BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN HUYỀN MINH TRANG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN HUYỀN MINH TRANG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
Nguyễn Huyền Minh Trang
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam Ďoan Luận văn này công trình nghiên cứu của tôi. Các số
liệu và nội dung trong Luận văn là trung thực, khách quan, khoa học, dựa trên
cơ sở số liệu từ cơ quan chuyên ngành, tài liệu tham khảo Ďã Ďược công bố.
Đắk Lắk, ngày 30 tháng 3 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Huyền Minh Trang
MỘT SỐ TỪ NGỮ VIẾT TẮT
1. UBND
Ủy ban nhân dân
2. HĐND
Hội Ďồng nhân dân
3. UNSESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc)
4. DLTC
Danh lam thắng cảnh
3.1. Phƣơng hƣớng và mục tiêu của quản lý Nhà nƣớc về di tích lịch
sử - văn hóa .................................................................................................... 64
3.2. Đề xuất các giải pháp quản lý Nhà nƣớc về di tích lịch sử - văn
hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ..................................................................... 69
3.3. Một số kiến nghị ................................................................................. 84
KẾT LUẬN .................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 89
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa có vai trò Ďặc biệt quan trọng trong Ďời sống xã hội; là năng
lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, Ďạo Ďức của con người; trụ cột phát triển bền
vững của mỗi quốc gia, dân tộc và nhân loại. Ngày nay, trong bối cảnh Ďất
nước Ďẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện Ďại hóa và hội nhập quốc tế, vì mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thì vai trò của
văn hóa càng Ďược khẳng Ďịnh.
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý của cộng Ďồng các dân tộc Việt
Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.
Vấn Ďề bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Ďặc biệt là di tích lịch sử
- văn hóa là một mục tiêu vô cùng quan trọng, Ďòi hỏi sự quan tâm của toàn
xã hội, song quan trọng và quyết Ďịnh nhất vẫn là vai trò của Nhà nước. Nhà
nước cần có những hành Ďộng thiết thực Ďể quản lý, huy Ďộng sự tham gia của
các cấp, các ngành, các Ďịa phương và toàn xã hội trong việc gìn giữ và phát
huy các giá trị văn hóa, tạo Ďộng lực cho việc thúc Ďẩy sự phát triển kinh tế,
xã hội.
Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý Nhà nước về di
tích lịch sử - văn hóa Ďóng vai trò rất chính yếu, góp phần Ďịnh hướng, Ďiều
Do vậy, Ďề tài “Quản lý Nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là một Ďề tài có tính cấp thiết và mang ý nghĩa thực
tiễn, hướng tới việc tìm ra nguyên nhân thực trạng cũng như Ďề xuất một số
giải pháp nhằm giải quyết vấn Ďề còn tồn tại trong công tác bảo tồn di tích
lịch sử -văn hóa tại các Ďịa phương. Đồng thời phát huy vai trò của quản lý
Nhà nước về di tích lịch sử văn hóa tại Ďịa phương, góp phần vào công
cuộc công nghiệp hóa, hiện Ďại hóa và phát triển kinh tế, xã hội của Ďất
nước.
2
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là vấn Ďề cấp thiết trong
toàn xã hội. Đây cũng là một trong những chức năng vô cùng quan trọng của
các cơ quan quản lý Nhà nước cấp Ďịa phương Ďến trung ương, Ďặc biệt là
vấn Ďề quản lý Nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa. Do vậy có rất nhiều
công trình nghiên cứu, tham luận và các bài báo viết về vấn Ďề này, tiêu biểu
như:
Giáo trình Quản lý di sản văn hóa của tác giả Nguyễn Thị Kim Loan
của trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Ďã Ďưa ra một số nội dung cơ bản của
quản lý nhà nước về di sản văn hóa trong Ďó có di tích lịch sử - văn hóa.
Giáo trình “Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch” của tác giả Lê
Hồng Lý, xuất bản năm 2010, ĐHQG Hà Nội, bên cạnh việc Ďề cập Ďến các cơ
sở lý luận về quản lý di sản văn hóa thì giáo trình tập trung vào phát triển du
lịch, chưa Ďi sâu vào công tác quản lý di sản văn hóa một cách toàn diện.
Bài viết của PGS. TS Đỗ Văn Trụ “Tiếp tục đổi mới hoạt động bảo
tồn phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới” trong Kỷ yếu
Hoạt động bảo tàng trong sự nghiệp đổi mới đất nước của Cục di sản Văn
hóa, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng
phát triển chuyên đề Kiến trúc” của tác giả Nguyễn Đình Thanh, Văn bản
quản lý Nhà nước về Di sản Văn hóa của Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch Cục Di sản Văn hóa (2014),...là những tài liệu tham khảo liên quan Ďến công
tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa.
3. Mục đích và nhiệm vụ
- Hệ thống hóa các công trình nghiên cứu, những vấn Ďề lí luận về
công tác quản lý Nhà nước về di tích lịch sử văn hóa nói chung, nhằm cung
cấp cho các nhà nghiên cứu những thông tin Ďầy Ďủ, cập nhật và có hệ thống
nguồn tài liệu về di tích lịch sử - văn hóa tại tỉnh Đắk Lắk.
4
- Phân tích, Ďánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Đắk Lắk, từ Ďó Ďề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả trong công tác quản lý Nhà nước về di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Đắk
Lắk hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý Nhà nước về di tích lịch sử
văn hóa tại tỉnh Đắk Lắk.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Tỉnh Đắk Lắk.
+ Thời gian: Từ năm 2013 Ďến năm 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Dựa trên quan Ďiểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh về việc kế thừa
vốn văn hóa truyền thống cũng như Ďường lối của Đảng ta trong việc bảo tồn,
phát huy di sản văn hóa dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
Ďậm Ďà bản sắc dân tộc.
- Phương pháp nghiên cứu: phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê
và phân loại, khảo sát, so sánh.
Đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, Ďa ngành
6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
1.1. Lý luận cơ bản về di sản văn hóa và di tích lịch sử văn hóa
1.1.1. Văn hóa và di sản văn hóa
1.1.1.1. Văn hóa
Chủ tịch Hồ Chí Minh Ďã từng phát biểu một quan Ďiểm về văn hóa như
sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng
tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, văn học
nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các
phương thức sử dụng. Toàn bộ những phát minh và sáng tạo đó là văn hóa.
Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó do loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi
sự sinh tồn” [25,tr.413].
Chính văn hóa Ďược hiểu theo nghĩa rộng như vậy mới có thể Ďóng góp
Ďược vai trò “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”. Vị trí rất cao của văn hóa trong
Ďời sống xã hội, vai trò tối quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng
và phát triển Ďất nước Ďã Ďược Chủ tịch Hồ Chí Minh Ďưa ra như một vấn Ďề
thiết yếu, mang tính lịch sử và sự tồn tại của một quốc gia.
Văn hóa theo Tylor là: “Một toàn thể phức hợp bao gồm tri thức, tín
ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, luật pháp, phong tục và tất thẩy những năng lực
khác và những tập quán khác mà con người hoạch đắc với tư cách là thành
viên của xã hội” [20, tr.10]. Có thể coi Ďây là Ďịnh nghĩa khoa học Ďầu tiên
về văn hóa, cũng từ Ďây, văn hóa trở thành Ďối tượng mới mẻ và riêng biệt của
nhiều khoa học xã hội và nhân văn.
8
giá trị văn hóa là cốt lõi của văn hóa. Giá trị văn hóa chứa Ďựng, kết tinh trong
di sản văn hóa và thông qua di sản văn hóa Ďể thực hiện các chức năng xã hội.
Di sản văn hóa là hình thức tồn tại của giá trị văn hóa, hệ giá trị văn hóa
có nguồn gốc từ nhu cầu của con người, nó thể hiện một chuẩn mực xã hội mà
con người muốn hướng tới, nói cách khác nó là tiêu chí Ďể Ďánh giá, Ďiều chỉnh
hành vi, suy nghĩ,… của một cá nhân trong cộng Ďồng.
Các giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó Ďược sáng tạo và
kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng Ďồng, tương ứng với môi trường
tự nhiên và xã hội nhất Ďịnh. Giá trị văn hóa hướng tới thỏa mãn những nhu
cầu và khát vọng của cộng Ďồng về những Ďiều tốt Ďẹp, bồi Ďắp và nâng cao
bản chất người [36, tr.22].
Như vậy giá trị văn hóa Ďóng vai trò là thành tố Ďể phân biệt di sản văn
hóa với các hiện tượng văn hóa nói chung hình thành trong quá trình
lịch sử của một cộng Ďồng, xã hội nhất Ďịnh. Di sản văn hóa Ďược xem như là
những yếu tố Ďặc biệt, nổi bật, là tinh hoa của văn hóa.
“Từ điển Tiếng Việt” Ďịnh nghĩa: “Di sản là cái của thời trước để lại;
văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [45, tr.254].
Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học Ďược lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, bao gồm di sản
văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể.
Di sản văn hóa quy Ďịnh tại Luật di sản văn hóa bao gồm di sản văn
hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có
giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, Ďược lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ
khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Rất nhiều nhà khoa học cũng như nhiều công trình nghiên cứu về di sản
tiếp xã hội mà thể hiện ra. Từ Ďó người ta có thế nhận biết Ďược sự tồn tại của
văn hóa phi vật thể.
10
Đặc trưng rõ nhất của văn hóa phi vật thể là nó luôn tiềm ẩn trong tâm
thức của cộng Ďồng xã hội và chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt Ďộng của con
người. Văn hóa phi vật thể Ďược lưu giữ trong thế giới tinh thần của con
người và thông qua các hình thức diễn xướng, nó Ďược bộc lộ sinh Ďộng trong
tư cách một hiện tượng văn hóa.
Di sản văn hóa phi vật thể Ďược hiểu là các tập quán, các hình thức thể
hiện, biểu Ďạt tri thức, kỹ năng và kèm theo Ďó là các công cụ, Ďồ vật, Ďồ tạo
tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng Ďồng, các nhóm và
một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của
họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật
thể Ďược các cộng Ďồng và nhóm không ngừng tái tạo Ďể thích nghi với môi
trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng Ďồng với tự nhiên và lịch sử của họ,
Ďồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua Ďó
khích lệ thêm sự tôn trọng Ďối với sự Ďa dạng văn hóa và tính sáng tạo của
con người.
Văn hóa phi vật thể cũng có thế bị mai một, biến dạng, hoặc mất Ďi
vĩnh viễn bởi thử thách của thời gian, bởi sự vô ý thức của con người. Di sản
văn hóa phi vật thể không chỉ gắn bó với các chủ thể văn hóa mà cũng hòa
quyện vào không gian sinh thái - nhân văn, nơi chúng Ďược sáng tạo ra và
Ďang hiện diện, tiến diễn trong Ďời sống Ďương Ďại của cộng Ďồng. Điều Ďó có
nghĩa là, di sản văn hóa phi vật thể không “nhất thành bất biến”, chúng nhất
Ďịnh phải hàm chứa những nhân tố mang tính lịch sử, Ďồng thời lại phải mang
hơi thở của thời Ďại mà chủ thể văn hóa cũng như chủ sở hữu di sản văn hóa
phi vật thể Ďang sống, làm việc và sáng tạo. Điều Ďó cũng có nghĩa là, di sản
thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại làm nên giá trị của
một di sản. Khi Ďó, văn hóa phi vật thể là linh hồn, là biểu hiện tinh thần của
văn hóa vật thể.
12
Cũng vì thế, người ta còn có cách phân loại thứ hai dựa trên giá trị của
di sản Ďể phân chúng thành những nhóm di sản có giá trị Ďặc biệt quan trọng
hay các di sản có mức Ďộ quan trọng cấp quốc tế; nhóm di sản có tầm quan
trọng cấp quốc gia hay nhóm di sản có tầm quan trọng cấp Ďịa phương.
Những di sản có tầm quan trọng cấp quốc tế là những di sản văn hóa
thế giới hoặc những di sản Ďược Nhà nước lập hồ sơ gửi UNESCO xem xét,
công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Nhóm di sản thuộc cấp quốc gia bao gồm những di sản Ďược xếp hạng
di tích quốc gia quan trọng, một số làng nghề truyền thống nổi tiếng, những lễ
hội lớn mà tầm ảnh hưởng của nó vượt khỏi phạm vi một tỉnh hay một vùng.
Nhóm di sản thuộc cấp Ďịa phương bao gồm những di tích lịch sử - văn
hóa Ďược xếp hạng cấp Ďịa phương mà tầm ảnh hưởng và thu hút của nó vượt
khỏi phạm vi, giới hạn tỉnh hoặc huyện, thị xã,..
Di sản văn hóa không chỉ mang Ďậm tính chất dân gian mà cũng gắn bó
mật thiết với các hoạt Ďộng mang tính chất tâm linh tại các thiết chế tôn giáo,
tín ngưỡng. Chúng ta cần quan tâm và chủ Ďộng giải quyết thật thận trọng và
thỏa Ďáng vấn Ďề bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa gắn với
không gian văn hóa truyền thống tại các thiết chế tôn giáo và các hoạt Ďộng
mang tính tâm linh, cũng như tính Ďa dạng văn hóa, nhằm tạo lập sự ổn Ďịnh
xã hội, làm tiền Ďề cho phát triển bền vững.
1.1.1.4. Bảo tồn di sản văn hóa
“Bảo tồn” là một khái niệm Ďược sử dụng tương Ďối phổ biến, tuy
nhiên không phải ai cũng có những thấu hiểu về hoạt Ďộng này. Bảo tồn là
những lời sáo rỗng. Bảo tồn di sản văn hóa trở thành mối quan tâm của toàn
xã hội và giới nghiên cứu khoa học trong vài thập niên gần Ďây. Hiện nay ở
nhiều quốc gia, bảo tồn di sản văn hóa trở thành một ngành học có tính
14
chuyên môn cao và các quy ước chung về bảo tồn di sản văn hóa của cộng
Ďồng quốc tế Ďược các quốc gia tôn trọng thực hiện.
Nguyên tắc quan trọng của bảo tồn di sản văn hóa là bảo vệ và giữ gìn
sự tồn tại của di sản văn hóa theo dạng thức vốn có. Bảo tồn Ďồng nghĩa với
không Ďể di sản văn hóa mai một, bị thay Ďổi, biến hóa. Xuất phát từ sự duy
trì ý nghĩa văn hóa của di sản văn hóa mà trong hoạt Ďộng bảo tồn không chấp
nhận việc cải biến, nâng cao hay phát triển. Di sản văn hóa cần Ďược xem là
tinh hoa văn hóa, do vậy việc khẳng Ďịnh giá trị Ďích thực dưới những thể
trạng và hình thức khác nhau cũng như khả năng tồn tại theo thời gian của nó
là Ďiều quan trọng.
Quan Ďiểm lựa chọn bảo tồn di sản văn hóa hợp lý là việc lựa chọn, bảo
vệ, giữ gìn những giá trị từ quá khứ Ďến hiện tại, cái Ďược bảo tồn tất yếu phải
phù hợp với thời Ďại, chứa Ďựng những khả năng có thể Ďược làm giàu thêm
về giá trị và có thể tiếp tục Ďược phát huy, phát triển vì lợi ích của cộng Ďồng,
xã hội, vì sự phát triển của văn hóa. Ngoài ra, hoạt Ďộng bảo tồn di sản văn
hóa phải tuân thủ những nguyên tắc nghiêm ngặt mang tính thông lệ Ďược
cộng Ďồng quốc tế cam kết thực hiện. Không có một hình thức, phương pháp
chung nào có thể áp dụng cho việc bảo tồn tất cả các loại hình di sản văn hóa
do sự Ďa dạng, phong phú của di sản văn hóa. Sự Ďa dạng Ďó cũng biểu hiện
trong các Ďiều kiện không gian và thời gian mà di sản văn hóa tồn tại và phát
huy tác dụng, giá trị lịch sử, nghiên cứu khoa học văn hóa về di sản văn hóa là
tìm ra cách lựa chọn bảo tồn có ý thức, thích hợp và Ďảm bảo các khả năng
lan tỏa ý nghĩa văn hóa trong cộng Ďồng, phát huy giá trị của di sản văn hóa
chất và tinh thần.
Di tích lịch sử - văn hóa tồn tại không chỉ là dấu mốc về thời gian Ďã
qua của dân tộc mà còn là những vết son sáng của nền văn hóa hiện tại thể
hiện Ďỉnh cao giá trị chân - thiện - mỹ qua từng thời kỳ.
1.1.2.2. Các loại di tích lịch sử - văn hóa
16
Di tích lịch sử văn hóa được chia thành:
- Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể
kiến trúc Ďô thị và Ďô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai Ďoạn phát triển
nghệ thuật kiến trúc của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công
trình kiến trúc Ďơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc
nhiều giai Ďoạn lịch sử.
- Di tích khảo cổ là những Ďịa Ďiểm khảo cổ có giá trị nổi bật Ďánh dấu
các giai Ďoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ.
- Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên
hoặc Ďịa Ďiểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến
trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học. Danh lam thắng cảnh phải có một
trong các tiêu chí sau Ďây:
+ Cảnh quan thiên nhiên hoặc Ďịa Ďiểm có sự kết hợp giữa cảnh quan
thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu.
+ Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về Ďịa chất, Ďịa mạo, Ďịa lý,
Ďa dạng sinh học, hệ sinh thái Ďặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa Ďựng
những dấu tích vật chất về các giai Ďoạn phát triển của Trái Đất.
- Di tích cách mạng - kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống
các di tích lịch sử - văn hoá, tuy nhiên, nó có những Ďiểm khác với các di tích
tôn giáo tín ngưỡng như Ďình, Ďền, chùa, miếu… ở chỗ: Ďó là những Ďịa Ďiểm
cụ thể, công trình kiến trúc có sẵn (nhà ở, Ďường phố…), là những công trình
Di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa
dân tộc, là những gì còn lại của thời gian, là nguồn sử liệu trực tiếp cho ta
những thông tin quan trọng Ďể khôi phục các trang sử hùng tráng của dân tộc.
Đó là bức thông Ďiệp mà cha ông ta Ďã Ďể lại cho các thế hệ chúng ta và mai
sau. Và trong các di tích hữu hình Ďang Ďọng kết các giá trị văn hóa phi vật
thể vô hình.
18
Rõ ràng qua di tích lịch sử - văn hóa ta hiểu biết sâu sắc hơn về bản sắc
văn hóa dân tộc. Khi mà Ďất nước Ďang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện Ďại hóa như hiện nay, cần thiết phải phát huy bản sắc tốt Ďẹp của văn hóa
dân tộc, bên cạnh việc hấp thụ tinh hoa của văn hóa thế giới, Ďể con người
vững vàng hơn, mạnh mẽ hơn, trên con Ďường tiến lên hiện Ďại.
Văn hóa là Ďộng lực phát triển kinh tế xã hội, bởi vậy không thể không
chú ý Ďến tính chất dân tộc và bề dày lịch sử của văn hóa. Tính chất dân tộc
và bề dày lịch sử Ďó biểu hiện rõ nét qua toàn bộ các di tích lịch sử - văn hóa.
Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa là hoạt Ďộng bảo Ďảm sự tồn tại lâu dài,
ổn Ďịnh của di sản văn hóa. Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng
cảnh có giá trị to lớn và là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá của Ďất nước.
Đây cũng chính là nguồn tài nguyên du lịch vô cùng quan trọng, sự Ďộc
Ďáo, phong phú, Ďa dạng của hệ thống này tạo nên sức hấp dẫn kỳ lạ Ďối với
du khách. Giá trị của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng
cảnh mang lại cho du khách những hiểu biết về lịch sử dân tộc, lịch sử Ďịa
phương, những tri thức về Ďặc Ďiểm tự nhiên, những giá trị thẩm mỹ, những
khoảnh khắc thư giãn, nghỉ ngơi...
Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh
chứng về lịch sử Ďấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Di tích giúp
cho con người biết Ďược cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống