PHẦN 3
MŨI - XOANG
Chương 1
GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ MŨI - XOANG
1. Giải phẫu và sinh lý mũi.
1.1. Giải phẫu mũi: Gồm có tháp mũi và hốc mũi.
1.1.1. Tháp mũi: như một mái che kín hốc mũi, có khung là xương chính mũi,
ngành lên xương hàm trên, sụn cánh mũi và sụn uốn quanh lỗ mũi.
1.1.2. Hốc mũi: vách ngăn chia hốc mũi thành hốc mũi phải và hốc mũi trái, là
hai khoảng thông từ trước ra sau. Phía trước có hai lỗ mũi, phía sau có hai
cửa mũi sau.
Mỗi hốc mũi có 4 thành:
+ Thành trên: là trần của hốc mũi, ngăn cách hốc mũi với sọ não.
+ Thành dưới: là sàn mũi, ngăn cách mũi với miệng.
+ Thành trong: hay là vách ngăn mũi là một vách thẳng đi từ trần mũi
xuống sàn mũi và chạy dọc từ trước ra sau ngăn mũi thành hai hốc mũi
phải và trái. Các mạch máu của vách ngăn mũi đều chạy tới tập trung ở
vùng trước dưới của niêm mạc vách ngăn mũi, tạo thành một vùng có
nhiều mạch máu gọi là điểm mạch, nơi thường xảy ra chảy máu mũi.
+ Thành ngoài: là thành quan trọng hơn cả. Thành ngoài có 3 xương uốn
cong còn gọi xương xoăn theo thứ tự trên, giữa, dưới. Ba xương xoăn
được lớp niêm mạc bao phủ bên ngoài mang tên: cuốn mũi trên, cuốn
mũi giữa và cuốn mũi dưới.
Mỗi một cuốn mũi hợp với thành ngoài của hốc mũi tạo thành một khe
mũi hay là ngách mũi. Tên của ngách mũi được gọi theo tên của cuốn
mũi tương ứng là: ngách mũi trên, ngách mũi giữa và ngách mũi dưới.
- Ngách mũi dưới ở đầu có lỗ thông của ống lệ tỵ, ống này từ túi lệ
xuống.
- Ngách mũi giữa là nơi thông ra hốc mũi của các xoang hàm, sàng tr-
ước và xoang trán.
- Ngách mũi trên là nơi thông ra hốc mũi của các xoang sàng sau, còn
2.1. Giải phẫu xoang.
2.1.1. Cấu tạo giải phẫu:
Xoang là những những hốc nằm trong xương sọ và được mang tên
cùng với tên của xương đó ví dụ như: xoang trán nằm trong xương trán,
xoang hàm nằm trong xương hàm trên. Trong lòng xoang được lót bởi niêm
mạc hô hấp, các chất xuất tiết của xoang đều đổ vào hốc mũi qua các lỗ nhỏ
(các lỗ thông mũi-xoang). Các xoang đều có lỗ thông nối với nhau nên khi
bị viêm 1 xoang kéo dài dễ đưa đến các xoang khác gọi là viêm đa xoang.
Các xoang mặt được chia thành 2 nhóm:
+ Nhóm xoang trước: xoang hàm, xoang sàng trước, xoang trán vây
quanh hốc mắt. Nhóm xoang này đều đổ ra ngách mũi giữa, sau đó
niêm dịch vượt qua mặt trong cuốn mũi giữa ở phần sau để đổ vào
họng mũi. Qua nội soi mũi đã chứng minh được rằng các dịch tiết từ
xoang trán, xoang hàm, xoang sàng trước đều được vận chuyển về
phía sau để được đổ vào vùng họng mũi. Vùng này mở thông ra ngoài,
dễ bị nhiễm khuẩn và dễ gây ra biến chứng mắt. Khi mới đẻ xoang
sàng đã thông bào, xoang hàm còn nhỏ, xoang trán thì khoảng 4-7 tuổi
mới bắt đầu phát triển. Xoang trước có lỗ thông với hốc mũi rộng, lại
liên quan nhiều đến các răng hàm trên nên các xoang trước thường bị
viêm cấp tính thể nhiễm khuẩn, mủ và các triệu chứng biểu hiện ở
phía trước (như đau ở mặt, chảy mủ ra ở cửa mũi trước, xì mũi ra
mủ...
+ Nhóm xoang sau: xoang sàng sau và xoang bướm ở sâu dưới nền sọ,
liên quan tới phần sau ổ mắt, dây thần kinh thị giác, xoang tĩnh mạch
hang, tuyến yên. Xoang sàng sau đổ ra ngách mũi trên, xoang bướm
đổ ra vùng khứu giác của hố mũi. Vùng này kín hơn, ít bị xâm nhập
bởi nhưng nguyên nhân bệnh lý bên ngoài. Do xoang sau có lỗ thông
với mũi ở phía sau ngách mũi trên nên dịch xuất tiết thường chảy
xuống họng.
2.1.2. Mạch máu: xuất phát từ 2 nguồn mạch máu chính sau đây:
tắc mũi, 1 hay 2 bên, có liên quan đến thời tiết, đến tư thế đầu và các
triệu chứng khác.
+ Chảy mũi: đánh giá tính chất, mức độ và thời gian chảy, diễn biến và
liên quan đến thời tiết, đến các yếu tố khác và các triệu chứng khác.
+ Mất ngửi: những biến đổi về ngửi, thời gian, mức độ và liên quan đến
các triệu chứng khác.
+ Đau: cũng thường gặp, do tự phát hay khi gây ra, tính chất, vị trí, mức
độ và thời gian đau, liên quan đến các triệu chứng khác, hướng lan,
liên quan đến các triệu chứng khác.
+ Hắt hơi: thành tràng kéo dài hay chỉ một vài lần?
2. Khám thực thể mũi.
2.1. Dụng cụ khám mũi.
Đèn Clar.
Gương trán.
Đè lưỡi.
Gương soi vòm.
Mở mũi (Speculum) các cỡ.
Nỉa khuỷu.
Đèn cồn.
Que thăm dò.
2.2. Khám ngoài: Nhìn và sờ nắn gốc mũi, sống mũi, cánh mũi, ấn mặt trước
các xoang để phát hiện các dị hình, biến dạng, biến đổi và điểm đau.
2.3. Khám trong.
+ Tiền đình mũi: dùng ngón tay nâng đỉnh mũi lên để quan sát vùng tiền
đình mũi xem có nhọt, viêm loét...
+ Soi mũi trước: dùng mở mũi, khám hốc mũi bên nào cầm dụng cụ
bằng tay bên ấy. Đưa nhẹ mở mũi vào hốc mũi ở tư thế khép, khi vào
trong hốc mũi, mở cánh soi mũi rộng ra. Nhìn theo hai trục ngang và
trục đứng. Thường cuốn mũi dưới hay bị nề, che lấp hốc mũi, khi đó
phải đặt một mảnh bông nhỏ thấm dung dịch gây co mạch như:
góc trong hốc mắt xem có bị nề, phồng, biến đổi không?
3.2. Sờ:
+ Tìm các biến dạng mặt trước các xoang.
+ Ấn nhẹ ngón tay cái lên vùng cần tìm điểm đau, cần so sánh hai bên
để có cảm giác đau chính xác.
3.3. Soi bóng mờ: dùng đèn soi bóng mờ (như đèn pin) thực hiện trong
buồng tối, để bệnh nhân ngậm đèn trong miệng, hướng nguồn sáng ra phía
mặt. Với xoang hàm bình thường, nguồn sáng đi qua tao thành bóng sáng
hình tam giác ở dưới ổ mắt. Để nguồn sáng áp vào thành trên ổ mắt hướng
nguồn sáng lên trán, nếu xoang trán bình thường sẽ có một bóng sáng ở
vùng trong cung lông mày. Phương pháp soi bóng mờ không cho kết quả
chính xác, rõ ràng nên hiện nay ít được áp dụng.
3.4. Chọc xoang hàm: xoang hàm có lỗ thông với ngách mũi giữa, dùng một
kim chọc qua vách xương ngăn mũi xoang ở ngách mũi dưới để vào xoang
hàm. Qua đó có thể hút để quan sát chất ứ đọng trong xoang, thử tìm vi
khuẩn hoặc tế bào học. Cũng có thể bơm nước ấm hay dung dịch nước muối
sinh lý vào xoang để nước chảy ra qua lỗ mũi xoang ở ngách mũi giữa.
Trong trường hợp viêm xoang thấy có mủ hay bã đậu chảy ra theo nước.
Phương pháp này đơn giản, cho chẩn đoán xác định lại kết hợp với
điều trị nên thường được dùng. Cần nhớ rằng không được tiến hành khi đang
trong tình trạng viêm cấp tính.
4. Khám nội soi mũi-xoang.
Ngày nay nội soi đã phát triển nhanh chóng và trở thành phương tiện
không thể thiếu trong chẩn đoán và điều tri bệnh lý mũi, xoang. Với nguồn
ánh sáng lạnh, ống nội soi nhỏ, có kính phóng đại với các độ nghiêng khác
nhau, đã cho thấy được các hình ảnh trực tiếp, chi tiết, trong sâu, bổ sung
cho thăm khám trước đây.
5. Khám chức năng.
5.1. Khám chức năng thở: Đơn giản nhất là cho thở trên mặt gương. Dùng
gương Gladen là một tấm kim loại mạ kền sáng bóng có các vạch hình nửa
+ Các xoang hàm, trán bị mờ đều do niêm mạc phù nề, mờ đặc do mủ
trong xoang, bờ dày, không đều do niêm mạc dày, thoái hoá.
+ Thành xoang có chỗ bị mất, không rõ: u nhầy hoặc nghi ngờ khối u ác
tính.
Lưu ý:
- Khi nghi ngờ có dị vật trong xoang: cần chụp thêm tư thế sọ nghiêng
để xác định vị trí cụ thể.
- Khi nghi ngờ có khối u, polyp trong xoang hàm: cần bơm chất cản
quang vào xoang để chụp phát hiện, làm rõ.
6.2. Tư thế Hirtz (tư thế cằm-đỉnh phim): cho thấy rõ toàn bộ xoang sàng
trước, xoang sàng sau và xoang bướm. Ngoài ra còn cung cấp chi tiết việc
đánh giá tầng trước đáy sọ, vùng cánh bướm.
6.2.1. Tư thế bệnh nhân: năm ngửa, đầu thả ra khỏi thành bàn, đỉnh đầu chạm
phim, tia đi từ cằm đến đỉnh.
6.2.2. Tiêu chuẩn:
+ Nhìn rõ khoang miệng và lỗ chẩm.
+ Vách ngăn mũi chiếu thẳng giữa 2 răng số 1.
+ Cung răng hàm trên và hàm dưới trùng với nhau thành một hình vòng
cung.
+ Mốc phân định xoang sàng trước và sàng sau là đường nối khe 2 răng
hàm số 6 và 7.
6.2.3. Kết quả: so sánh với độ sáng khoang miệng.
* Bình thường: các xoang sàng trước và sau sáng đều, vách ngăn của các tế
bào sàng rõ.
* Bệnh lý:
+ Các tế bào sàng mờ đều hay mờ đặc do có mủ, niêm mạc dày, polyp
trong xoang.
+ Các vách ngăn tế bào sàng không rõ hay bị mất đi hoặc bị phá huỷ: u
nhầy hoặc nghi u ác tính.
6.3. Khi nghi ngờ có dị vật: cần chụp thêm tư thế sọ nghiêng để xác định vị
cũng như tình trạng niêm mạc mũi trước đó. Người ta chia tiến triển của
viêm mũi cấp tính thành 3 giai đoạn:
1.2.1. Giai đoạn 1: Bệnh khởi đầu không có rối loạn gì đáng kể về tình trạng
toàn thân. Hắt hơi, cảm giác nóng rát và nhức trong họng nhất là ở họng
mũi, đôi khi khàn tiếng, thường sốt nhẹ. Trong giai đoạn đầu này, cảm giác
chủ yếu là khô họng và họng mũi, niêm mạc nề đỏ và khô.
1.2.2. Giai đoạn 2: Sau một vài giờ thậm chí một vài ngày hình ảnh lâm sàng
sẽ thay đổi, giảm phù nề niêm mạc, niêm mạc trở nên ẩm và bắt đầu xuất tiết
nhiều niêm dịch, bệnh nhân thấy dễ chịu hơn.
1.2.3. Giai đoạn 3 (giai đoạn làm mủ): Dịch xuất tiết trở thành niêm dịch mủ do
pha trộn với các thành phần biểu mô và bạch cầu thoái hoá. Sau đó số lượng
dich tiết giảm dần, viêm niêm mạc nhanh chóng được thanh toán và qua 7 -
10 ngày thì hoàn toàn hồi phục lại.
Đối với những người có tình trạng teo niêm mạc mũi, có thể không
ngạt mũi hoàn toàn, thời gian của giai đoạn cấp tính ngắn hơn, mặc dù sau
đó có thể tăng cảm giác khô và kích thích niêm mạc mũi trong một thời gian
dài. Ngược lại với người có tình trạng quá phát niêm mạc mũi thì biểu hiện
nhất là phù nề và xuất tiết ở niêm mạc sẽ mạnh hơn nhiều.
Ở giai đoạn đầu của viêm mũi cấp tính, bệnh nhân có cảm giác nặng
đầu do đó khó tập trung tư tưởng làm việc trí óc. Do phù nề niêm mạc nên
thay đổi giọng nói, ngửi kém do ngạt mũi gây ra hoặc do quá trình viêm lan
vào vùng khứu giác. Về sau thường xuất hiện đau vùng trán và ổ mắt, cho
hay đã có biểu hiện đồng thời của viêm xoang, xuất tiết mũi làm da vùng
cửa mũi trở nên đỏ và dễ phù nề, thường xuất hiện những vết nứt nhỏ, cùng
hay gặp viêm kết mạc do viêm nhiễm lan qua đường dẫn lệ và viêm tai giữa
cấp tính (do viêm lan qua vòi tai).
Viêm mũi cấp tính ở trẻ em còn bú có thể nghiêm trọng. Những tháng
đầu do đặc điểm về cấu trúc và chức năng của hệ thần kinh trung ương, sự
thính nghi với những thay đổi của môi trường bên ngoài ở trẻ kém hơn so
với người lớn. Hốc mũi trẻ trong những năm đầu thường rất nhỏ, thậm chí
phút cần cho nhỏ mũi thuốc co mạch (Adrenalin 0,1%).
1.5. Tiên lượng: Viêm mũi cấp tính ở người lớn tiên lượng tốt, một vài
trường hợp có thể sinh biến chứng (viêm xoang, viêm vòi nhĩ, viêm tai
giữa...) thì tiên lượng kém hơn, trẻ bú có tiên lượng kém hơn.
1.6. Phòng bệnh.
+ Phòng ngừa các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp trên, trước
hết là phải hướng tới rèn luyện cơ thể, nhất là những người có cơ địa
viêm mũi. Các biện pháp tắm nước nóng, tắm nắng, tắm khí và các
dạng thể thao nhằm tăng cường hệ tim mạch và bộ máy hô hấp, giúp
cơ thể tạo ra những phản ứng bình thường...
+ Cũng vì các dị hình trong hốc mũi cản trở hô hấp và tạo điều kiện phát
triển bệnh viêm mũi tái diễn, nên phải phục hồi sự lưu thông mũi bình
thường để phòng bệnh. Những cản trở thực thể như: quá phát cuốn
mũi, vẹo vách ngăn mũi, các khối u trong hốc mũi...
+ Cần hướng dẫn bệnh nhân cách xì mũi từng bên khi viêm mũi cấp tính
không được xì quá mạnh để tránh đưa những nhiễm trùng xâm nhập
vào tai hoặc xương chũm.
2. Viêm mũi mạn tính.
Bao gồm:
- Viêm mũi mạn tính xuất tiết.
- Viêm mũi quá phát.
- Viêm mũi vận mạch.
- Viêm mũi teo (trĩ mũi).
- Viêm mũi do thuốc.
2.1. Viêm mũi mạn tính xuất tiết.
2.1.1. Triệu chứng: Viêm mũi mạn tính xuất tiết đặc trưng bởi xung huyết lan
toả và phù nề nhiều ở niêm mạc mũi (đôi khi nề tím). Triệu chứng gần giống
như trong viêm mũi cấp tính.
* Toàn thân: không có gì đặc biệt.
* Tại chỗ:
cuốn mũi.
+ Bôi dung dịch Nitrat bạc 1%, 2%, 3% hoặc dung dịch Clorua kẽm.
+ Nếu tái diễn dùng Napthasolin 0,5% hoặc Ephedrin 1% có kết quả.
+ Về lý liệu, có thể khí dung, chiếu tia sóng ngắn vào vùng mũi, điện di
dung dịch Novocain 5%. Nếu không có kết quả có thể chỉ định đốt
cuốn mũi dưới bằng côte điện.
2.2. Viêm mũi quá phát.
Là dạng viêm đặc trưng bởi sự tăng sinh của tổ chức liên kết. Sự tăng
sinh các thành phần tổ chức này không phải diễn ra mạnh trên toàn bộ niêm
mạc mũi mà chủ yếu ở các vị trí có tổ chức hang. Đó là đầu và đuôi cuốn
mũi giữa và dưới. Đôi khi chúng nở to chiếm toàn bộ vùng phía dưới cuốn
dưới, bề mặt phần quá phát có thể phẳng, song thường là gồ ghề, nhất là
vùng các đầu cuốn có dạng múi, thuỳ lồi ra. Đuôi cuốn quá phát có thể có
dạng khối u lồi vào tỵ hầu. Mầu sắc bề mặt phần quá phát tuỳ thuộc vào
lượng tổ chức liên kết phát triển và cấp máu: có thể nâu đỏ hoặc đỏ thẫm
hoặc tím sẫm.
2.2.1. Nguyên nhân.
* Tại chỗ:
- Tiếp xúc thường xuyên với hoá chất, làm việc nơi nhiều bụi, làm việc
lâu nơi lạnh ẩm…
- Các dị hình vách ngăn.
- V.A quá phát, viêm mạn tính.
* Toàn thân:
- Thể địa dị ứng.
- Có biến đổi, rối loạn về nội tiết.
- Có bệnh toàn thân: suy gan, rối loạn tiêu hoá.
2.2.2. Triệu chứng.
* Cơ năng:
- Ngạt mũi thường xuyên, rỏ thuốc co mạch ít tác dụng.
- Chảy mũi: thường có chất xuất tiết nhầy chảy xuống họng, dính vào
kết, không còn đáp ứng với thuốc co mạch, phải dùng đến biện pháp
phẫu thuật.
+ Các chống chỉ định phẫu thuật là: có biểu hiện sốt và bệnh cấp tính.
Giảm đông máu và các bệnh chảy máu kéo dài.
+ Kỹ thuật: khi lấy bỏ những phần quá phát khu trú ở đầu, đuôi cuốn và
toàn bộ bờ dưới cuốn mũi dưới, hay ở đầu, bụng cuốn mũi giữa, cũng
cần gây tê tại chỗ như nói trên và tốt nhất là lấy bằng thòng lọng.
Quan sát đưa thòng lọng vào mũi và lựa ngoặc vào sát nền và rồi cắt
lấy ra. Nếu sự phát triển chiếm toàn bộ bờ dưới cuốn mũi dưới thì cắt
bằng kéo cắt cuốn. Sau phẫu thuật nhét mèche mũi vô trùng có tẩm
dầu, kháng sinh. Mèche tẩm dầu có nhiều tác dụng: làm giảm bớt tính
kích thích niêm mạc và lấy ra không cần nhỏ oxy già như một số tác
giả đề nghị. Rút mèche ra sau 24-48 giờ. Sau rút mèche phải theo dõi
bệnh nhân từ 30 phút đến 1 giờ. Để tránh chảy máu phải giữ bệnh
nhân ở trong nhà, không dùng thức ăn nóng, không uống rượu, tránh
lao động chân tay.
+ Biến chứng sau phẫu thuật hoặc đốt thường là chảy máu và dính. Dính
xảy ra thường do tổn thương ở 2 phía niêm mạc đối diện nhau (cuốn
mũi và vách ngăn). Có thể có viêm họng sau phẫu thuật này nhất là ở
người bị viêm amidan mạn tính.
* Điều trị toàn thân: chống dị ứng, ức chế giao cảm.
2.2.4. Phòng bệnh.
- Khi làm việc nơi nhiều bụi, hoá chất kích thích, nơi gió lạnh, ẩm cần phải
đeo khẩu trang.
- Rỏ mũi ngay khi bị ngạt.
- Giải quyết sớm các nguyên nhân như: nạo V.A, điều trị viêm mũi cấp
tính, chỉnh hình vách ngăn.
- Luyện tập thở, giữ vệ sinh mũi họng nhất là mùa lạnh.
2.3. Viêm mũi vận mạch: Rất thường gặp tuy ở nước ta còn ít chú ý đến,
trước đây thường được coi là viêm mũi dị ứng không tìm thấy dị nguyên.
nguyệt bệnh có thể tăng hay giảm, đến tuổi mãn kinh hay sau sinh đẻ
bệnh sẽ giảm đi.
* Yếu tố cơ địa: ở người trĩ mũi thường thấy có rối loạn giao cảm.
2.4.2. Chẩn đoán: trĩ mũi thường khá điển hình với các triệu chứng sau:
- Hơi thở thối và tanh làm cho người xung quanh rất khó chịu.
- Mất ngửi: tự bệnh nhân lại không ngửi thấy mùi thối cũng như các mùi
khác.
- Mũi teo: khi lấy hết vẩy, thấy hốc mũi rộng, các cuốn mũi, kể cả cuốn mũi
dưới đều bị teo đi, niêm mạc mũi nhợt, khô.
- Ngạt mũi: tuy hốc mũi rộng nhưng bệnh nhân lại có cảm giác ngạt mũi
(đây là cảm giác ngạt giả).
Chẩn đoán phân biệt:
- Giang mai mũi: có vảy cứng nhưng khó lấy, niêm mạc hay bị loét có mủ,
cuốn mũi không bị teo nhỏ.
- Lao mũi: vảy mũi mỏng, nhỏ, màu vàng, không thối.
2.4.3. Xử trí:
* Nội khoa:
- Lấy vảy mũi và rửa mũi bằng dung dịch Bôrat hoặc Natri bicarbonat
loãng ấm hàng ngày.
- Bôi thuốc mỡ vitamin A, D để chống thoái hoá niêm mạc.
- Chống nhiêm khuẩn: thường dùng Streptomycin tại chỗ.
- Dùng vacxin trị liệu cũng có kết quả.
* Ngoại khoa: phẫu thuật làm hẹp hốc mũi bằng cách độn mảnh nhựa
acrylic (phẫu thuật Eries) hay ghép dưới niêm mạc mảnh sụn sườn,
xương mào chậu.
2.5. Viêm mũi do thuốc.
2.5.1. Nguyên nhân: Do rỏ mũi thường xuyên, kéo dài, ngày nhiều lần. Chủ
yếu với thuốc co mạch, chống ngạt mũi như: Napthazolin, Ephedrin…
Các thuốc này gây co mạch liên tục, tác động cả tới các mạch dưới
niêm mạc làm ảnh hưởng tới các tế bào lông chuyển (bi thoái hoá mạnh,
3.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh.
Viêm mũi dị ứng là một bệnh miễn dịch. Do các dị nguyên ngoại lai
gây ra và con đường xâm nhập chủ yếu là niêm mạc mũi
3.2.1. Những vấn đề miễn dịch ở mũi.
Ở nguời bình thường trong mũi họng lúc nào cũng có các vi khuẩn
cộng sinh và một số vi khuẩn gây bệnh thông thường như: phế cầu, liên cầu,
Hemophilus influenze... Sở dĩ ta không mắc bệnh là nhờ hệ thống miễn dịch
rất hiệu lực gồm: các loại miễn dịch tại chỗ và toàn thân đặc hiệu và không
đặc hiệu dịch thể và tế bào phối hợp với nhau rất chặt chẽ.
* Vai trò đề kháng vòng ngoài của lớp biểu mô.
Lớp biểu mô thực sự là hàng rào bảo vệ niêm mạc mũi chống lại sự
xâm nhập của các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài vào như: vi khuẩn, vi rút, dị
nguyên…nhờ hoạt động thanh thải của hệ nhầy lông chuyển, các yếu tố này
không tiếp xúc lâu được với niêm mạc và bị đẩy trôi xuống họng.
Về mặt sinh hóa nhầy mũi chứa những chất đặc biệt như các men, có
khả năng là tan vỏ bọc của một số vi khuẩn, những chất kìm hãm men tiêu
đạm do vi khuẩn tiết ra bảo vệ các IgA tiết (IgA-s) khỏi bị phá hủy. Ngoài ra
vai trò của IgA-s (IgA-secretion) cùng các thành phần khác góp phần kìm
chế tiêu diệt các vi sinh vật làm tăng hiệu lực thanh thải của niêm mạc mũi.
* Vai trò của lớp hạ niêm mạc.
Lớp hạ niêm mạc là tuyến phòng thủ thứ hai. Có nhiều cơ chế hoạt
động khác nhau (sinh hóa, miễn dịch…) kết hợp chặt chẽ với miễn dịch đặc
hiệu tại chỗ. Bạch cầu đa nhân và đại thực bào hoạt động mạnh lên nhờ các
bổ thể và Opsonin. Lúc thường vai trò của miễn dịch dịch thể và miễn dịch
tế bào tại chỗ đảm nhận nhưng khi niêm mạc mũi bị viêm vai trò chủ yếu lại
là các globulin miễn dịch huyết thanh thoát qua thành mạch tới bảo vệ.
3.2.2. Nguyên nhân.
* Do tiếp xúc với dị nguyên.
+ Dị nguyên đường thở bụi nhà, lông súc vật, phấn hoa…
+ Dị ứng nguyên thực phẩm: trứng, sữa, các loại hải sản (tôm, cua,
- Tình trạng niêm mạc: mầu sắc nhợt, phù nề.
- Tình trạng cuốn mũi: có thể là thoái hóa, quá phát. Khả năng co hồi
khi đặt thuốc co mạch, dịch mũi lúc đầu trong trong sau đục dần.
- Có thể có polyp hay cuốn mũi giữa thoái hóa như dạng polyp.
3.3.3. Xét nghiệm.
* Xét nghiệm tế bào dịch mũi tìm bạch cầu Eosinophil (Eo).
Kết qủa được coi là dương tính khi tỉ lệ bạch cầu Eo >1%.
* Xét nghiệm phát hiện kháng thể dị ứng IgE: với dị nguyên bụi nhà trong
huyết thanh bệnh nhân bằng phản ứng phân hủy Mastocyte theo phương
pháp Ishimova-LM.
* Định lượng trực tiếp kháng thể IgE: toàn phần huyết thanh bằng kỹ thuật
miễn dịch đánh dấu ELISA (Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay).
Nồng độ IgE toàn phần tính theo đơn vị UI hoặc ng/ml
Âm tính(-) < 10 UI
Nghi ngờ(±): 10-100 UI
Dơng tính(+) > 100 UI
(1UI = 2,4ng/ml IgE)
* Bạch cầu Eo máu ngoại vi:
Đếm công thức bạch cầu máu ngoại vi.
Kết quả được coi là tăng khi tỉ lệ Bạch cầu Eo >3,5 %.
* Các test da: là phương pháp phát hiện sự mẫn cảm của cơ thể bằng cách
đa dị nguyên qua da và sau đó đánh giá kích thước và đặc điểm của sần
phù và phản ứng viêm tại chỗ. Dị nguyên cho kết quả dương tính trong
test da có thể coi là nguyên nhân gây bệnh khi kết hợp với khai thác tiền
sử dị ứng có kết quả phù hợp. Nếu không có kết qủa phù hợp này và kết
quả test da còn nghi ngờ thì phải tiến hành test kích thích.
* Test kích thích: là khả năng chẩn đoán sinh học các phản ứng dị ứng cơ
sở của nó là tái tạo lại phản ứng này bằng cách đưa dị nguyên nghi ngờ
vào cơ thể nhằm tạo lại bệnh cảnh lâm sàng như thật nếu phản ứng dương
tính xảy ra.