một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu qua hoạt động hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học tại trung tâm kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp tỉnh thái nguyên - Pdf 23


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGÔ TUẤN TĂNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP VÀ DẠY
NGHỀ PHỔ THÔNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC TẠI
TRUNG TÂM KĨ THUẬT TỔNG HỢP – HƯỚNG
NGHIỆP TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã ngành: 601405 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn: GS – TSKH Nguyễn Văn Hộ
3.3. Khảo nghiệm tính khả thi của một số biện pháp 89
3.4. Kết luận chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
1. Kết luận chung 97
2. Khuyến nghị 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 103

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Một trong những vấn đề bức xúc của giáo dục Việt Nam hiện nay, khiến
toàn xã hội phải quan tâm đó là việc định hướng nghề nghiệp và phân luồng học
sinh sau tốt nghiệp THCS và THPT (trung học cơ sở và trung học phổ thông). Theo
số liệu thống kê hàng năm tính trung bình cả nước có khoảng 70 – 80% số học sinh
THCS vào học THPT, riêng tỉnh Thái Nguyên trong những năm năm học gần đây,
mỗi năm có khoảng 12000 học sinh vào học lớp 10 và số học sinh tốt nghiệp THPT
đều đăng kí thi Đại học, Cao đẳng. Xét về nhu cầu, xu hướng và nguyện vọng
của lớp trẻ thì những số liệu nêu trên là trân trọng, nhưng thực tiễn về năng lực và
nhu cầu xã hội lại không cho phép nguyện vọng đó thành hiện thực. Mỗi năm số
học sinh được tuyển vào ĐH, CĐ (đại học, cao đẳng) chỉ chiếm khoảng 10 – 15%,
tạo lên sự ùn tắc trong các kì thi tuyển sinh, gây tốn kém cho gia đình và cho xã
hội.
1.2. HĐGDHN và DNPT (hoạt động giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề phổ
thông) cho học sinh phổ thông có ý nghĩa rất to lớn, xét về mặt giáo dục đó là công việc
điều chỉnh động cơ chọn nghề của học sinh, điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp của các em
theo xu thế phân công lao động xã hội, góp phần vào việc cụ thể hoá các mục tiêu đào tạo
của trường phổ thông. Về ý nghĩa kinh tế thì công tác hướng nghiệp luôn hướng vào việc
sử dụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước, từ đó, nâng cao năng suất lao

công trách nhiệm quyền hạn giữa trung tâm và các trường phổ thông chưa hợp lý.Việc sử
dụng và khai thác các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) cho HĐGDHN và DNPT còn
ít hiệu quả, chưa tập trung vào những hướng ưu tiên như việc tổ chức hoàn thiện nội dung,
phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện dạy nghề, thiếu thông tin nghề…Công tác
xã hội hoá giáo dục còn nhiều hạn chế và chưa có biện pháp hữu hiệu. Với lý do trên,
chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “ Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
quả hoạt động GDHN và dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học tại trung tâm
KTTH – HN tỉnh Thái Nguyên”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở phân tích lý luận và tìm hiểu thực trạng việc triển khai hoạt động
của các trung tâm KTTH – HN tỉnh Thái Nguyên, đề xuất một số biện pháp
quản lý nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN và dạy NPT trong
các trung tâm KTTH – HN trên địa bàn tỉnh TN.
3. KHÁCH THỂ, ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý hoạt động GDHN và DNPT bậc
trung học tại trung tâm KTTH – HN tỉnh Thái Nguyên
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu: Là các biện pháp quản lý hoạt động GDHN và
DNPT tại trung tâm KTTH – HN tỉnh Thái Nguyên
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Hiệu quả của hoạt động GDHN và dạy NPT cho học sinh bậc học phổ thông
tại trung tâm KTTH – HN tỉnh Thái Nguyên, có thể được nâng cao nếu như thực
hiện một cách đồng bộ một số biện pháp quản lý sau:
1. Tích cực tuyên truyền về hoạt động GDHN và dạy NPT, nhằm thay đổi
nhận thức của cấp quản lý, giáo viên, học sinh và dư luận xã hội
2, Hoàn thiện cấu trúc tổ chức và xác lập cơ chế phối hợp giữa trung tâm
KTTH - HN và các trường phổ thông trong công tác quản lý hoạt động GDHN
và dạy NPT cho học sinh phổ thông.
3. Tổ chức phân công lao động hợp lý, củng cố và phát triển đội ngũ.

8.1.1. Giai đoạn 1: Nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin
8.1.2. Giai đoạn 2: Viết và thông qua đề cương chi tiết
8.1.3. Giai đoạn 3: Hoàn thiện và báo cáo bảo vệ
8.2. Lực lƣợng liên kết nghiên cứu
8.2.1. Các trung tâm KTTH –HN trong tỉnh
8.2.2. Các trường phổ thông đóng trên địa bàn thành phố
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
8.2.3. Các đoàn thể, cộng đồng xã hội
8.2.4. Chuyên gia của các cơ sở giáo dục trong tỉnh.

Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HĐGDHN VÀ DNPT CHO HỌC
SINH TRUNG HỌC TẠI CÁC TRUNG TÂM KTTH – HN
1.1. NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ HƢỚNG NGHIỆP VÀ DẠY NGHỀ PHỔ THÔNG
1.1.1. Ở nƣớc ngoài
1.1.1.1. Trong hệ thống giáo dục, giáo dục trung học phổ thông là giai đoạn
học tập chính quy cuối cùng của đa phần thanh thiếu niên học sinh. Giáo dục
trung học phổ thông không chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồn cho giáo dục đại học
mà chủ yếu là chuẩn bị cho học sinh – những con người trưởng thành-bước vào
cuộc sống lao động xã hội. Xuất phát từ thực tế đó, thanh thiếu niên học sinh
phổ thông dù học lên đại học hay sớm đi vào cuộc sống lao động nghề nghiệp,
họ đều phải được trang bị những tri thức khoa học, kĩ năng kĩ thuật, kĩ năng lao
động nghề nghiệp, năng lực sáng tạo, ý thức tổ chức kỉ luật và những phát minh
nhằm thiết thực góp phần đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia.
Trên thực tế, khi khoa học – kĩ thuật phát triển, quy trình công nghệ thay
đổi, đặc biệt là trong thời kì bùng nổ thông tin, với xu thế hội nhập và toàn cầu
hoá như hiện nay, người lao động thường không có khả năng để thích ứng kịp
thời. Trong khi đó, số học sinh phổ thông khi rời ghế nhà trường với vốn kiến

nguyên tắc hướng nghiệp, để chuẩn bị cho học sinh đi vào trường đào tạo nghề
tuỳ theo trình độ học tập của mỗi em. Trẻ được phân loại ngay từ bậc Tiểu học,
sau lớp 5, căn cứ vào thành tích học tập của từng em, trường phân loại học sinh
thành hai loại: Loại học hết lớp 10 rồi đi học công nhân lành nghề tại các trung
tâm dạy nghề và loại học hết trung học (lớp 12). Đến đây lại phân loại lần nữa,
chỉ cho những học sinh học khá lên lớp 13 thi lấy bằng tú tài toàn phần và vào
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
học các trường đại học, số còn lại sẽ vào học các cơ sở đào tạo nghề Trung cấp.
Sự phân loại sơ bộ được tiến hành từ khi học hết tiểu học, nhưng sẽ phúc tra đưa
ra quyết định chính xác vào sau lớp 9. Tới lớp 10, ngay từ học kì 1, giáo viên
chủ nhiệm liên hệ với nhiều cơ sở hướng nghiệp, những trường dạy nghề của
các công ty tư nhân và nhà nước để đưa học sinh đến tìm hiểu nghề nghiệp mình
muốn học. Những học sinh có nhu cầu hay năng lực học lên đại học buộc phải
học lực khá, và từ khi lớp 11 được vào học tại trường phổ thông hệ học lên đại
học. Xu hướng hiện đại hoá ở đây là tạo điều kiện cho học sinh có thể học nghề
ngay khi đang học phổ thông, cung cấp hệ thống và kiến thức khoa học gắn với
hướng đào tạo nghề một cách linh hoạt, giảm bớt tính hàn lâm của bậc học trung
học hoàn chỉnh.
1.1.1.3. Vấn đề GDHN và lập nghiệp ở các trường học Úc không chỉ dạy lý
thuyết đơn thuần, mà còn cung cấp cho học sinh một khả năng chuyển đổi thật
nhanh và có sự bình đẳng trong tất cả các học sinh, làm cho học sinh vừa có kĩ
năng lao động, vừa có tri thức. Việc giáo dục này giúp cho học sinh biết tự ra
được những quyết định về việc lựa chọn có tính hướng nghiệp, lập nghiệp trong
và sau khi học ở trường và tham gia có hiệu quả vào đời sống lao động.
1.1.1.4. Magumi Nishino ở Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản đã nghiên
cứu vấn đề bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết
cho học sinh phổ thông.Theo tác giả, học sinh trung học phải được: “ Bồi dưỡng
tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái
độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn nghề tương lai phù hợp

kỉ XXI của UNESCO khi phân tích “ Những trụ cột của giáo dục” đã viết: “ Học
tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại ", đó là 4 trụ cột
mà Uỷ ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục [28, 8]. Theo
tác giả vấn đề GDHN và học nghề của học sinh phổ thông là một căn bản không
thể thiếu được trong giáo dục. Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp
song song với việc học tập tri thức.
Nhìn chung những công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học, lao động
chuẩn bị nghề nghiệp ở nước ngoài đều chú ý việc cải cách mục tiêu, nội dung,
phương pháp, cơ sở vật chất- kĩ thuật nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lao động
chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông, tức là đề cập tới hoạt động
GDHN và dạy nghề phổ thông. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đó còn
chưa chú ý tới cách tổ chức, quản lý hoạt động GDHN và dạy nghề phổ thông.
1.1.2. Ở trong nƣớc
1.1.2.1. Ở nước ta, trước hết phải kể đến chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta,
rất coi trọng và vận dụng sáng tạo quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác – Lê
nin nhằm đào tạo lớp người lao động mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra:
“ Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động; Lí luận đi với
thực hành; Cần cù đi với tiết kiệm” [1, 55].
1.1.2.2. Nghị quyết TW2 (trung ương) khoá VIII đã đề ra nhiệm vụ của
ngành giáo dục cần mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật tổng hợp
– hướng nghiệp. Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã ghi
rõ: “ Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn
bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”. Tới Đại hội X,
Đảng ta đã xác định đổi mới toàn diện giáo dục - đào tạo, yêu cầu dạy học phân
ban và tự chọn ở cấp THPT trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân
luồng từ THCS.

sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh đây sẽ là
một nguyên tắc rất cơ bản” [20, 40].
- Mối quan hệ giữa học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp đã được tác
giả Hoàng Đức làm sáng tỏ: “ Trong cơ chế đổi mới hiện nay vấn đề chuẩn bị
nghề nghiệp là một yêu cầu nóng bỏng của thực tế xã hội”. Học vấn phổ thông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
và học vấn nghề nghiệp có phần giao thoa ngày càng rõ theo hướng mô đun hoá
ở mức phổ thông. Phần giao thoa đó ngày càng lớn nghĩa là công tác GDHN và
dạy nghề phổ thông được tiến hành sớm và phát triển mạnh, đó là cơ sở cho việc
định hướng và phân luồng học sinh, chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho
sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Kết quả nghiên cứu của tác giả hoàn toàn phù hợp với xu thế đổi mới của
giáo dục trung học hiện nay, giáo dục trung học đang ngày càng không còn là
nền giáo dục cho một số ít người như vào đầu thế kỷ XX, giáo dục trung học
ngày nay không phải chỉ để cho người học lên, mà còn chuẩn bị cho thanh niên
đi vào thế giới lao động nghề nghiệp, đặc biệt cho những ai chỉ có thể học hết
bậc trung học.
- Công trình nghiên cứu của GS - TSKH Nguyễn Văn Hộ đề cập vấn đề: “
Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [24].
Trong đó tác giả xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp và dạy NPT
trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức
phối hợp giữa nhà trường, các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất hướng nghiệp
– dạy nghề, các lực lượng khác tham gia vào công tác GDHN và dạy NPT cho

1.2. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1. Hƣớng nghiệp
Bước vào bậc cuối của nhà trường phổ thông, tuổi trẻ học đường thường có
những hoài bão lớn lao gắn liền với cuộc sống tương lai của họ. Không ít những
câu hỏi đặt ra đại loại như: “ mình sẽ làm gì”, “ mình chọn nghề gì”, “ nghề nào
hay nhất” luôn xuất hiện trong suy nghĩ của tuổi trẻ. Có những em trả lời
những câu hỏi trên thì không khó lắm, nhưng có nhiều em không biết trả lời thế
nào nên còn đắn đo, dù các em đã trả lời được hay là chưa trả lời được câu hỏi
trên nhưng chung quy lại việc trả lời đó chưa có cơ sở, chỉ mang tính chủ quan.
Đây là một vấn đề đặt ra cho ngành giáo dục và toàn xã hội cần quan tâm.
Các chuyên gia tâm lý học, kinh tế học, chính trị học ở nước ngoài cũng
như ở trong nước đã nghiên cứu về vấn đề này và cho rằng: để giúp các em
trong việc chọn nghề cần làm tốt công tác hướng nghiệp cho các em, dưới nhiều
hình thức khác nhau và có thể hiểu theo hai cách sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
1.2.1.1. Hướng nghiệp trên bình diện xã hội.
Như chúng ta đều biết các nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường ,
các cơ quan quản lý kinh tế và quản lý nhà nước, ngay cả các cơ quan đoàn thể
chính trị và xã hội, đến các trường học, đều cần đến những con người có năng
lực và những phẩm chất phù hợp. Để chọn được người theo đúng những tiêu
chuẩn đã định, những cơ quan, tổ chức nói trên có nhiệm vụ làm cho thế hệ trẻ
hiểu được nội dung, tính chất, đặc điểm, điều kiện công tác của mình, giúp cho
họ hiểu được những nghề nghiệp, chuyên môn mà mình cần tuyển chọn. Như
vậy công tác tuyên truyền, vận động cho nghề nghiệp mà các cơ quan xí nghiệp
cần tuyển nhân lực là vô cùng cần thiết, đó là cách thức “ hướng nghiệp cho
mình”, đều xuất phát từ lợi ích và sự phát triển của mình. Chính vì vậy nhiều
nhà máy, xí nghiệp đã trang bị máy móc mới cho xưởng trường, nhằm giúp cho
học sinh sớm làm quen với những phương tiện kĩ thuật mới để sau này, nếu
tuyển đội ngũ học sinh vào nhà máy, các em đã là người nắm được công cụ lao

1.2.1.2. Hướng nghiệp trên bình diện phổ thông.
Trong trường phổ thông, hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của
thầy và hoạt động học của trò. Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng
nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục
đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề
nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản
thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội.
Như vậy, hướng nghiệp trong trường phổ thông được thể hiện như một hệ
thống tác động sư phạm, nhằm làm cho các em học sinh chọn được nghề tương
lai một cách hợp lý.
Với cách hiểu đó, hướng nghiệp là nhiệm vụ của bất kì thành viên nào trong
tập thể sư phạm như: Hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, tổ
chức Đoàn thanh niên Công sản Hồ Chí Minh Vấn đề là ở chỗ phải có sự phân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
công rõ ràng. Về phía học sinh, hướng nghiệp là hình thức học tập của mình,
thông qua hoạt động này, mỗi học sinh phải lĩnh hội được những thông tin về
nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt là nghề ở địa phương, phải nắm được hệ
thống các yêu cầu của từng nghề mà mình chọn, phải có kĩ năng tối thiểu, phẩm
chất tâm lý phù hợp với yêu cầu tối thiểu của nghề.
Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông là một bộ phận của công tác
hướng nghiệp ngoài xã hội, nhà trường phổ thông sẽ giúp các em đi vào các
nghề trong xã hội. Vì vậy, công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông phải
thống nhất với công tác hướng nghiệp ở ngoài xã hội, hai bộ phận này có quan
hệ hết sức mật thiết với nhau, bổ sung lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau.
Một cách tổng quát: “ Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên
cơ sở tâm lí học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh
chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối thiểu nguyện
vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và tâm sinh lý cá nhân, nhằm
mục đích phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có

nhân (nhu cầu bản thân), trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động
đòi hỏi để thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân.
Nghề luôn là cơ sở giúp cho con người có “nghiệp” (việc làm) và từ đó tạo
ra sản phẩm thoả nãm nhu cầu cá nhân cũng như nhu cầu xã hội. Còn nếu như
một người nào đó chỉ có nghề mà không có nghiệp, người đó được coi là người
thất nghiệp (ví dụ: sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa tìm được việc làm).
Ở đây, ta cần phân biệt khái niệm nghề và chuyên môn nghề. Chuyên môn
nghề: Là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp, con người bằng năng lực thể chất
và tinh thần của mình để làm ra những sản phẩm vật chất và giá trị tinh thần,
điều đó có nghĩa là trong mỗi nghề có nhiều chuyên môn nghề. Ví dụ, nghề dạy
học có các chuyên môn như: Toán, lý, hoá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Như vậy, nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ có đào
tạo, con người có được những tri thức, những kĩ năng để làm ra các sản phẩm vật
chất và tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của bản thân và xã hội.
1.2.2.2. Nghề phổ thông
Hiểu theo nghĩa thông thường, nghề phổ thông là những nghề phổ biến,
thông dụng đang cần phát triển ở địa phương, nắm được nghề này học sinh có
thể tự tạo việc làm, dễ sử dụng trong các thành phần kinh tế tại chỗ của cộng
đồng dân cư.
Là những nghề có kĩ thuật tương đối đơn giản, mọi người đều có thể học
được và phục vụ ngay cho cuộc sống của họ, quá trình dạy nghề không đòi hỏi
phải có trang thiết bị phức tạp.
Thời gian đào tạo nghề ngắn, tối thiểu là 90 tiết tối đa đến 180 tiết.
Nguyên liệu dùng cho việc dạy nghề dễ kiếm, phù hợp với điều kiện kinh
tế, khả năng đầu tư của địa phương.

1.2.2.3. Nghề nghiệp
Ngày nay ở Việt Nam, nhất là ở các khu vực đô thị và đô thị hoá, khái niệm

Mối quan hệ giữa chủ thể tư vấn và đối tượng tư vấn là mối quan hệ tác
động, cải biến, trong đó chủ thể tư vấn ở vi trí tạo nên sự tác động nhờ việc
truyền tải thông tin, phân tích, khuyên nhủ. Đối tượng tư vấn ở vị trí người được
cải biến nhờ việc tiếp nhận những thông tin chưa rõ ràng hoặc thiếu hụt.
Thông tin tư vấn nghề bao gồm cả những mặt được và chưa được, những
thông tin thuận chiều hoặc ngược chiều của đối tượng thoả mãn nhu cầu kèm theo
những lời khuyên nên hoặc không nên của chủ thể. Trong rất nhiều trường hợp, nội
dung tư vấn nghề lại bao hàm những thông tin phản bác lại suy nghĩ của đối tượng,
vạch rõ những sai trái không thể chấp nhận được trong thực tiễn, hoặc những cản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
trở khiến học sinh không có khả năng thực hiện được ước muốn, đó được gọi là
những thông tin phản bác chỉ đưa ra để đối tượng xem xét và quyết định.
Trong hoạt động tư vấn, ngoài sự tham gia chính yếu của chủ thể và đối
tượng, chúng ta còn thấy sự có mặt của những phương tiện hỗ trợ như phim,
video, tranh ảnh, đôi khi còn có cả những cuộc sát hạch thực tế tại hiện trường
để đối tượng có điều kiện mắt thấy, tai nghe, làm sáng tỏ những nhận định của
bản thân. Hiện nay, có thêm phần mềm hỗ trợ tư vấn nên đã tăng thêm độ chuẩn
xác, đó là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho các chuyên gia tư vấn đưa ra những
lời khuyên tốt nhất cho đối tượng học sinh.
Kết quả tư vấn được biểu thị qua mức độ thông hiểu, chấp nhận hay không
chấp nhận những thông tin và lời khuyên có liên quan tới nhu cầu do đối tượng
đặt ra của chủ thể tư vấn, có thể là sự chuyển biến về nhận thức và cũng có thể
là sự thay đổi những quyết định lớn của cuộc sống. Song, nếu thông tin thiếu
toàn diện, ứng xử của chủ thể chưa thấu tình đạt lý, có thể dẫn đối tượng tư vấn
tới những nhận thức hoặc việc làm vô bổ – sự cải biến diễn ra theo chiều hướng
xấu, kém hiệu quả. Về phía chủ thể, thông qua hoạt động tư vấn, họ sẽ thu nhận
được nhiều thông tin bổ ích về nhu cầu đa dạng của nhiều loại đối tượng tư vấn,
tìm được những kinh nghiệm trong giao tiếp với đối tượng trong những hoàn
cảnh cụ thể, để từ đó nâng cao khả năng và hiệu quả tư vấn.

tư vấn, yêu cầu các nhà tư vấn cần có những hiểu biết về yêu cầu của một số
ngành nghề ở một số trường hoặc ở địa phương, về nhu cầu nhân lực, về năng
lực của học sinh, từ đó cho học sinh lời khuyên nên học nghề gì và ở đâu. Hoặc
là qua những điều giảng dạy của thầy để học sinh tự trả lời được 3 câu hỏi : Em
có muốn học nghề đó không ? Em có khả năng làm nghề đó không ? Và xã hội,
địa phương có cần nghề đó không?
+ Tư vấn chuyên sâu: Loại này phức tạp vì việc tư vấn được tiến hành trên
cơ sở khoa học thực sự, đảm bảo độ chính xác cao nhờ một số máy móc hiện đại
(ví dụ máy đo độ chính xác của các cử động, sự khéo léo vận động của tay, đo
cảm giác, thị giác ), trắc nghiệm thần kinh khí chất và các chỉ số thông minh
Định
hướn
g
nghề
Tuyể
n
chọn
nghề

vấn
nghề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
khác, hiện nay có sử dụng phần mềm hỗ trợ tư vấn của Trung tâm hướng nghiệp
Nghệ An đã được Bộ nghiệm thu và đưa vào xử dụng
Nói khác đi, mục đích của tư vấn nghề là giúp thanh thiếu niên, học sinh
tìm hiểu bản thân, “phát hiện” ra mình, tạo điều kiện cho họ phát huy cao độ
các sở trường đích thực của mình trong thời gian học lao động kĩ thuật, học
nghề tại các Trung tâm KTTH – HN, cũng như trong bước đường hoạt động
nghề nghiệp tương lai.

1.2.4. Dạy nghề
1.2.4.1. Dạy nghề phổ thông
Nghề phổ thông là nghề phổ biến, thông dụng (đang cần phát triển ở địa
phương). Những nghề ấy có kĩ thuật tương đối đơn giản, quá trình dạy nghề
không đòi hỏi thiết bị phức tạp, thời gian đào tạo ngắn, phù hợp với điều kiện
kinh tế, khả năng đầu tư của địa phương, thời gian học nghề ngắn. Nghề phổ
thông được tiến hành dạy trong các trung tâm dạy nghề, trung tâm KTTH – HN,
tại các trường phổ thông và các lớp dạy nghề tư nhân, nhằm trang bị một số kĩ
năng nghề cơ bản để học sinh tiếp tục học lên hoặc vào đời lao động.
Tác giả Phạm Tất Dong quan niệm: “ Ở THCS, học sinh cần được giới
thiệu nghề và những công nghệ mới nhất đang được sử dụng trong nghề. Mặt
khác, các em vẫn được học nghề bởi vì trong số các em này, không ít sẽ đi vào
trường dạy nghề sau khi tốt nghiệp bậc học này”.
Theo tác giả Trần Hồng Quân: “ Dạy nghề cho học sinh phổ thông với tư
cách là dạy tri thức, kĩ năng lao động, hướng nghiệp là chính” [37,44]. Tác giả
Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê đã đề cập tới nhiệm vụ dạy nghề của giáo
dục phổ thông là: “ Giúp học sinh có được năng lực tìm được việc làm, tự tạo
việc làm trong nền kinh tế thị trường, đó là những con người có tri thức văn hoá,
khoa học, có kĩ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ sáng tạo và có kỉ luật, giàu
lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội” [27, 105, 106].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
Vấn đề dạy nghề cho học sinh phổ thông, tác giả Phạm Huy Thụ và Đoàn
Chi đã thể hiện quan điểm của mình: “ Là một hoạt động dạy học, dạy nghề
phổ thông trong nhà trường phổ thông thực hiện một cách có hiệu quả nguyên
lý giáo dục”.
Xuất phát từ những điều phân tích trên, chúng tôi quan niệm rằng NPT là
một môn học nằm trong kế hoạch dạy học, có chương trình dạy nghề và danh
mục nghề cho học sinh phổ thông bậc trung học. Thông qua tổ chức hoạt động
dạy NPT nhằm không chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức, kĩ năng lao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status