khoảng năm 1504
trung tâm Công-stăng-ti-nốp tách ra thành đạo Chính thống và trung tâm
Rôma thành đạo Công giáo.
Vào cuối thế kỷ thứ XV đầu thế kỷ XVI Công giáo Rôma lại xuất hiện
những mâu thuẫn mới từ đó dẫn đến một phong trào cải cách trong giáo hội
Công giáo Rôma. Kết quả là hình thành Giáo hội Tin lành tách ra khỏi Giáo
hội Công giáo. Cũng vào thời kỳ này ở nước Anh cũng diễn ra mâu thuẫn
giữa vua Henry VIII khẳng định mình là lãnh tụ tối cao của Nhà nước và của
cả Giáo hội Công giáo tại Anh quốc, đến năm 1588 quyền tối thượng của Nhà
vua được pháp luật hóa, Anh giáo chính thức tách khỏi giáo hội Công giáo.
Đạo Công giáo truyền vào Việt Nam năm 1533, do giáo sĩ Tây dương
tên là In-nê-khu; trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị lâm vào giai đoạn
khủng hoảng, nội chiến kéo dài giữa Nhà Trịnh - Nhà Mạc, Nhà Trịnh - Nhà
Nguyễn, đất nước bị chia cắt thành Đàng Trong, Đàng Ngoài. Về kinh tế, đời
biến đổi của vũ trụ đều do Thiên chúa tiền định tuyệt đối.
Theo giáo lý Công giáo con người do Thiên chúa bằng phép màu
22
nhiệm đã tạo nên theo hình ảnh của mình để thờ phụng mình. Thiên chúa có 3
ngôi: Cha, Con và các Thánh thần.
Trong giáo lý đạo Công giáo cũng cho rằng, đến một ngày nào đó thế
giới sẽ đến ngày tận thế, bị hủy diệt, những người chết sẽ sống lại, Giêsu lại
giáng thế để phán xét lần cuối cùng. Những người không có tội, siêng năng
thờ phụng Chúa sẽ được lên thiên đàng, kẻ có tội phải xuống hỏa ngục.
* Giáo luật, lễ nghi
Ngay từ đầu, Giáo hội Công giáo đã xây dựng được một hệ thống luật
lệ, lễ nghi khá chi tiết, cụ thể và được thống nhất thực hiện trên phạm vi toàn
thế giới. Trước đây, luật lệ, lễ nghi và thiết chế của Giáo hội được ghi trong
bộ Giáo luật Canon (xuất bản năm 1917), gồm 2000 điều. Ngày 25/01/1983
Giáo hội Công giáo ban hành bộ Giáo luật mới thay thế bộ Giáo luật Canon,
gọi là bộ Giáo luật năm 1983 gồm 1.752 điều. Bộ giáo luật này được xây
dựng trong khoảng thời gian 24 năm từ năm 1959 đến 1983, bộ Giáo luật đề
ra các quy phạm đối với mọi thành phần của Giáo hội trong việc thực hành
các chức năng thánh hóa, giáo huấn và cai quản; duy trì trật tự của hội và tập
trung quyền lực cho Giáo triều Vatican.
Bộ Giáo luật có bảy quyển: Quyển 1: Tổng tắc; Quyển 2: Dân chúa;
Quyển 3: Nhiệm vụ giáo huấn của Giáo hội; Quyển 4: Nhiệm vụ thánh hóa
của Giáo hội; Quyển 5: Tài sản của Giáo hội; Quyển 6: Chế tài trong Giáo
hội; Quyển 7: Tố tụng [41, tr.159].
Đạo Công giáo có những hệ thống giáo luật khá chặt chẽ, chi tiết; được
thực hiện trên phạm vi toàn giáo như: Các giáo dân phải giữ được “Mười điều
răn của Chúa trời”, “Sáu điều răn của giáo hội Công giáo” và “Hai mươi mốt
Vatican là một nhà nước có lãnh thổ riêng độc lập, có chủ quyền. Có
các cơ quan: Văn phòng thư ký Giáo hoàng; 9 thánh bộ, 3 tòa án giáo triều và
11 hội đồng Giáo hoàng.
Tại các nước độc lập có chủ quyền được giáo hội và thế giới công nhận
24
thì tòa thánh Vatican cho thành lập giáo hội riêng của nước đó gọi là Giáo
miền. Giáo miền là một định chế tổ chức cộng đoàn tín hữu trong một lãnh
thổ nhất định theo một lễ điển để giữ mối liên kết trong Giáo hội về mọi mặt
trong hoạt động tôn giáo. Giáo miền không nhất thiết phải là tư cách pháp
nhân trong hệ thống tổ chức của Giáo hội, là một tổ chức liên hợp các Giáo
hội địa phương nên Giáo miền không có bản quyền. Người đại diện cho Giáo
miền là Hồng y, có thể một nước có 2 Hồng y. Bên dưới Giáo miền là các
giáo tỉnh, gồm nhiều giáo phận. Các Tổng Giám mục phụ trách các giáo tỉnh.
Giáo phận là một cộng đoàn tín hữu được giới hạn trong một địa dư
nhất định và trực thuộc Tòa thánh. Quyền thành lập, bãi bỏ, thay đổi giáo
phận là quyền riêng của Tòa thánh. Giám mục đứng đầu, phụ trách giáo phận,
Giám mục có quyền quyết định mọi việc về tôn giáo ở giáo phận và có quyền
liên hệ trực tiếp với Giáo hoàng. Giúp việc giám mục có giám mục phó hoặc
giám mục phụ tá. Từng giáo phận có Hội đồng tư vấn, gồm một số linh mục
do giám mục chỉ định để đóng góp ý kiến cùng giám mục cai quản giáo dân.
Hồng y, các Tổng Giám mục và Giám mục ở một nước hợp lại thành
“Hội đồng Giám mục” nước đó. Hội đồng Giám mục có quyền đề ra và thống
nhất chủ trương, phương thức hoạt động cho Giáo hội trong cả nước.
Dưới Giáo phận là Giáo xứ, Giáo họ. Trong đó: Giáo xứ là một cộng
đoàn tín hữu được thiết lập thành đơn vị Giáo hội cơ sở trong một địa dư nhất
định có tính chất bền vững trong cơ cấu tổ chức Giáo hội. Mỗi giáo xứ có một
linh mục chính xứ và có thể có nhiều tư tế khác phục vụ mục vụ trong xứ.