Vận dụng một số phương pháp kết hợp sử dụng bản đồ, lược đồ trong dạy học phần địa lý lớp 4 - Pdf 57

MỤC LỤC
Đề mục

Trang

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1

1.1. Lí do chọn đề tài.

1

1.2. Mục đích nghiên cứu.

2

1.3. Đối tượng nghiên cứu.

2

1.4. Phương pháp nghiên cứu.

2

2. PHẦN NỘI DUNG

3

2.1. Cơ sở lí luận




1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Trước năm 2000, cùng với Khoa học, Lịch sử và Địa lí là những môn của
môn Tự nhiên và Xã hội. Trong chương trình năm 2000, Lịch sử và Địa lí là hai
phần của môn Lịch sử & Địa lí nhằm tăng cường sự kết hợp nội dung gần nhau
của hai phần này. Khi tiến hành dạy học môn học này, giáo viên cần tăng cường
kết hợp nội dung của hai phần Lịch sử & Địa lí với nhau bằng nhiều cách. Dạy
học những kiến thúc dùng chung cho cả hai phần Lịch sử & Địa lí như kiến thúc
về bản đồ và sử dụng bản đồ,… trước khi dạy từng phần riêng. Liên hệ những
kiến thức gần nhau giữa hai phần Lịch sử & Địa lí. Ví dụ: Khi dạy học nội dung:
thiên nhiên và hoạt động của con người ở vùng đồng bằng giáo viên liên hệ với
nội dung : Lý do nhà Lý dời đô ra Thăng Long. Thành phố Huế liên hệ với nội
dung bài Kinh thành Huế (ở Lịch sử). Với những bài Lịch sử, Địa lí có nội dung
phản ánh những đặc trưng của địa phương dành thời gian để học sinh có thể thu
được những thông tin cần thiết cho bài học.
Chương trình phần Địa lí nhằm cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ
bản, thiết thực về các hiện tượng và các mối quan hệ địa lí đơn giản trên đất
nước ta và thế giới; bước đầu rèn luyện, hình thành cho học sinh các kĩ năng
như quan sát, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và nhận biết
đúng các sự vật hiện tượng địa lí. Qua đó học sinh biết trình bày lại kết quả học
tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…và vận dụng kiến thức đã học vào thực
tiễn đời sống.
Phần Địa lí lớp 4 là nội dung mới đối với học sinh. Với nhiệm vụ là hình
thành một số biểu tượng, khái niệm, mối quan hệ địa lí đơn giản và bước đầu
hình thành, rèn luyện một số kĩ năng địa lí. Các nội dung này nhằm góp phần
bồi dưỡng và phát triển ở học sinh thái độ, thói quen ham học hỏi, tìm hiểu về
môi trường xung quanh các em. Đồng thời giúp học sinh yêu quý thiên nhiên,
con người, quê hương đất nước; tôn trọng và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, văn

tri thức của các em thì giáo viên cần phải vận dụng linh hoạt các phương pháp
dạy học theo hướng tích cực trong đó có thể lựa chọn và phối hợp nhiều phương
pháp khác nhau. Trong khuôn khổ đề tài này tôi chỉ : “Vận dụng một số
phương pháp kết hợp sử dụng bản đồ, lược đồ, quả địa cầu trong dạy học
phần Địa lí lớp 4” góp một phần nhỏ vào việc thực hiện nâng cao hiệu quả giáo
dục nói chung, nâng cao chất lượng dạy và học Địa lí ở Trường Tiểu Cẩm Sơn
nói riêng.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Từ cách đổi mới phương pháp dạy của thầy góp phần đổi mới cách học
của trò. Phát huy hết khả năng tự phát hiện của học sinh thông qua các hình thức
tổ chức dạy học được áp dụng.
- Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học phần Địa lí lớp 4 theo
hướng phát huy tính cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Quá trình dạy học Địa lí lớp 4 bằng phương pháp dạy học theo hướng
phát huy tính cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Một số biện pháp nhằm giúp học sinh lớp 4 học tốt phần Địa lí lớp 4.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1. Phương pháp điều tra:
- Mục đích để tìm hiểu các phương pháp dạy học của giáo viên; tìm hiểu
tính tích cực nhận thức của học sinh.
1.4.2. Phương pháp thực nghiệm:
- Dạy thực nghiệm tại lớp 4A; lớp kiểm nghiệm đối chứng lớp 4B để đánh
giá hiệu quả nghiên cứu.
1.4.3. Phương pháp trực quan:
- Tìm hiểu nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên, vở bài tập… Trao đổi
với giáo viên - học sinh để tìm hiểu thực trạng kĩ năng bản đồ lược đồ.
2



thể, trực tiếp. Dạy học Địa lí có sử dụng lược đồ, bản đồ luôn đặt học sinh vào
những hoạt động trực tiếp, lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm, dưới sự
hướng dẫn của giáo viên, học sinh thực hành quan sát để rút ra những kiến thức
có liên quan. Bằng các hoạt động ấy học sinh sẽ nắm bắt kiến thức một cách sâu
sắc và vững chắc hơn.
Mặt khác, đặc điểm của học sinh tiểu học là tiềm tàng khả năng phát triển
nên người giáo viên cần sáng tạo, sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp, hình
thức dạy học khác nhau để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mới và ôn tập kiến
thức cũ. Giúp học sinh trải nghiệm và thử thách vì qua trải nghiệm và thử thách
cộng với việc học tập tích cực chủ động, tự giác dựa trên nhu cầu hứng thú, sự
tương tác lẫn nhau trong học tập. Từ đó học sinh hình thành kĩ năng, kĩ xảo để
3


học kiến thức mới và ôn tập kiến thức cũ một cách có hiệu quả. Khác với cách
dạy trước đây, giáo viên là người cung cấp thông tin, còn học sinh là đối tượng
thụ động tiếp nhận thông tin. Dạy học ngày nay là tổ chức để học sinh tìm hiểu,
phát hiện kiến thức và tự giác chiếm lĩnh kiến thức đó. Vì vậy giáo viên phải là
người năng động, sáng tạo và có vốn kiến thức vững, đổi mới phương pháp dạy
học, chuẩn bị bài và đồ dùng dạy học chu đáo.
2.1.2. Một số điều kiện cần có để hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức
từ bản đồ, lược đồ.
2.1.2.1. Về phía giáo viên:
- Xác định kiến thức trọng tâm trong bài mà học sinh cần nắm qua bản đồ,
lược đồ sao cho phù hợp để học sinh có thể sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học,
tự phát hiện ra kiến thức mới.
- Soạn một hệ thống câu hỏi dựa trên lược đồ, bản đồ trong sách giáo
khoa và trình độ học sinh để dẫn dắt học sinh tự khám phá kiến thức. Các câu
hỏi nên thể hiện dưới nhiều hình thức: tự luận, test…
2.1.2.2. Về phía học sinh:

Hiện nay, bản đồ lược đồ và quả địa cầu ở các nhà trường tiểu học còn
thiếu, chưa được đầu tư nhiều. Đồ dùng phục vụ cho việc dạy học Địa lí của
giáo viên và học sinh từ sau năm 2000 đến nay đã xuống cấp, hầu như không sử
dụng được nữa. Bên cạnh đó, các nhà trường Tiểu học không có nhân viên
chuyên trách riêng về thiết bị và đồ dùng dạy học mà chỉ có giáo viên kiêm
nhiệm công tác thư viện trong nhà trường nên việc hướng dẫn cách sử dụng các bản
đồ, lược đồ còn hạn chế.
Phòng thiết bị dạy học có diện tích nhỏ, cơ sở vật chất chưa đảm bảo để
bảo quản các lược đồ, bản đồ được lâu dài.
2.2.2. Thực trạng kĩ năng sử dụng lược đồ, bản đồ, quả địa cầu của học sinh:
Học sinh lớp 4 lần đầu tiên được tiếp thu kiến thúc mới đối với phân môn
Địa lí và được làm việc nhiều với bản đồ, lược đồ, tranh ảnh để tìm hiểu nội
dung của bài học nên kĩ năng chưa thuần thục.
Phần lớn học sinh ham thích tìm hiểu kiến thức địa lí. Nhiều em nắm
vững kiến thức về lí thuyết nhưng thiếu kĩ năng thực hành trên bản đồ, lược đồ.
Các em có rất ít trải nghiệm thực tế. Chính vì vậy việc lĩnh hội kiến thức của học
sinh luôn xa rời thực tiễn, học sinh khó hình thành kĩ năng kĩ xảo thực hành và
tư duy thực tế.
Một bộ phận học sinh chưa hứng thú khi học phân môn Địa lí do hoạt
động trong tiết dạy không sôi nổi, thiếu sự chuẩn bị, chưa tạo được hứng thú và
phát huy được tính tích cực của học sinh.
Chất lượng học sinh không đồng đều, một số em nhận thức chưa cao nên
tiếp thu bài còn chậm. Một số học sinh ít được tiếp xúc về thế giới bên ngoài nên
các em phân tích bảng số liệu, đọc và chỉ bản đồ, lược đồ còn lúng túng, thậm
chí có học sinh chưa biết cách chỉ bản đồ lược đồ.
Việc quan sát các sự vật, hiện tượng địa lí, tìm tòi tư liệu, cách trình bày
kết quả bằng lời nói, cách diễn đạt còn hạn chế. Việc quan sát, phân tích số liệu
trên bản đồ, lược đồ, kĩ năng chỉ bản đồ còn rất lúng túng.
2.2.3. Thực trạng dạy học sử dụng bản đồ, lược đồ trong phần Địa lí lớp
4 của giáo viên:

đồ.
lược đồ.
SL

%

SL

%

SL

%

4A

26

5

19,2%

11

42,2%

10

38,4%


thức trong nội dung từng bài học cụ thể.
2.3. Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học
sinh thông qua việc vận dụng các phương pháp dạy học kết hợp sử dụng
bản đồ, lược đồ trong giờ Địa lí lớp 4.
2.3.1. Các biện pháp dạy học đã áp dụng:
Biện pháp1: Mỗi giáo viên phải xác định rõ mục tiêu bài dạy và lựa chọn
sử dụng bản đồ lược đồ, theo hình thức nào để đạt hiệu quả:
Qua tìm hiểu, dự giờ và trao đổi với đồng nghiệp. Bản thân nhận thấy việc
lựa chọn sử dụng bản đồ, lược đồ trong dạy học phân môn Địa lí lớp 4 nói riêng
6


và môn Lịch sử & Địa lí nói chung ở các trường Tiểu học có thể chia ra các
cách tiến hành như sau:
Cách 1: Giáo viên nêu kiến thức thông qua bản đồ, lược đồ.
- Giáo viên chỉ vị trí của kiến thức cần khai thác.
- Giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng chỉ và nói các kiến thức cần khai
thác.
Cách 2: Giáo viên nêu kiến thức thông qua bản đồ, lược đồ.
- Giáo viên chỉ vị trí của kiến thức cần khai thác.
- Học sinh dựa vào kí hiệu, lược đồ và kênh chữ trong sách giáo khoa để
trả lời câu hỏi.
Cách 3: Học sinh dựa vào sách giáo khoa nêu kiến thức cần khai thác
- Học sinh chỉ vị trí các địa danh…trên lược đồ, bản đồ.
- Giáo viên chỉ lại vị trí các địa danh đó trên bản đồ và chốt kiến thức.
Với các cách tiến hành đã nêu trên, phụ thuộc vào nội dung phần kiến
thức. Tuy mỗi cách đều có ưu điểm nhưng vẫn chưa phát huy tối đa tính tích cực
học tập của học sinh. Các em chỉ quan sát là chủ yếu mà chưa được trực tiếp chủ
động tìm hiểu kiến thức. Ngoài ra, khi tất cả các nhóm cùng làm theo một cách
thì khó có sự so sánh, đối chiếu kết quả đa dạng giữa các tổ nhóm mà chỉ là theo

thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
- Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em
đã tìm hiểu được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn
đề các em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm sau khi quan sát bản đồ, lược đồ đó.
Biện pháp3: Chuẩn bị chu đáo các lược đồ, bản đồ phục vụ cho từng bài
dạy cụ thể:
Khi dạy các bài trong phân môn Địa lí lớp 4, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư
thời gian công sức. Từ việc chuẩn bị bài dạy, nghiên cứu nắm vững kiến thức
trọng tâm đến việc sưu tầm tài liệu, chuẩn bị các lược đồ bản đồ phục vụ cho bài
dạy. Chính vì vậy, đối với những bài Địa lí cần phải sử dụng bản đồ, lược đồ tôi
nghiên cứu rất kỹ xem mình cần chuẩn bị những đồ dùng nào. Cụ thể như sau:
TT

Tên bài

Tiết
(PPCT)

Bản đồ, lược đồ cần chuẩn bị

1

Làm quen với
bản đồ

Tiết 1

Bản đồ địa lí tự nhiên Việt Nam;
bản đồ hành chính Việt Nam, bản
đồ thế giới, bản đồ châu lục, bản đồ

9

Lược đồ một số cây trồng và vật
nuôi chính ở Tây Nguyên; lược đồ
các sông chính ở Tây Nguyên

5

Ôn tập

Tiết 11;
17; 26;
34

Bản đồ địa lí tự nhiên Việt Nam;
lược đồ trống Việt Nam.

6

Đồng bằng Bắc
Bộ; đồng bằng
Nam Bộ; đồng

Tiết 12; Bản đồ địa lí tự nhiên Việt Nam;
20; 27 lược đồ khu trung tâm Đà Lạt; lược
đồ đồng bằng Bắc Bộ; Nam Bộ;
8


bằng duyên hải


Biện pháp4: Áp dụng một số phương pháp dạy học theo hướng phát huy
tính tích cực học tập của học sinh trong phân môn Địa lí 4:
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở
nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực
hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học,
nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là
tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo
phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương
pháp thụ động. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có
những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp,
học ở ngoài lớp... Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để
đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
nâng cao hứng thú cho người học.
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm nội dung của phần Địa lí lớp 4 tôi thấy:
Việc vận dụng các phương pháp nhằm phát huy tính tích học tập của học sinh
vào các bài dạy là rất cần thiết vì nó phù hợp với nội dung kiến thức của môn
học. Bởi vậy tôi đã vận dụng linh hoạt các phương pháp như: Trò chơi học tập;
Hoạt động nhóm; thi thuyết trình…trong các giờ dạy.
2.3.2. Một số hoạt động minh họa cho bài dạy cụ thể:
2.5.1. Ví dụ 1: Bài 1: Làm quen với bản đồ (tiết 1)
Hoạt động 1: Bản đồ
Bước 1: Nêu vấn đề: Giáo viên treo các loại bản đồ.
- GV yêu cầu HS đọc tên các bản đồ treo trên bảng.

9


- Học sinh nêu tên: (bản đồ các châu lục trên thế giới, bản đồ châu Á; bản

- Đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận.
- Các nhóm khác bổ sung và hoàn thiện.

(Hoạt động nhóm thảo luận hình 3 - SGK)
Bước 3: Kết luận:
- Giáo viên kết luận: Một số yếu tố của bản đồ mà các em vừa tìm hiểu là:
tên của bản đồ, phương hướng, tỉ lệ và kí hiệu bản đồ.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định phương hướng bản đồ (trên cùng
- phía Bắc; phía dưới - Nam; phía trái -Tây; phía phải - Đông); tỉ lệ bản đồ
thường được ghi ở góc trái hoặc góc phải của bản đồ; một số kí hiệu có trong
bản đồ thường được in ở góc trái bản đồ; khi chỉ các con sông phải chỉ theo
hướng từ đầu nguồn về cuối nguồn; chỉ một đất nước, tỉnh(hoặc vùng) …cần chỉ
theo giới hạn của đơn vị hành chính đó.
Hoạt động 3: Thực hành vẽ một số kí hiệu bản đồ:
Bước 1: Giáo viên đưa bản đồ trống Việt Nam.
- Họa sinh quan sát bảng chú giải hình 3.
11


- Nêu yêu cầu nhiệm vụ: Vẽ kí hiệu một số đối tượng địa lí như: đường
biên giới quốc gia, núi, sông, thủ đô, thành phố, mỏ.. vào hình.
Bước 2: Học sinh thực hành vẽ và các cặp thi đố nhau để nói tên và ý
nghĩa của kí hiệu đó trên hình.
Bước 3: Tổng kết.

(Học sinh thực hành vẽ các kí hiệu trên lược đồ trống Việt Nam)

(Các nước trên lục địa châu Á)

(Khu vực Đông Nam Á)

13


- Giáo viên gọi học sinh lên bảng chỉ các địa danh: dãy núi Hoàng Liên
Sơn, các cao nguyên ở Tây Nguyên và thành phố Đà Lạt trên bản đồ.
- Gọi 1 học sinh lên điền tên dãy núi Hoàng Liên Sơn, các cao nguyên ở
Tây Nguyên và thành phố Đà Lạt vào lược đồ trống. Học sinh dưới lớp làm vào
phiếu học tập.
Bước 3: Tiểu kết.
Giáo viên quan sát và điều chỉnh nội dung làm việc của học sinh cả lớp và
nhận xét.
Hoạt động 2: Trò chơi: “Em làm hướng dẫn viên du lịch”.
Bước 1: Phổ biến luật chơi, cách chơi.
- Giáo viên tổ chức cho 3 đội chơi. Mỗi đội 5 người. Các đội đổ xúc xắc
để lưạ chọn địa danh hướng dẫn du lịch (Hoàng Liên Sơn; Tây Nguyên; Đà Lạt).
Sau đó chuẩn bị nội dung để giới thiệu trong 3 phút. Cử đại diện 1 người để
trình bày.
- Giáo viên chọn cử ban giám khảo để chấm (5 người).
Bước 2: Thực hành chơi.
- Mỗi đội trình bày trong 1 phút những nội dung cơ bản về địa danh mà
mình đã chuẩn bị theo các gợi ý:
+ Địa hình, khí hậu?
+ Các lễ hội đặc trưng, trang phục, thế mạnh của vùng, thắng cảnh đẹp…?
- Ban giám khảo công bố kết quả và khen thưởng.
Bước 3: Kết luận.
- Học sinh nhắc lại một số kiến thức trọng tâm đã trình bày.
- Giáo viên tóm tắt lại nội dung chính.

(Các hướng dẫn viên du lịch đang giới thiệu các điểm du lịch ở Hoàng Liên Sơn;
Tây Nguyên; Đà Lạt )

+ Nơi nào ở biển nước ta có nhiều đảo nhất?
Bước 3: Kết luận.
- Giáo viên nhắc lại vai trò của biển, đảo đối với sự phát triển kinh tế, an
ninh quốc phòng của nước ta.
Hoạt động 3: Thi thuyết trình về biển, đảo và chủ quyền biển đảo.
Bước 1: Giáo viên nêu vấn đề.
Mỗi tổ chọn cử một học sinh nói tốt nhất và lựa chọn nội dung thuyết
trình (Tầm quan trọng của biển Việt Nam về kinh tế, chính trị, quốc phòng an
ninh; tình hình biển Đông và chủ quyền biển đảo đối với quốc phòng anh
ninh…)
Bước 2: Chuẩn bị nội dung thuyết trình.
- Giáo viên cho các đội thời gian chuẩn bị 5 phút trước khi thuyết trình.
Các em có thể viết ra giấy các nội dung cơ bản để nói.
- Giáo viên gợi ý các điểm cơ bản để học sinh trình bày trọng tâm.
Bước 3: Thi thuyết trình.
- Lần lượt từng học sinh lên thuyết trình (có thể kết hợp chỉ bản đồ, đưa ra
các hình ảnh minh họa).
16


- Học sinh nhận xét về từng bạn. Tuyên dương.

(Thuyết trình về chủ quyền biển đảo Việt Nam )
Bước 4: Tổng kết.
- Giáo viên nhận xét chung và bổ sung kiến thức cho học sinh về biển,
đảo và chủ quyền biển đảo thông qua các hình ảnh minh họa.
(Các hạt động tuyên truyền về biển đảo và chủ quyền biển đảo Việt Nam)

(Giàn khoan 981 và tàu Trung Quốc ngang nhiên đặt trên biển Việt Nam
năm 2014)

hình thức tổ chức dạy học phù hợp để phát huy tính tích cực tự giác của học sinh.
2.4.2. Đối với học sinh:
Sự chuyển biến đáng kể đối với các em học sinh khi học các tiết Địa lí đó
là sự kích thích, hứng thú. Các em tiếp thu bài một cách dễ dàng và ghi nhớ kiến
thức tốt hơn. Học sinh được tri giác trực tiếp các đối tượng địa lí qua đó phát
18


triển năng lực nhận thức của các em. Đặc biệt là khả năng quan sát tư duy giúp
học sinh hình thành cảm giác thẩm mỹ được hấp dẫn bởi cái đẹp, cái đơn giản,
tính chính xác của thông tin thu được từ bản đồ lược đồ ... Việc sử dụng bản đồ
lược đồ không những làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học
tập bộ môn, mà còn là động lực thúc đẩy học sinh yêu thích tìm hiểu các địa
danh trên đất nước Việt Nam.
Trong giờ học các em đã có hứng thú học tập và làm việc tích cực. Các
em biết tư duy, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn cuộc sống. Tiết học Địa lí không
còn là tiết học khó và nhàm chán nữa mà trở nên hấp dẫn và thu hút học sinh hơn.
Tôi đã tiến hành khảo sát học sinh và nhận được kết quả như sau:

Lớp

Số học sinh nắm
chắc lí thuyết và
Tổng
sử dụng thành
số học
thạo bản đồ lược
sinh
đồ.
SL

23%

2

7,6%

26

13

50,2%

9

34,6%

4

15,2%

Lớp 4B
(Lớp đối
chứng)

Bảng kết quả trên cho thấy: Số học sinh nắm chắc lí thuyết và sử dụng
thành thạo bản đồ lược đồ đã có tiến bộ rõ rệt. Từ những học sinh chưa có đam
mê hứng thú môn học các em lại ham thích tìm tòi và nắm chắc lí thuyết từ đó
biết vận dụng vào thực tiễn cuộc sống. Số học sinh trong lớp nắm được lí thuyết
nhưng chưa sử dụng thành thạo bản đồ lược đồ cũng như hứng thú với các tiết
học có sử dụng bản đồ lược đồ còn lại rất ít. Những học sinh này do chưa tích

bài học, làm chủ kiến thức của mình, để từ đó các em chiếm lĩnh kiến thức và
vận dụng một cách hiệu quả nhất. Đây là cơ hội để tiếp tục phát triển năng lực, kĩ
20


năng quan sát, sử dụng, nhận xét, so sánh, phân tích, tiếp tục phát triển khả năng
diễn đạt và tập suy luận theo mục tiêu của môn địa lí. Từ đó bồi dưỡng cho các
em tình yêu thiên nhiên, đất nước, yêu con người và có ý thức bảo vệ môi trường.
Trên đây là một số biện pháp cơ bản mà bản thân tôi rút ra từ thực tiễn
giảng dạy phân môn Địa lí lớp 4 ở Trường Tiểu học Cẩm Sơn. Tôi thiết nghĩ sẽ
chưa đảm bảo được sự tối ưu trong việc hướng dẫn các em học sinh lĩnh hội tri
thức và không tránh khỏi những thiếu sót hạn chế. Vì vậy, bản thân tôi rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến và bổ sung thêm của các đồng nghiệp.
3.2. Kiến nghị: Không
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Hiệu Trưởng

Cẩm Sơn, ngày 25 tháng 2 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết

Phạm Thị Hương

Phạm Thị Ngọc

TÀI LIỆU THAM KHẢO:



NXB Giáo dục
Việt Nam

5

Tập san Giáo dục hàng tháng ở trường Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tiểu học.

6

Một số tài tiệu khác.
21


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Phạm Thị Ngọc
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường Tiểu học Cẩm Sơn
Cấp đánh giá
STT

Tên đề tài SKKN

xếp loại
(Phòng, Sở, Tỉnh)

1

Phòng GD &
ĐT Cẩm Thủy

Loại C

3

Một số kinh nghiệm
trong công tác chủ
nhiệm ở lớp 4B
Trường Tiểu học Cẩm
Sơn

Phòng GD &
ĐT Cẩm Thủy

Loại C

Năm học
2014-2015
Năm học
2015-2016

ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SKKN CỦA HĐKH NHÀ TRƯỜNG
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
................................................................................................................................


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status