CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số ………………………………………..…
1. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp để thực hiện lồng ghép giáo dục bình
đẳng giới trong công tác chủ nhiệm ở nhà trường Trung học phổ thông”
(Châu Thanh Hưởng, Phạm Thị Bích Phương, Phan Thị Kim Loan,
Nguyễn Thị Hằng Nga, Võ Ngọc Minh, @THPT Phan Ngọc Tòng)
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Công tác chủ nhiệm.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Tình hình thực trạng của vấn đề.
Trong bài báo “Thúc đẩy bình đẳng giới trong giáo dục để tạo sự tiến bộ tốt
hơn” của báo Lao động, ngày 03-5-2016, PGS.TS. Hoàng Bá Thịnh (Giám đốc
Trung tâm Nghiên cứu Giới, Dân số, Môi trường và Các vấn đề xã hội, Chủ nhiệm
Bộ môn Xã hội học Giới và Gia đình, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà
Nội), cố vấn về giới của Ban Soạn thảo và Đổi mới chương trình sách giáo khoa
giáo dục phổ thông (Bộ giáo dục và đào tạo) đã đưa ra nhận định về sách giáo khoa
hiện nay liên quan đến định kiến giới: sách giáo khoa giáo dục phổ thông Việt Nam
hiện nay có rất nhiều biểu hiện về định kiến, bất bình đẳng giới. Ví dụ, trong 3 cuốn
sách mà ông khảo sát là sách Tự nhiên xã hội lớp 1, Giáo dục công dân lớp 6 và lớp
10 thì xuất hiện rất nhiều hình ảnh khuôn mẫu về giới: Những việc nội trợ trong gia
đình như nấu cơm, làm vườn, chăm em là mẹ và bé gái; các nội dung liên quan đến
hoạt động vui chơi, giao lưu bên ngoài xã hội thì là nam giới. Hình ảnh bố ngồi
xem tivi mẹ làm việc nhà cũng không hiếm... Minh họa về ngành nghề cho nam và
nữ cũng mất cân đối, nam giới thì đại diện cho nghề công an, bác sĩ, kỹ sư; còn phụ
nữ thì nội trợ, chăn nuôi… Rồi trong sách văn học, sách lịch sử cũng vậy. Như thế
là không công bằng và rất cần thiết phải thay đổi.
Theo ông, một vài năm trở lại đây trường học đã bắt đầu quan tâm tới vấn đề
này. Thể hiện ở việc lồng ghép giáo dục giới tính trong một số môn học như
Sinh học, Đạo đức, Giáo dục công dân. Tuy nhiên, như thế là chưa đủ và chúng
ta cần thúc đẩy hơn nữa giáo dục về giới trong chương trình phổ thông. Theo
học sinh nữ nhập học càng giảm…Số học sinh nữ ở cấp 3- cấp học quan trọng, các
em và gia đình phải đưa ra những quyết định về việc học, là nên tiếp tục, thi vào
trường nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học hay là thôi học. Và nếu các em được học
lên cao, thì kiến thức về bình đẳng giới trong giáo dục có tác động lớn đến việc các
em chọn ngành và trường học của mình. Còn nếu các em thôi học, thì những kiến
thức đó cũng có ảnh hưởng đến sự lựa chọn công việc, đòi hỏi quyền lợi và thù lao
chính đáng của các em. Do đó, để đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỉ và
thực hiện Luật Bình đẳng giới trong giáo dục, các trường đại học, cao đẳng và
trung cấp sư phạm nên trang bị kiến thức cho các giáo viên tương lai về bình đẳng
giới nói chung và bình đẳng giới trong giáo dục nói riêng.
Thực tế hiện nay, nam, nữ vẫn còn ngại thay đổi phân công lao động truyền
thống nên rất khó đáp ứng nhu cầu về lao động của xã hội. Chính vì vậy, rất cần
thiết phải thay đổi cách phân công vai trò giới theo hướng công bằng, bình đẳng và
phù hợp với mỗi cá nhân và sự phát triển của xã hội hiện đại.
Hiện nay, chúng ta đã đạt được nhiều biến đổi tích cực hướng tới bình đẳng giới
trong giáo dục Trung học phổ thông. Tuy nhiên, vẫn còn những bất bình đẳng mà
đối tượng thiệt thòi chủ yếu là học sinh nữ.
Có thể nói ở nhà trường nói chung và nhà trường Trung học phổ thông nói
riêng, giáo viên chủ nhiệm là người luôn theo sát học sinh, là nhân vật chủ chốt, là
linh hồn của lớp, người tập hợp, dìu dắt giáo dục học sinh của lớp mình, là tấm
gương để các em noi theo. Bằng các biện pháp tổ chức, bằng sự gương mẫu và
quan hệ tình cảm, giáo viên chủ nhiệm xây dựng khối đoàn kết trong tập thể, dìu
dắt các em như con em mình trưởng thành theo từng năm tháng. Nói cách khác,
2
giáo viên chủ nhiệm có sức ảnh hưởng rất lớn đến các em. Cho nên, để đạt được
bình đẳng giới trong giáo dục thì vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp là rất quan
trọng.
Chính vì những lẽ trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp để thực
Trước đây, giáo viên tư vấn hướng nghiệp cho học sinh nữ chỉ phù hợp giảng
dạy nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở; không nên làm lãnh đạo vì như thế
dễ hỏng gia đình do quan niệm từ xa xưa đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm; con
gái nên đăng ký thi vào các ngành khoa học xã hội, giáo dục, văn hóa,…; học sinh
nữ học giỏi văn, các môn xã hội. Nam giới chỉ nên làm giáo viên Trung học phổ
thông hoặc giảng viên đại học; giáo viên nam phù hợp với dạy các môn khoa học tự
nhiên, kỹ thuật; con trai phải là trụ cột gia đình, phải học cao để thành đạt trong sự
3
nghiệp, không nên làm nội trợ,..; học sinh nam học giỏi toán, các môn tự nhiên, kỹ
thuật.
Khi thực hiện được bình đẳng giới, các học sinh nữ được khuyến khích học
không chỉ những môn thuộc khoa học xã hội như Văn học, Địa lí, Lịch sử, Ngoại
ngữ mà hoàn toàn có thể đạt điểm cao và đi sâu vào lĩnh vực khoa học tự nhiên như
Toán học, Vật lí hay Hóa học. Ngược lại, những học sinh nam không còn chịu định
hướng riêng cho các môn khoa học tự nhiên mà cũng có thể phát huy năng khiếu,
sở thích của mình ở lĩnh vực khoa học xã hội. Như vậy, các em học sinh sẽ có thể
phát huy hết năng lực bản thân và dám thực hiện nguyện vọng, ước mơ của mình.
Hơn thế, hành vi ứng xử, quan điểm và các nhu cầu khác nhau của học sinh nam và
học sinh nữ được xem xét và đánh giá một cách bình đẳng; quyền lợi, cơ hội và
trách nhiệm của học sinh nam và học sinh nữ sẽ không phụ thuộc vào việc liệu các
em sinh ra là nam hay nữ; cả học sinh nữ và học sinh nam đều được tự do phát triển
các kỹ năng cá nhân và ra quyết định mà không bị giới hạn bởi những định kiến rập
khuôn, các vai trò định kiến cứng nhắc về giới.
3.2.3. Nội dung giải pháp.
Trong công tác chủ nhiệm có rất nhiều giải pháp để thực hiện lồng ghép giáo
dục bình đẳng giới. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến một số giải pháp. Để vận dụng
hợp lí các giải pháp, chúng tôi tiến hành qua ba bước:
3.2.3.1. Bước 1: Thực hiện tuyên truyền về bình đẳng giới:
không cho Lan đi học thì Lan sẽ nhờ đến sự giúp đỡ của giáo viên chủ nhiệm. Giáo
viên chủ nhiệm sẽ đến để vận động, thuyết phục gia đình của Lan để em được đến
trường. Nếu gia đình Lan vẫn không cho em đi học tiếp, giáo viên chủ nhiệm sẽ
nhờ đến sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, của Ban giám hiệu.
2. Nam là một học sinh lớp 12, em có năng khiếu viết văn rất hay. Em thi đạt
Giải ba trong cuộc thi học sinh giỏi Văn cấp tỉnh. Em đăng ký thi khối xã hội. Gia
đình em biết được, bắt em phải thi vào khối tự nhiên. Vì cho rằng con trai phải học
khối tự nhiên chứ ai lại học khối xã hội.
Câu hỏi thảo luận: Theo em, gia đình của Nam làm vậy là đúng hay sai? Vì
sao?
Gợi ý câu trả lời: Gia đình Nam làm vậy là không đúng. Vì gia đình Nam
chưa thấy được năng lực của Nam, Nam có năng khiếu ở khối xã hội thì phải để
cho Nam phát huy hết điểm mạnh đó. Dù là học sinh nam hay học sinh nữ cũng đều
được học khối mà mình thấy phù hợp với năng lực của bản thân. Nếu gia đình bắt
Nam thi khối tự nhiên, Nam không có năng khiếu ở khối đó sẽ dẫn đến việc chán
nản học tập và có thể dẫn đến kết quả không như mong muốn.
Với hai tình huống trên, giáo viên chủ nhiệm muốn hướng học sinh đến câu
trả lời tất cả nam và nữ đều có quyền học không hạn chế, bình đẳng trong quá trình
học tập, bình đẳng trong kết quả học tập, bình đẳng trong cơ hội việc làm và thu
nhập. Cho nên, dù là nam hay nữ cũng đều được đối xử bình đẳng về cơ hội học
tập, có thể học bất cứ ngành, nghề nào phù hợp với năng khiếu, khả năng, sở thích
và điều kiện của mình. Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để tạo điều kiện để ai cũng
được học hành, để những người có năng khiếu phát triển tài năng (Quyền học tập
của công dân được quy định trong Hiến pháp, luật giáo dục và trong các văn bản
quy phạm pháp luật khác của Nhà nước).
Thứ ba, tổ chức cho học sinh thi vẽ tranh, hình ảnh về bình đẳng giới.
Ở hoạt động này, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh vẽ tại lớp trong tiết
sinh hoạt lớp ở tháng 3 và tháng 10. Giáo viên yêu cầu mỗi học sinh chuẩn bị giấy
A4, bút chì, bút màu để vẽ. Sau đó chọn ra ba tranh đẹp nhất để khen thưởng. Hoặc
giáo viên có thể phối hợp với Đoàn trường: chọn ba học sinh (không phân biệt nam
léo nên thích hợp làm lớp phó học tập, phó văn thể mỹ, thủ quỹ. Khi bầu chọn
Trường ban đại diện cha mẹ học sinh cũng vậy, không nên nghĩ là chọn phụ huynh
nam vì thích hợp cho hoạt động ngoài xã hội, còn phụ huynh nữ chỉ thích hợp cho
việc làm thư ký. Nam hay nữ đều bình đẳng như nhau, học sinh nào có năng lực
đều làm được.
Thứ hai, trong phân công trực nhật, lao động: học sinh nam hay nữ cũng
đều làm được các công việc quét lớp, quét sân, lau bảng, đỗ rác. Giáo viên chủ
nhiệm tránh việc phân công học sinh nam thì đỗ rác, học sinh nữ thì lau bảng, quét
lớp, giặt khảm trải bàn mà phải có sự luân phiên.
Thứ ba, khi phân công tham gia các phong trào thể thao, văn nghệ; các
hoạt động ngoại khóa: Giáo viên chủ nhiệm dựa theo năng khiếu, sở trường của
học sinh mà phân công sao cho đảm bảo học sinh nam và học sinh nữ đều có cơ hội
và điều kiện tham gia, hưởng lợi bình đẳng, không ưu tiên học sinh nào cả để các
em phát huy hết năng khiếu của bản thân. Giáo viên chủ nhiệm vẫn luôn động viên,
khuyến khích các em nữ chơi thể thao như bóng chuyền, bóng đá, đẩy gậy,...Còn
các em nam cũng vậy, giáo viên vẫn khuyến khích các em tham gia múa, vẽ tranh,
cắm hoa,...
Thứ tư, khen thưởng dựa theo thành tích. Nếu học sinh nào có thành tích
thì chọn khen thưởng, chứ không ưu tiên cho học sinh nam hay nữ.
6
Thứ năm, xử phạt học sinh vi phạm. Dù nam hay nữ nếu vi phạm cũng chịu
phạt mức phạt như nhau, không có ưu tiên cho nữ hay cho nam.
Thứ sáu, tư vấn hướng nghiệp: khuyến khích học sinh nữ không chỉ học
những môn thuộc khoa học xã hội như Văn học, Địa lí, Lịch sử, Ngoại ngữ mà
hoàn toàn có thể đạt điểm cao và đi sâu vào lĩnh vực khoa học tự nhiên như Toán
học, Vật lí hay Hóa học. Ngược lại, những học sinh nam không còn chịu định
hướng riêng cho các môn khoa học tự nhiên mà cũng có thể phát huy năng khiếu,
sở thích của mình ở lĩnh vực khoa học xã hội.
7
PHỤ LỤC
CÁC KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ GIỚI
1. Vai trò giới, định kiến giới và phân biệt đối xử giới:
* Các vai trò giới: vai trò sản xuất: bao gồm các hoạt động nhằm tạo thu nhập,
cho sự thịnh vượng và phát triển kinh tế của gia đình và xã hội. Ví dụ như đi cày,
cấy, làm công nhân, kinh doanh, làm công chức,...
Vai trò gia đình bao gồm các hoạt động tạo ra hay duy trì nòi giống và chăm sóc,
tái tạo sức lao động. Ví dụ như sinh con, nuôi dạy con cái, nội trợ, chăm sóc các
thành viên trong gia đình,.. Những công việc này thường không được trả công và
chưa được coi trọng trong xã hội Việt Nam.
Vai trò cộng đồng bao gồm những hoạt động diễn ra ngoài phạm vi gia đình
nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng. Ví dụ như họp tổ dân phố, tham gia các tổ
chức Đoàn thể, tham gia các câu lạc bộ, trao đổi thông tin, tham dự các lễ hội.
* Từ sự phân công vai trò giới thực tế cho thấy:
Nam giới và nữ giới đều thực hiện cả ba vai trò giới: vai trò sản xuất, vai trò
gia đình, vai trò cộng đồng. Nhưng nữ giới thường được mong đợi làm nhiều hơn ở
vai trò gia đình so với nam giới. Trong cơ quan cộng đồng, nam giới thường là
người chỉ đạo, ra quyết định; nữ giới thường là người thừa hành, ít có tiếng nói.
Cách phân công vai trò giới bất hợp lí đang cản trở cả nam và nữ được làm
việc theo năng lực, sở trường của mình.
Đứng đằng sau những bất bình đẳng giới trong phân công lao động theo giới
là các lí do thuộc về nhận thức, niềm tin và thái độ không đúng về giới, cản trở
nam, nữ phát huy tiềm năng của mình.
Hiện nay nam, nữ vẫn còn ngại thay đổi phân công lao động truyền thống
nên rất khó đáp ứng nhu cầu về lao động của xã hội.
* Định kiến giới: là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về
đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ ( Khoản 4, Điều 5, Luật bình
hướng ra ngoài gia nạn xã hội
đình; ít thời gian chia sẻ
công việc gia đình
* Nguyên nhân của bất bình đẳng giới
Tư tưởng trọng nam khinh nữ là nguyên nhân sâu xa. Từ thời phong kiến, tư
tưởng này đã ăn sâu vào nhận thức của mỗi người dân Việt Nam cho đến tận bây
giờ. Nữ giới phải biết nấu cơm, trông em; ngăn nắp, sạch sẽ, ngoan, chăm chỉ, khéo
léo, chịu khó; lớn lên phải học các ngành sư phạm, ngoại ngữ, kế toán; lấy chồng
chăm sóc con cái, nội trợ, tự bằng lòng với công chức hành chính. Nam giới phải
làm việc nặng như bó củi, mang vát, sửa đồ điện; lớn lên học các ngành như xây
dựng, giao thông, công an; thành công trong sự nghiệp, thăng quan, tiến chức, bận
rộn các mối quan hệ xã hội, tạo dựng vị thế.
Duy trì mô hình phân công lao động truyền thống là nông nghiệp cơ bản trực
tiếp.
Bất cập trong luật pháp, cơ chế, chính sách. Nam giới và nữ giới đều thực
hiện cả ba vai trò giới: vai trò sản xuất, vai trò gia đình, vai trò cộng đồng. Nhưng
nữ giới thường được mong đợi làm nhiều hơn ở vai trò gia đình so với nam giới.
Dẫn đến thời gian làm việc của nữ giới nhiều hơn, thời gian nghỉ ngơi, giải trí ít
hơn; sức khỏe – sức khỏe sinh sản của nữ giới bị giảm sút; ít có điều kiện học tập,
đào tạo nâng cao về chuyên môn; lao động giản đơn, thu nhập thấp, nguy cơ thất
nghiệp cao; ít có cơ hội tham gia hoạt động xã hội và thăng tiến nghề nghiệp. Còn
nam giới đối mặt với tai nạn nghề nghiệp cao; chịu áp lực của gánh nặng kiếm tiền
cao hơn nữ giới. Trong cơ quan cộng đồng, nam giới thường là người chỉ đạo, ra
quyết định; nữ giới thường là người thừa hành, ít có tiếng nói.
Định kiến giới và phân biệt đối xử giới còn tồn tại trong mỗi cá nhân và thiết
chế xã hội. Lấy ví dụ trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo định kiến giới như nữ chỉ
phù hợp giảng dạy nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở; không nên làm lãnh
đạo vì như thế dễ hỏng gia đình do quan niệm từ xa xưa đàn ông xây nhà, đàn bà
xây tổ ấm; con gái nên đăng ký thi vào các ngành khoa học xã hội, giáo dục, văn
hóa,…; học sinh nữ học giỏi văn, các môn xã hội. Nam giới chỉ nên làm giáo viên
4. Mục tiêu, nguyên tắc và nội dung cơ bản về bình đẳng giới
* Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới
- Mục tiêu: xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và
nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng
giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam,
nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
- Nguyên tắc:
+ Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
+ Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.
+ Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
+ Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về
giới.
+ Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp
luật.
+ Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá
nhân.
* Nội dung cơ bản về bình đẳng giới
Bình đẳng giới trong các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội:
- Trong lĩnh vực chính trị
+ Nam, nữ bình đẳng: trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động
xã hội; trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng
đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức; trong việc tự ứng cử và được
10
giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND; tự ứng cử và được giới
thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp.
+ Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ
+ Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ
các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách
dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.
Bình đẳng giới trong gia đình:
- Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ
khác liên quan đến hôn nhân và gia đình; trong quan hệ tài sản của vợ chồng;
11
- Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và
sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm
sóc con ốm theo quy định của pháp luật.
- Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như
nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.
- Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia
đình.
12
TÀI LIỆU TUYÊN TRUYỀN NGÀY THÀNH LẬP
HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM (20/10/1930)
NGÀY PHỤ NỮ VIỆT NAM (20/10/2010)
1. Lịch sử ra đời của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (20/10/1930)
Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông
nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước và thủ công nghiệp nên phụ nữ Việt
Nam đã trở thành lực lượng lao động chính. Bên cạnh đó, nước ta luôn luôn bị kẻ
thù xâm lược, đời sống nghèo khổ. Từ thực tế đó mà người phụ nữ Việt Nam có
bản sắc phong cách riêng: họ là những chiến sĩ chống ngoại xâm kiên cường dũng
cảm; là người lao động cần cù, sáng tạo, thông minh; là người giữ vai trò đặc biệt
13
Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ
chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.
Tháng 10/1930, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra
Án nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị về Phụ nữ vận động. Án nghị
quyết nhấn mạnh: “Trong đám quần chúng lao khổ ở thành phố và ở nhà quê, phụ
nữ cũng chiếm một phần lớn. Tình hình sinh hoạt của hai hạng phụ nữ ấy cũng rất
cực khổ. Ngoài những cách bóc lột như nhiều giờ làm, ít tiền lương, họ lại bị phong
tục bó buộc, bị coi là một hạng người tôi mọi rất đê tiện trong xã hội, không có một
chút tự do nào hết. Bởi tình hình sinh hoạt như vậy, nên khi họ đã tiêm nhiễm được
tư tưởng cách mạng thì họ rất hăng hái và quả quyết tham gia vào những cuộc đấu
tranh cách mạng…Lực lượng cách mạng của phụ nữ là một lực lượng rất trọng yếu.
Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc đấu tranh cách
mạng thì cách mạng không thể thắng lợi được. Bởi vậy nên công tác trong quần
chúng phụ nữ…là một cái nhiệm vụ lớn và rất trọng yếu ”. Án nghị quyết nhấn
mạnh: “muốn thâu phục cho được hết thảy các phần tử phụ nữ thì ngoài sự cộng tác
trong phụ nữ công nông ra, Đảng lại còn phải tổ chức ra các đoàn thể phụ nữ “Phụ
nữ hiệp hội”, mục đích là để mưu quyền lợi cho phụ nữ, làm cho phụ nữ được triệt
để giải phóng”. Vì thế ngày 20/10/1930, Hội Phụ nữ phản đế ra đời.
Ngày 16/6/1941, ra đời Đoàn Phụ nữ cứu quốc. Tiếp đến là Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam (20/10/1946) với Đoàn Phụ nữ cứu quốc làm nòng cốt. Tháng
4/1950, hợp nhất Đoàn Phụ nữ cứu quốc vào Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Ngày
8/3/1961, thành lập Hội Phụ nữ giải phóng ở miền Nam và tháng 6/1976 thì hợp
nhất vào Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Dù tên gọi có thay đổi theo từng thời kỳ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
trước sau vẫn là một tổ chức tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ đấu tranh giải
phóng giái cấp và giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng phụ nữ theo
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
15
LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 08/03
I. Lịch sử ngày 08/03
Lịch sử ngày 08/03 bắt đầu từ phong trào nữ công nhân nước Mỹ. Cuối thế kỷ 19, chủ
nghĩa tư bản ở Mỹ đã phát triển một cách mạnh mẽ. Nền kỹ nghệ đã thu hút nhiều phụ nữ
và trẻ em vào các nhà máy, xí nghiệp. Nhưng bọn chủ tư bản trả lương rất rẻ mạt, giờ
giấc làm việc không hạn định cốt sao thu được nhiều sản phẩm cho chúng.
Căm phẫn trước sự bất công đó, ngày 8 tháng 3 năm 1857, nữ công nhân nước Mỹ đã
đứng lên đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm. Phong trào bắt đầu từ nữ công nhân
ngành dệt và ngành may tại hai thành phố Chi-ca-gô và New York. Mặc dù bị bọn tư bản
thẳng tay đàn áp, chị em vẫn đoàn kết chặt chẽ, bền bỉ đấu tranh buộc chúng phải nhượng
bộ. Cuộc đấu tranh của nữ công nhân Mỹ đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào phụ nữ lao động
trên thế giới. Trong phong trào đấu tranh giai cấp lúc đó đã xuất hiện hai nữ chiến sỹ lỗi
lạc, đó là bà Cla-ra Zet-kin (Clara Zetkin người Đức) và bà Rô-gia Lúc-xăm-bua (người
Ba Lan). Nhận thức được sự mạnh mẽ và đông đảo của lực lượng lao động nữ và sự cần
thiết phải có tổ chức, phải có lãnh đạo để giành thắng lợi cho phong trào phụ nữ, nên năm
1907 hai bà đã cùng phối hợp với bà Crup-xkai-a (vợ đồng chí Lê-nin) vận động thành
lập Ban “Thư ký phụ nữ quốc tế”. Bà Cla-ra Zet-kin được cử làm Bí thư.
Năm 1910, Đại hội phụ nữ quốc tế XHCN họp tại Cô-pen-ha-gen (Thủ đô nước Đan
Mạch) đã quyết định lấy ngày 8/3 làm “Ngày Quốc tế Phụ nữ”, ngày đoàn kết đấu tranh
của phụ nữ với những khẩu hiệu: Ngày làm việc 8 giờ. Công việc ngang nhau, tiền lương
ngang nhau. Bảo vệ bà mẹ và trẻ em.
Từ đó đến nay, ngày 8/3 trở thành ngày hội của phụ nữ thế giới, đoàn kết đấu tranh để
tự giải phóng, thực hiện quyền nam nữ bình đẳng và cũng từ đó, phụ nữ tiến bộ khắp năm
Châu tổ chức ngày 8/3 với những nội dung và hình thức phong phú.
II. Ý nghĩa của ngày Quốc tế Phụ nữ
Trong 365 ngày của một năm, phụ nữ trên toàn thế giới có riêng một ngày để được xã
hội quan tâm và bù đắp những thiệt thòi, vất vả trong cuộc sống.
17
TRANH, HÌNH ẢNH TRONG CUỘC THI
TUYÊN TRUYỀN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
18
19
20
21
22
23
24