ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN TIẾN QUANG MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA TOÀN DIỆN
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BẮC GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã Số : 60 14 05
7. Phương pháp nghiên cứu
4
8. Cấu trúc nội dung luận văn
5
Chƣơng 1. CƠ SỞ KHOA HỌC-PHÁP LÝ VỀ
THANH TRA, KIỂM TRA TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC
6
1.1. Cơ sở lý luận
6
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục
6
1.1.1.1. Quản lý
6
1.1.1.2. Quản lý giáo dục
9
1.1.1.3. Quản lý trường học
11
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản về thanh tra giáo dục
12
1.1.2.1. Thanh tra
12
1.1.2.2. Thanh tra giáo dục
14
1.1.2.3. Thanh tra chuyên môn
15
1.1.2.4. Thanh tra toàn diện trường phổ thông
15
1.1.3. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về giáo dục
15
1.1.3.1. Khái niệm về quản lý nhà nước
26
1.3. Cơ sở thực tiễn
27
1.3.1. Dự án đào tạo cán bộ thanh tra và quản lý giáo dục Việt Nam
(FICEV) – Những vấn đề cần đặt ra sau Dự án
27
1.3.2. Hoạt động thanh tra, kiểm tra trước yêu cầu đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông và thay sách giáo khoa lớp 10
28
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA VÀ QUẢN LÝ
CÔNG TÁC THANH TRA TOÀN DIỆN TRƢỜNG THPT TỈNH BẮC GIANG
30
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế-xã hội
và phát triển giáo dục-đào tạo của tỉnh Bắc Giang
30
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế-xã hội
30
2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục-đào tạo
30
2.1.2.1. Tình hình chung về phát triển giáo dục
30 2.1.2.2. Thực trạng hoạt động và quản lý giáo dục ở các trường THPT
32
2.2. Thực trạng hoạt động thanh tra và quản lý công tác thanh tra toàn
diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang
36
2.2.1. Thực trạng hoạt động thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc
Giang
49
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
49
3.2. Yêu cầu đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra giáo dục
trong giai đoạn mới
49
3.3. Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh
tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang
50
3.3.1. Biện pháp 1: Đổi mới tư duy thanh tra giáo dục, nâng cao nhận
51 thức về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người cán bộ thanh tra
3.3.1.1. Mục đích
51
3.3.1.2. Nội dung và cách thức tiến hành
51
3.3.2. Biện pháp 2: Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng, khuyến
khích tự bồi dưỡng nâng cao năng lực, phẩm chất của người cán bộ
thanh tra về hiểu biết pháp luật, kỹ năng quản lý, nhất là kỹ năng “trao
đổi” trong thanh tra
52
3.3.2.1. Mục đích
52
3.3.2.2. Nội dung và cách thức tiến hành
53
3.3.3. Biện pháp 3: Nâng cao chất lượng công tác thống kê, thông tin
quản lý giáo dục từ Sở đến các nhà trường trong việc thu thập và cung
cấp thông tin phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá các hoạt
3.5.2. Thử nghiệm biện pháp 4
65
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
67
1. Kết luận
67
2. Khuyến nghị
68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
70
PHỤ LỤC
73
Phụ lục 1
73
Phụ lục 2
96
KÝ HIỆU CỤM TỪ VIẾT TẮT
- THPT Trung học phổ thông
- THCS Trung học cơ sở
- GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
- CTVTT Cộng tác viên thanh tra
- THCN Trung học chuyên nghiệp
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” (7.Tr.368).
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu nêu trên, giáo dục và đào tạo có vai
trò quyết định trong việc tạo ra nguồn lực con người phục vụ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu phát triển giáo dục - đào tạo là rất bức
thiết. Sau 20 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu
đáng tự hào, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài. Hệ thống giáo dục quốc dân từ giáo dục mầm non
đến giáo dục đại học và sau đại học, với trên 21 triệu người đi học, sự nghiệp
giáo dục đã góp phần phát huy nhân tố con người - nguồn nội lực quan trọng
để đưa đất nước bước vào thế kỷ XXI.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, nền giáo dục và đào tạo
nước ta còn có những khuyết điểm, yếu kém cần khẩn trương khắc phục. Văn
kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: "Chất lượng giáo dục và
đào tạo còn thấp, nhiều vấn đề hạn chế, yếu kém chậm được khắc phục";
“Công tác quản lý giáo dục, đào tạo chậm đổi mới và còn nhiều bất cập. 2
Thanh tra giáo dục còn nhiều yếu kém; những hiện tương tiêu cực, như bệnh
thành tích, thiếu trung thực trong đánh giá kết quả giáo dục, trong học tập,
tuyển sinh, thi cử, cấp bằng và tình trạng học thêm, dạy thêm tràn lan kéo dài,
chậm được khắc phục." (7.Tr .170, 171).
Để phát huy những thành tựu đã đạt được và khắc phục có hiệu quả các
khuyết điểm, yếu kém, đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Văn kiện Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ ra phương hướng giải quyết là: "Đổi mới
và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo; Nhà nước
thực hiện đúng chức năng định hướng và phát triển, tạo lập khung pháp lý và
kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực thi pháp luật, tạo môi trường cạnh
tranh lành mạnh trong giáo dục và đào tạo, chống bệnh thành tích. Tập
Nghiên cứu về đổi mới công tác thanh tra giáo dục đã có công trình
nghiên cứu ở trong nước do Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, và Dự
án “Đào tạo cán bộ thanh tra và quản lý giáo dục Việt Nam” với sự giúp đỡ
của Thanh tra giáo dục Pháp để thực hiện một trong những giải pháp đổi mới
đó. Tuy nhiên còn ít công trình nghiên cứu về biện pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động thanh tra giáo dục. Đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu về
biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh
Bắc Giang.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Một số biện pháp
quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra toàn diện trường THPT
tỉnh Bắc Giang" để nghiên cứu, nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả trong
công tác quản lý hệ thống trường THPT, đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý
nhà nước của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Giang.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác
thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu và mẫu khảo sát 4
- Khách thể nghiên cứu: hoạt động thanh tra toàn diện trường THPT ở
tỉnh Bắc Giang.
- Đối tượng nghiên cứu: biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra
toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang.
- Mẫu khảo sát: hoạt động thanh tra toàn diện các trường THPT trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2004-2006.
4. Giả thuyết khoa học
Hiệu quả công tác thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang
sẽ được nâng cao, nếu người cán bộ thanh tra có nhận thức đúng về "nghề
thanh tra" và cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện đồng bộ, sáng tạo
thực nghiệm và tổng kết kinh nghiệm.
+ Sử dụng phần mềm tin học để phân tích, tổng hợp, thống kê với mục
đích xử lý kết quả nghiên cứu từ điều tra và từ sản phẩm hoạt động thanh tra
toàn diện trường THPT giai đoạn 2004-2006.
8. Cấu trúc nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương:
Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC - PHÁP LÝ VỀ THANH TRA, KIỂM TRA
TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA VÀ QUẢN LÝ
CÔNG TÁC THANH TRA TOÀN DIỆN TRƢỜNG THPT Ở TỈNH BẮC GIANG
Chƣơng 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
THANH TRA TOÀN DIỆN TRƢỜNG THPT Ở TỈNH BẮC GIANG 6
NỘI DUNG
làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
- H.Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó
đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục
đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường
mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian,
tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
- Trong tác phẩm “Lý luận quản lý Nhà nước” của Mai Hữu Khuê, xuất
bản năm 2003 có định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là một phạm trù có
liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự
nhiên của mọi lao động hiệp tác”. Còn C. Mác đã coi việc xuất hiện quản lý
như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản
mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại. C. Mác
đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy
mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động
cá nhân Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc
thì phải có nhạc trưởng”.
Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa một cách rõ hơn.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đưa ra khái niệm:
“Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các
hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra
(25.Tr. 1).
Quản lý là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản
lý bằng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra, đánh giá, dựa trên những nguồn
lực và những điều kiện có thể có nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Như 8
vậy quản lý có bốn chức năng cơ bản sau: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo -
lãnh đạo và kiểm tra.
- Chức năng lập kế hoạch là nền tảng của quản lý, bởi vì đó là việc xây
phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn. Đó cũng là quá trình tự
điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau:
+ Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động
+ Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn
mực đã đặt ra
+ Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch
+ Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần.
Trong bốn chức năng trên thì chức năng tổ chức là quan trọng nhất.
Tuy nhiên bốn chức năng này có liên quan mật thiết với nhau và phải được
thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau, phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết
nối giữa chu trình quản lý này sang chu trình quản lý khác theo hướng phát
triển, trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc
thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý.
Chức năng của quản lý có thể mô tả theo sơ đồ sau: (Xem hình 1) Hình 1. Sơ đồ các chức năng quản lý thông tin
Kế hoạch
hướng tới việc làm cho hệ thống giáo dục phục vụ, đáp ứng các đòi hỏi của sự
phát triển đất nước, phát triển xã hội.
- Quan điểm phù hợp: Ra đời vào những năm 70. Cơ sở tư tưởng của
quan điểm này là vấn đề văn hoá. Quản lý giáo dục phải đạt được mục tiêu 11
phát triển giáo dục trong điều kiện bảo tồn và phát huy truyền thống, bản sắc
văn hoá dân tộc (24.Tr.68, 69).
Ngày nay giáo dục được gắn với quá trình phát triển xã hội, việc đi học
của mỗi người phải là: “ học thường xuyên, học suốt đời ”. Do đó giáo dục
không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người, cho nên quản lý
giáo dục cũng có thể hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm
thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Quản lý giáo dục có những đặc trưng riêng so với các loại hình quản lý
khác. Nó là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, nó thu hút sự tham gia của
rất đông các thành viên xã hội, có ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội.
Quản lý giáo dục cũng gồm có bốn chức năng cơ bản như các hoạt động
quản lý khác là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Quản lý giáo dục được biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau tuỳ thuộc
vào việc xác định đối tượng quản lý. Việc xác định đối tượng quản lý khác
nhau để chủ thể quản lý giáo dục các cấp tác động vào đối tượng của mình đạt
hiệu quả cao nhất, sự tác động có tính khoa học, hệ thống với đối tượng đó.
Giáo dục học hiện đại đã khẳng định, nơi chủ yếu để thực hiện quá
trình sư phạm là nhà trường, một thiết chế nhà nước-xã hội hiểu theo nghĩa
đầy đủ nhất. Vì vậy việc quản lý giáo dục- thực chất là quản lý tế bào cơ bản
nhất của hệ thống giáo dục, nhà trường- không thể không tính đến quan hệ
nhà nước - xã hội.
Một mặt, nhà trường nói riêng hay toàn bộ hệ thống giáo dục nói chung
(rộng hơn là toàn bộ các hoạt động giáo dục) phải được Nhà nước thống nhất
trong", chỉ “một sự kiểm tra xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng nhất định”.
Theo từ điển tiếng Việt: “Thanh tra (người thuộc cơ quan có thẩm
quyền) kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí
nghiệp” (13.Tr.838).
Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn”, Nhà xuất bản Thống kê đã nêu: “Thanh tra là hoạt động của cơ
quan hành chính nhà nước, có chức năng duy trì các hoạt động của cơ quan và 13
của công chức hành chính phù hợp với pháp luật của nhà nước, bằng các hoạt
động xem xét, thẩm định lại những hành vi của công chức, những hoạt động
của cơ quan hành chính nhà nước trên cơ sở những quy định pháp lý về quyền
hạn, nhiệm vụ của các cá nhân (công chức, cán bộ và các nhân viên khác
trong cơ quan hành chính và tổ chức)”; “Thanh tra là một khái niệm thuộc
một chức năng đặc trưng của quản lý hành chính nhà nước. Thanh tra có cơ
cấu trong tổ chức bộ máy hành pháp. Thanh tra khác với hoạt động kiểm tra
về các yếu tố chủ thể, nguồn gốc phát sinh, về quy trình hoạt động và về hậu
quả do chúng mang lại” (10.Tr.299, 304).
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác thanh tra thì có
thể đưa ra khái niệm sau: "Thanh tra là một dạng hoạt động, là một chức năng
của quản lý nhà nước được thực hiện bởi chủ thể quản lý có thẩm quyền, nhân
danh quyền lực nhà nước, nhằm tác động đến đối tượng quản lý trên cơ sở
xem xét, đánh giá ưu khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và
xử lý vi phạm, tăng cường quản lý, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng
cường pháp chế bảo vệ quyền lợi nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân" (11.Tr.136).
Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đã xác định rõ: "Thanh tra là chức năng
thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là phương thức bảo đảm pháp chế,
tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội
(12.Tr.13).
Như vậy có thể rút ra kết luận: thanh tra là một trong những chức năng
của hoạt động quản lý nhà nước. Nói cách khác là nếu không thanh tra, kiểm
tra thì không thể làm tốt chức năng quản lý nhà nước và làm cho quản lý sẽ
mất đi một chức năng thiết yếu và sẽ không thể mang lại hiệu quả cao của
hoạt động quản lý.
1.1.2.2. Thanh tra giáo dục
Thanh tra giáo dục là hoạt động kiểm tra có tính chất nhà nước của cơ
quan quản lý giáo dục cấp trên đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân cấp dưới
do một tổ chức chuyên biệt (tổ chức thanh tra) tiến hành với các chức năng:
đánh giá, phát hiện, điều chỉnh và giúp đỡ đối tượng thanh tra nhằm đảm bảo 15
pháp chế, giữ vững kỷ cương, tăng cường kỷ luật và góp phần nâng cao chất
lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo.
Theo quy định của Luật Thanh tra, về tổ chức bộ máy thì Thanh tra
giáo dục là thanh tra chuyên ngành, thực hiện quyền thanh tra nhà nước về
giáo dục và đào tạo, vừa bộc lộ quyền lực nhà nước, vừa đảm bảo dân chủ, kỷ
cương trong hoạt động giáo dục. Vì vậy thanh tra giáo dục có tính chất: Hành
chính - Pháp chế - Nhà nước. Tổ chức thanh tra giáo dục do pháp luật quy
định, cấp trên bổ nhiệm và hoạt động theo luật định.
Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của
Thanh tra giáo dục đã xác định rõ: “Thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên
ngành về giáo dục. Thanh tra giáo dục thực hiện quyền thanh tra trong phạm
vi quản lý nhà nước về giáo dục, nhằm bảo đảm việc thi hành pháp luật, phát
huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục"
(Điều 1, Nghị định 101/2002/NĐ-CP ngày 10/12/2002 về tổ chức và hoạt
động của Thanh tra giáo dục); "Thanh tra giáo dục thực hiện chức năng thanh
GS. Mai Hữu Khuê và GS.TS. Bùi Văn Nhơn đã định nghĩa quản lý
nhà nước như sau: "Quản lý là một chức năng quan trọng nhất của nhà nước".
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là sự tổ chức và quản lý sự vụ hữu quan
của mọi tổ chức và toàn xã hội. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt
động quản lý hành chính do chính phủ đại diện nhà nước thực thi và bảo đảm
bằng sức cưỡng chế của nhà nước.
Nói chung, quá trình quản lý nhà nước do bốn hoạt động cơ bản tạo
thành, đó là: quyết định, tổ chức, điều tiết, khống chế.
- Quyết định là đề ra mục tiêu và phương hướng công tác, chất lượng
của quyết sách thể hiện ở tính khoa học và kiến thức chuyên môn, tính quyền
uy và sự ổn định tương đối, tính nhất trí và tính liên tục lôgic, ngắn gọn, rõ
ràng, quyết sách của nhà nước bao gồm: cương lĩnh, kế hoạch, mệnh lệnh, chỉ
thị, sắp xếp vv. 17
- Tổ chức là bố trí nhân sự và phương tiện thực thi bảo đảm thực hiện
mục tiêu công tác. Chức năng tổ chức bao gồm: thiết kế cơ cấu quản lý, sử
dụng nhân viên quản lý và xúc tiến đối tượng công tác.
- Điều tiết là sự sửa đổi và hoàn thiện quy phạm thủ tục công tác, thiết kế
cơ cấu, phân phối nhân viên để bảo đảm cơ chế tổ chức và công tác tiến triển.
- Khống chế là kiểm tra và nắm vững công tác quản lý hàng ngày. Hệ
thống khống chế gồm hai mặt: một là kiểm toán, hai là hạch toán.
Các hoạt động quản lý nhà nước nói trên có mối liên hệ không thể chia
cắt, thẩm thấu vào nhau, tác động qua lại, hình thành một quá trình quản lý
nhà nước thống nhất (35.Tr.601, 602).
1.1.3.2. Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục
Theo từ điển bách khoa về giáo dục học, khái niệm quản lý nhà nước
về giáo dục được giải nghĩa là việc “Thực hiện công quyền để quản lý các
hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội”. Có thể hiểu:
thẩm quyền do nhà nước quy định, phân cấp trong các hoạt động quản lý giáo
dục. Ở địa phương và các cơ sở giáo dục, quản lý nhà nước về giáo dục và
đào tạo thực chất là quản lý các hoạt động hành chính-giáo dục, vì vậy nó có
hai mặt quản lý thâm nhập vào nhau, đó là quản lý hành chính sự nghiệp giáo
dục và quản lý chuyên môn trong quá trình sư phạm. Chính vì vậy, quản lý
nhà nước về giáo dục cần lưu ý các đặc điểm nêu trên để phân biệt rõ với khái
niệm quản lý nhà trường được hiểu là thực hiện hoạt động quản lý giáo dục
trong tổ chức nhà trường và chịu sự tác động của những chủ thể quản lý bên
trên nhà trường (các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên) nhằm hướng dẫn và
tạo điều kiện cho hoạt động của nhà trường và bên ngoài nhà trường, các thực
thể bên ngoài nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhà trường phát triển.
Nếu xem quản lý nhà nước như là một hệ thống thì quản lý nhà nước về
giáo dục là một hệ thống bao gồm các thể chế, cơ chế quản lý giáo dục; tổ
chức bộ máy quản lý giáo dục và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý giáo dục
các cấp. Ba bộ phận này có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau rất chặt
chẽ. Chúng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm lẫn nhau trong quá trình vận hành,
tác nghiệp.