1. MỞ ĐẦU:
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong bài “Nên học sử ta” ghi trên báo “Việt Nam Độc lập” Chủ tịch Hồ
Chí Minh có viết:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà việt Nam”
Đất nước ta, nhân dân Việt Nam ta đã trải qua hàng ngàn năm đấu tranh
dựng nước và giữ nước với nhiều chiến công hiển hách, lẫy lừng. Là một người dân
Việt Nam yêu nước, mỗi chúng ta phải yêu và hiểu biết về lịch sử của đất nước, của
dân tộc mình. Chính vì vậy mà trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Lịch
sử đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục học sinh (HS)
tình yêu quê hương đất nước, tự hào về truyền thống của dân tộc. Lịch sử là chiếc
nôi để các em hiểu biết và hướng về cội nguồn lịch sử dân tộc. Dạy học lịch sử
không chỉ khơi dậy các nhân vật, sự kiện lịch sử mà làm tái hiện lại một cách sống
động lịch sử hào hùng của dân tộc. Lịch sử không thể tái hiện lại trước mắt học
sinh ở trong phòng thí nghiệm hoặc trong thực tiễn mà thông qua việc tiếp xúc với
những chứng cứ vật chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra ở học sinh những hình
ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, tạo ra những
biểu tượng về con người và hoạt động của họ trong bối cảnh thời gian, không gian
xác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể.
Dạy Lịch sử là bước đầu hình thành cho học sinh các kĩ năng quan sát sự
vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác
nhau. Góp phần bồi dưỡng ở học sinh thái độ và thói quen: ham học hỏi, tìm
hiểu để biết, nắm vững kiến thức về Lịch sử dân tộc Việt Nam và thêm yêu mến
tự hào về lịch sử dân tộc. Do vậy, việc khơi dậy niềm say mê, tìm tòi, tiếp thu
kiến thức của học sinh, tạo sự hứng thú trong giờ học lịch sử là nhiệm vụ và mục
đích của người giáo viên (GV) trong sự nghiệp đào tạo thế hệ mới, con người
mới xã hội chủ nghĩa.
Môn Lịch sử nói chung, phân môn Lịch sử lớp 4 bậc Tiểu học nói riêng đều
nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiện tượng,
nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng
theo hướng tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy môn Lịch sử lớp 4.
1.3. Phạm vi nghiên cứu
Học sinh lớp 4.
Phương pháp dạy, học môn Lịch sử ở lớp 4.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích tổng hợp
+ Phương pháp điều tra, quan sát
+ Phương pháp trải nghiệm
+ Phương pháp nghiên cứu, thu thập tài liệu
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
+ Phương pháp đàm thoại – gợi mở.
+ Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận.
2.1.1. Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy học Lịch sử.
Để có giờ dạy Lịch sử thành công, chúng ta cần hiểu rõ về đặc điểm nhận
thức và quá trình tư duy của học sinh. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh là cơ
sở nền móng của việc xây dựng các phương pháp dạy học lịch sử ở Tiểu học.
Lịch sử vốn là một môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì đã diễn ra
trong quá khứ. Chính vì thế, nhiệm vụ dạy học lịch sử là khôi phục lại bức tranh
quá khứ để từ đó rút ra bài học từ quá khứ, vận dụng nó vào trong cuộc sống hiện
tại và tương lai.
2
Do đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học còn non yếu, chưa đầy đủ,
sâu sắc và chưa đạt đến trình độ tư duy khái quát cao nên việc trình bày và giảng
dạy kiến thức phải hết sức đơn giản, nhẹ nhàng, cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ. Đặc
biệt, tư duy của các em luôn dựa trên các hình ảnh lịch sử cụ thể nên khi trình
Anh. Vì vậy nên chưa đầu tư, quan tâm đúng mức vào chất lương dạy và học
cho môn Lịch sử. Tình trạng GV khi dạy thường cắt xén thời gian, nội dung,
chương trình còn HS học Lịch sử chỉ để đối phó vẫn còn xảy ra. Với HS lớp 4,
môn Lịch sử là môn học hoàn toàn mới mẻ đối với chính các em,Trong khi
muốn cho HS yêu thích, hứng thú với môn học lại phụ thuộc rất lớn vào GV,
việc dạy môn Lịch sử không hấp dẫn, khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan
sát, tưởng tượng, khái quát hóa còn yếu, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm
mà các nhân vật, mốc lịch sử, sự kiện lịch sử lại nhiều nên các em chỉ có thể ghi
nhớ một cách máy móc (nhanh nhớ nhưng lại mau quên). Kĩ năng đọc, kể,
tường thuật của các em chưa lưu loát, do đó ảnh hưởng đến thời gian và tiến
trình chung của môn học. Tinh thần hợp tác chưa cao, nhiều em chưa tự tin khi
hợp tác trong nhóm, một số em còn thụ động, các em chưa biết cách theo dõi
kênh chữ kết hợp kênh hình để tìm hiểu nội dung bài. Vì vậy, sau thời gian tiếp
cận với môn học, tôi đã khảo sát HS và thu được kết quả như sau :
Thời gian
Kết quả đạt được
Hoàn thành Tốt
Đầu năm học: 2017- 2018
Tổng số HS 4A(30 em)
3
10
Hoàn thành
19
63,6
Chưa hoàn thành
phải là người yêu thích Lịch sử, phải tự trang bị cho mình kho tàng kiến thức về
lịch sử. Việc bồi đắp kho tàng này không bao giờ là đủ mà phải được thực hiện
liên tục, thường xuyên suốt cuộc đời. Bởi vậy, tôi luôn tìm đọc những cuốn sách
về lịch sử, những câu chuyện, bộ phim lịch sử, các tài liệu trên mạng internet để
hiểu hơn về lịch sử dân tộc cũng như thế giới. Giáo viên có yêu lịch sử thì mới
có thể truyền được tình yêu đó đến học sinh của mình bởi vì ở cấp tiểu học các
em xem giáo viên như thần tượng, như một chuẩn mực để các em hướng đến,
các em bắt chước, làm theo. Với mô hình trường học mới VNEN phương pháp
dạy và học đã có sự thay đổi, học sinh được chủ động học tập, chủ động tìm
hiểu kiến thức song các em chỉ máy móc làm theo câu lệnh của sách chứ thực ra
cũng không hiểu hoặc không nắm được cách học, cách ghi nhớ. Do đó, giáo viên
vẫn là người đóng vai trò rất quan trọng. Lời giảng,lời kể của giáo viên rõ ràng,
truyền cảm sẽ gây được sự chú ý của học sinh.
Giáo viên phải nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, tài liệu, nắm vững các kiến
thức cơ bản cần truyền đạt, đảm bảo hệ thống kiến thức chính xác, từ đó có
phương pháp giảng dạy thích hợp.
Quá trình giảng dạy, bản thân mỗi GV phải hiểu và tái hiện được bức
tranh lịch sử một cách sinh động, chân thực bởi dạy lịch sử phải đảm bảo tính
5
chính xác, nói đúng sự thật, điều đó có tác dụng giáo dục niềm tin và gây hứng
thú học tập, từ đó sẽ phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Vì vậy, tôi
không ngừng nghiên cứu, sưu tầm tài liệu để phục vụ cho việc giảng dạy, khi
dạy phải có dẫn chứng minh họa cụ thể vì “Nói có sách, mách có chứng” thì mới
thể hiện tính chân thực của lịch sử và như thế mới thuyết phục được học sinh.
Mặt khác, thông qua những bài học Lịch sử, tôi luôn khơi dậy những tình cảm
của học sinh đối với nhân vật, sự kiện lịch sử. Qua đó, giáo dục tinh thần đoàn
kết, truyền thống uống nước nhớ nguồn. Trong quá trình giảng dạy, đặc biệt là
chương trình mới VNEN luôn lấy HS làm trung tâm, HS là người chủ động
* Đối với phụ huynh:
6
Thay đổi quan điểm, nhận thức Lịch sử chỉ là môn phụ nên không cần
dành nhiều thời gian mà chỉ tập trung vào những môn cần thiết. Phụ huyngh
phải thấy được trách nhiệm, vai trò của mình trong việc giáo dục tình yêu quê
hương đất nước, lòng tự hào dân tộc từ đó giúp HS hiểu và có trách nhiệm với
môn học, với chính bản thân mình. Ở tiểu học, phụ huynh có thể đọc sách cùng
con, cùng tìm hiểu về các sự kiện, các trận đánh hay nhân vật, triều đại Lịch sử
trên cơ sở định hướng, khắc sâu kiến thức và khơi gợi cho con ham thích tìm
hiểu về Lịch sử nước nhà, từ đó sẽ yêu thích môn học hơn.
2.3.2.Biện pháp 2: Trên sơ sở nắm vững chương trình, nội dung dạy học Lịch
sử lớp 4. Phân loại dạng bài và xác định những phương pháp dạy học phù hợp
Các bài học Lịch sử lớp 4 theo mô hình trường học mới VNEN thì mỗi
bài học là được tích hợp nhiều nội dung, gồm một chuỗi sự kiện, hiện tượng hay
nhân vật lịch sử tiêu biểu của một giai đoạn lịch sử nhất định. Thời lượng dành
cho mỗi bài học thường là 2 đến 3 tiết. Vì vậy, ở mỗi bài sẽ có sự vận dụng
phương pháp dạy học cho từng tiết khác nhau. Do đó, GV cần xác định linh hoạt
phương pháp dạy học cho từng nội dung kiến thức phù hợp.
. a) Dạng bài có nội dung về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, tình
hình kinh tế - chính trị, văn hóa- xã hội.
Gồm các bài dạy: Bài 1: Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng năm
700 TCN đến năm 179 TCN) - Tiết1: Nhà nước Văn Lang; Nhà nước Âu Lạc;
Bài 2: Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập - Tiết1: Nước ta dưới ách
đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc; Bài 4: Nước Đại Việt thời Lý (Từ
năm 1009 đến năm 1226) - (Tiết 1&2); Bài 5: Nước Đại Việt thời Trần. Bài 6:
Nhà Hồ. Bài 8: Trường học, văn thơ, khoa học thời Hậu Lê. Bài 9: Trịnh Nguyễn phân tranh; Công cuộc khẩn hoang và sự phát triển của thành thị.
Sau mỗi bài học HS nắm được:
- Hoàn cảnh, địa phận, thời gian ra đời và tồn tại của nhà nước; tên vua,
hiểu bài học thông qua Phần khởi động (Hoạt động1). Đây là một trong những
điểm mới của chương trình VNEN. Khởi động chính là một hoạt động tạo nên
sự hưng phấn cho tiết học mà các em trực tiếp điều hành và tham gia . Để gây sự
tập trung tôi đã tổ chức cho các em đoán tên địa danh, tên nhân vật Lịch sử, tên
trận đánh đó mang tên gì số câu đố thông qua hình thức trò chơi mà Hội đồng tự
quản tổ chức. Tôi nhận thấy các em rất hào hứng suy luận, tìm hiểu và tích cực
tham gia Từ ý kiến mà học sinh đưa ra tôi vận dụng và dẫn dắt HS đến mục
tiêu, nội dung của bài học. Trong quá trình dạy học, GV cần giúp HS khai thác
tốt bản đồ, lược đồ, mô hình, sa bàn, về các cuộc khởi nghĩa, các trận đánh để
các em hiểu được vì sao lại diễn ra cuộc khởi nghĩa đó, ai là người chỉ huy trong
trận đánh đó, kết quả ra sao và cuộc khởi nghĩa đó có ý nghĩa gì.
Phương pháp dạy học đặc trưng cho dạng bài này là: Kể chuyện,Sắm vai,
quan sát – miêu tả, thảo luận nhóm, vấn đáp, tường thuật.
c) Dạng bài có nội dung ôn tập, tổng kết.
Gồm các bài là nội dung các bài ôn tập kiểm tra: Phiếu Kiểm tra 1; Phiếu
Kiểm tra 2; Phiếu Kiểm tra 3 gắn liền với các lần kiểm tra định kì. Dạng bài này là
nhóm kiến thức tổng hợp các chuỗi kiến thức trong từng giai đoạn, từng triều đại .
Những điều cần lưu ý và phương pháp dạy học.
Loại bài ôn tập, kiểm tra là dạng bài nhằm hệ thống hóa và củng cố những
kiến thức đã học cho học sinh sau mỗi thời kì hay giai đoạn lịch sử nhất định, giúp các
em nắmvững kiến thức cơ bản, nhận thức lịch sử một cách sâu sắc hơn và toàn diện
hơn, Học sinh có ý thức ghi nhớ lịch sử dân tộc đồng thời chuẩn bị tốt cho bài kiểm
tra, thi cử.
Để dạy tốt dạng bài này, mở đầu bài học, tôi thường nêu nhiệm vụ cần giải
quyết rồi tiến hành tổ chức cho học sinh làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Trong quá trình tiến hành bài học, tôi phải thu hút được tất cả học sinh vào các hoạt
động, phát huy cao nhất tính tích cực của mỗi học sinh trong hoạt động nhóm, chia
8
thức hoạt động 4;5.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC :
A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN:
1. Khởi động:
- Đại diện HĐTQ lên tổ chức trò chơi : ''Ta là vua''.
Việc 1: Phổ biến cách chơi:
- Các bạn đứng theo hình chữ U. Khi quản trò đế một vị trí nào đó và chỉ vào
một bạn, lập tức bạn đó sẽ phải hô to: Ta là vua. Hai bạn hai bên sẽ phải nói :
Muôn tâu bệ hạ đồng thời hai tay lồng vào nhau, cúi thấp hơn so với ông vua.
Việc 2: Quản trò nhận xét tinh thần tham gia trò chơi. Báo cáo với cô giáo kết
thúc phần Khởi động.
Việc 3: GV nhận xét chung, giới thiệu bài .Ghi tên bài lên bảng.
9
Lưu ý học sinh nội dung tiết 2: Tiếp từ HĐCB 4 đến hết HĐCB 6.
Điều chỉnh tài liệu HDH:
HĐCB 4bvà 5a : HS làm việc cá nhân trước khi HĐ nhóm hoặc
hoạt động cặp đôi .
Yêu cầu học sinh tiến hành các hoạt động học tập. ( HS thực hiện tìm
hiểu, chia sẻ mục tiêu trong nhóm, ghi tên bài vào vở, thực hiện tìm hiểu kiến
thức theo hướng dẫn của GV)
HĐ4:Tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến của trận Bạch Đằng(năm
938)
Việc 1: GV kể chuyện (minh chứng nội dung bằng hình ảnh minh họa trên máy chiếu).
Việc 2:
- Cá nhân : Đọc thầm đoạn văn kết hợp xem tranh minh họa .
5a.
Việc 1:
- HS đọc thầm nội dung đoạn hội thoại.
Việc 2:
- HS phỏng vấn nhau qua kênh thông tin đoạn hội thoại ( Hỏi – đáp)
5b.
Việc 3:
- HS trao đổi với nhau câu hỏi:
+ Trước và sau chiến thắng Bạch Đằng, tình hình nước ta ra sao?
+ Vì sao nhân dân ta lại xây lăng Ngô Quyền?
Việc 4:
11
- Trưởng ban học tập lên cùng chia sẻ nội dung câu hỏi đã thảo luận trong nhóm
để rút ra ý nghĩa của trận Bạch Đằng đối với lịch sử nước ta.
- Nhận xét, báo cáo với cô giáo kết quả chia sẻ.
- GV nhận xét tổng kết.
Chuyển sang hoạt động 6
HĐ 6: Đọc kĩ và ghi vào vở đoạn văn.
Viêc 1:
- HS đọc thầm đoạn văn nhiều lần
- Ghi nội dung đoạn văn vào vở.
Nhắc nhở học sinh về ôn bài, chuẩn bị bài cho tiết sau.
Ví dụ 2: Một số hoạt động được tổ chức trong tiết ôn tập thông qua hình
thức trò chơi.
Bài ôn tập kiến thức ; Chúng em học được gì qua phần Lịch sử lớp 4. Tôi
sử dụng kết hợp nhiều phương pháp dạy học đã nêu đồng thời củng cố kiến thức
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Đ
I
N
H
B
Ộ
L
Y
T
H
Ư
2.3.3. Biện pháp 3: Sử dụng hiệu quả các phương tiện trực quan, đồ
dùng dạy học kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lịch sử.
Học tập lịch sử là một quá trình nhận thức những điều đã diễn ra trong
quá khứ của xã hội để hiểu về hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Đặc trưng nổi
bật của nhận thức lịch sử là con người không thể tri giác trực tiếp những gì
thuộc về quá khứ. Mặt khác, lịch sử là những sự việc đã diễn ra, là hiện thực
trong quá khứ, là tồn tại khách quan, không thể “phán đoán”, “suy luận”,… để
biết lịch sử. Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên, tất yếu của bộ môn Lịch sử trong nhà
trường là tái tạo lịch sử, tức là cho học sinh tiếp xúc với những chứng cứ vật
chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra ở học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh
động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, tạo ra những biểu tượng về
13
con người và hoạt động của họ trong bối cảnh thời gian, không gian xác định,
trong những điều kiện lịch sử cụ thể.
Vậy tái tạo lịch sử bằng những phương thức nào? Theo tôi, trước hết phải
kể đến lời nói sinh động, giàu hình ảnh của giáo viên, tức là giáo viên dùng
phương pháp tường thuật, miêu tả, kể chuyện, nêu đặc điểm của nhân vật lịch
sử. Có thể nói, chỉ có miêu tả, tường thuật, kể chuyện mới tái hiện được những
biến cố lịch sử quan trọng, đem đến cho học sinh những hứng thú mạnh mẽ. Do
sách giáo khoa viết rất cô đọng, trừu tượng nên tôi đã sử dụng nhiều tư liệu, kết
hợp với đồ dùng trực quan (tranh ảnh, bản đồ) để miêu tả, tường thuật. Mặt
khác, GV phải hiểu và sử dụng các phương tiện trực quan (kênh hình) một cách
hiệu quả nhất. Tuy nhiên, các phương tiện trực quan phục vụ việc dạy học lịch
sử còn nhiều hạn chế. Ví dụ về hệ thống bản đồ, chúng ta có thể khẳng định một
điều rằng hệ thống bản đồ và tranh ảnh lịch sử trong danh mục đồ dùng do Bộ
Giáo dục và đào tạo ban hành không đủ. Các tranh ảnh ở sách giáo khoa màu
sắc còn đơn điệu, thiếu đồng bộ. Trước những khó khăn đó, việc dạy học theo
hướng ứng dụng công nghệ thông tin là một giải pháp tích cực, là hướng đi kịp
khoa học, kĩ thuật của mỗi thời kỳ mới có thể hiểu và khai thác tốt kênh hình phục vụ việc
giảng dạy đạt hiệu quả cao. Việc khai thác tranh ảnh thể hiện các thành tựu văn hoá như điêu
khắc, kiến trúc, các giá trị văn hoá phi vật thể là khó khăn hơn cả với người giáo viên vì đây là
những lĩnh vực không dễ hiểu và càng không dễ chuyển tải đến học sinh, nhất là học sinh tiểu
học. Vì vậy giáo viên cần có sự đầu tư sưu tầm tranh ảnh liên quan đến nội dung bài học,
chuẩn bị chu đáo các tư liệu về các giá trị văn hóa của các nhà nghiên cứu Lịch sử có ở trên
sách báo và trên các trang mạng. Những chứng cứ sát thực không dàn trải. Tất nhiên khi diễn
đạt ý này cho học sinh tiểu học phải bằng thứ ngôn ngữ và cách diễn đạt phù hợp với nhận
thức của các em, đặc biệt phải bằng các hình ảnh tư liệu trực quan.
Ví dụ: Khi dạy bài “Trường học, văn thơ, khoa học thời Hậu Lê” tôi cho
HS quan sát tranh, ảnh về văn miếu Quốc Tử giám, các tấm bia tiến sĩ trong văn
miếu để HS hiểu hơn về trường học và việc tổ chức thi cử ở thời Hậu Lê.
Văn Miếu Quốc Tử Giám
15
Bia tiến sĩ trong Văn Miếu
Loại kênh hình thứ ba là ảnh chân dung nhân vật lịch sử: Đây là ảnh của
các nhân vật lịch sử trong loại bài dạy về nhân vật lịch sử. Số bài dạy về các
nhân vật lịch sử tiêu biểu trong chương trình Lịch sử lớp 4 không nhiều. Cái mới
của loại bài này so với chương trình cũ là dạy nhân vật lịch sử thông qua và gắn
liền với sự kiện lịch sử chứ không thuần tuý kể về nhân vật lịch sử như trong
chương trình cũ. Vì vậy, việc khai thác ảnh chân dung của nhân vật phục vụ bài
dạy phải đảm bảo nguyên tắc: Làm nổi bật tư chất, nhân cách nhân vật nhưng
không tách rời nhân vật lịch sử ra khỏi mối quan hệ với thời đại của nhân vật và
sự kiện lịch sử mà nhân vật có vai trò quyết định.
Ví dụ khi dạy một số bài: “Trường học, văn thơ, khoa học thời Hậu Lê (giới
thiệu chân dung nhân vật Nguyễn Trãi), Phong trào Tây Sơn và Vương triều Tây
tình hình nước ta sau khi Ngô Quyền mất, các em đọc thầm đoạn văn trong sách nắm
chắc nội dung kênh chữ sau đó trao đổi cặp đôi để trả lời câu hỏi: Sau khi Ngô Quyền
mất tình hình nước ta như thế nào ? (Sau khi Ngô Quyền mất triều đình lục đục, tranh
nhau ngai vàng, các thế lực cát cứ địa phương nổi dậy, chia cắt đất nước thành 12
vùng,)...Phải có sự liên kết giữa các triều đại, thời gian nguyên nhân sụp đổ,…để HS
nắm vững kiến thức.
* Phát huy tính tích cực của học sinh trong kĩ năng quan sát và kể, trình
bày lại diễn biến cuộc kháng chiến qua bản đồ, lược đồ, …
Qua 2 bài đầu của môn Lịch sử - Địa lí tôi đã hướng dẫn cho các em kĩ
năng quan sát, mô tả, kể những sự kiện lịch sử trên bản đồ, lược đồ. Vì vậy, một
số bài có bản đồ, lược đồ, tôi sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, để cho học sinh quan
sát. Có thể phóng to để hấp dẫn, thu hút sự chú ý, giúp các em có ấn tượng sâu
sắc và không bị quên lãng khi học xong.
Tôi chuẩn bị hệ thống câu hỏi phù hợp, vừa sức, giúp các em phát huy kĩ
năng nói, khả năng diễn đạt khi kể hoặc trình bày diễn biến theo bản đồ hoặc
lược đồ.
Ví dụ khi dạy bài 3: “Buổi đầu độc lập (từ năm 938 đến năm 1009)”. Khi tìm
hiểu diễn biến của cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược. Để học sinh trình
bày được diễn biến cuộc kháng chiến, tôi xây dựng hệ thống câu hỏi như sau và tổ
chức cho HS thảo luận, trình bày trong nhóm trước khi trình bày cả lớp:
1. Quân Tống xâm lược nước ta vào thời gian nào? Chúng tiến vào nước
ta theo mấy đường, là những đường nào?
17
2. Lê Hoàn chia quân thành mấy cánh và đóng quân ở những đâu để đánh giặc?
3. Kể lại hai trận đánh lớn giữa quân ta và quân Tống?
4. Kết quả của cuộc kháng chiến như thế nào?
Biện pháp này giúp các em hứng thú trong học tập, ghi nhận các mốc thời
gian, sự kiện lịch sử chính xác và nhớ lâu.
vào chỗ chấm. Cách làm này kích thích trí óc tìm kiếm suy luận, tư duy tưởng
tượng của học sinh giúp các em nhớ lâu, nhớ chính xác các sự kiện lịch sử đã
diễn ra. Tạo cho các em ý thức học tập tích cực.
2.3.5. Biện pháp 5: Tạo điều kiện cho học sinh học tập qua việc tiếp
xúc các nguồn sử liệu; qua các hoạt động ngoại khóa.
Lịch sử đã đi qua nhưng không hoàn toàn biến mất mà còn để lại dấu vết của
nó qua kí ức của nhân loại. Ngày nay, ngoài những hình thức dạy học truyền thống, ở
18
những trường học có điều kiện người ta hết sức quan tâm đến các hình thức tổ chức
dạy học tại thực địa, bảo tàng, khu di tích,… Các em sẽ hứng thú hơn với Lịch sử
nước nhà, hình thành thói quen tự giác tìm hiểu Lịch sử quốc gia. Tất cả các kiến thức
ấy sẽ thấm dần vào nhận thức của học sinh một cách tự giác chứ không phải nhồi nhét
một cách thụ động, tiêu cực.Tuy nhiên không phải trường nào, địa phương nào cũng
có hay cũng tổ chức được hoạt động dạy học này nên chúng ta có thể giới thiệu cho
HS những hình ảnh, sự kiện, nhân vật cuộc kháng chiến thông qua tài liệu mà GV tìm
kiếm và tái hiện nó bằng hình ảnh trên máy chiếu.
Ví dụ khi dạy Bài 3: “Buổi đầu độc lập” (Từ năm 938 đến năm 1009)
Tôi đã lồng ghép cho HS xem một thước phim tư liệu về cảnh Thập đạo tướng
quân Lê Hoàn được Thái hậu Dương Vân Nga trao áo long bào, mời lên ngôi
vua và chỉ huy binh sĩ đánh tan quân Tống xâm lược lần thứ nhất năm 981 để
giữ yên bờ cõi. HS đã rất hào hứng lắng nghe, quan sát, hiểu được bối cảnh lên
ngôi của Lê Hoàn (Lê Đại Hành) và thuật lại được diễn biến, kết quả ý nghĩa của
trận đánh của ông). Hoặc khi dạy bài 7: Chiến thắng Chi Lăng và nước Đại Việt
buổi đầu thời Hậu Lê (Thế kỉ XV).Nhân vật lịch sử gắn liền với Lịch sử địa
phương, tôi báo cáo với nhà trường, phối hợp đại diện cha mẹ học sinh và ban
quản lí di tích Lịch sử Lam kinh cho các em đến tham quan bảo tàng Lịch sử để
được nghe và hiểu thêm về Vị vua có công đánh đuổi giặc Minh xâm lược. Hiểu
thêm về Lịch sử địa phương, về mảnh đất Thọ Xuân không chỉ là mảnh đất địa
là môn học “khó nuốt” nữa.
GV đã biết vận dụng các phương pháp dạy học linh hoạt, phù hợp với
từng loại bài, không thiết phải rập khuôn và gói gọn kiến thức trong sách giáo
khoa. Biết cách sử dụng các đồ dùng dạy học môn Lịch sử nhuần nhuyễn, biết
cách khai thác đồ dùng dạy học một cách hiệu quả.
Giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
Đề tài này đã được bản thân tôi vận dụng vào thực tế dạy học và mang lại
kết quả khả quan. Chất lượng dạy học môn Lịch sử được nâng lên đáng kể.
Chất lượng dạy học phân môn Lịch sử lớp 4, năm học 2017 -2018 và hơn
một học kì năm học tiếp theo được nâng lên rõ rệt.Cụ thể: Kết quả được kiểm
chứng qua gần hai năm học với tổng số 30 em.
Thời gian
Kết quả đạt được
2018-2019
Đầu năm học( Khảo sát qua
phiều bài tập.)
Cuối học kì I
Cuối năm
Hoàn thành Tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
3
8
10
26,7
biết, hiểu, tự hào về những trang sử hào hùng của dân tộc là góp phần giữ gìn,
phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc, góp phần xây dựng đất nước
Việt Nam thành một khối đoàn kết vững chắc.
Dạy học lịch sử cần được vận dụng bằng nhiều hình thức sinh động, phong
phú. Lịch sử là cần chính xác tuyệt đối về thời gian, về số liệu minh chứng.
Việc nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử, phải được tiến hành đồng thời
trên tất cả các mặt: từ việc thay đổi nhận thức, suy nghĩ của người dạy và người
học đến việc đổi mới phương pháp dạy học. Các mặt đó có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau bởi vì không có biện pháp nào là vạn năng cả. Người giáo viên cần
khéo léo kết hợp để tạo ra hiệu quả cao cho tiết học.
20
Khảo sátt, kiểm tra và đánh giá là khâu then chốt trong quá trình dạy học.
Đánh giá vừa mang mục đích xác định mức độ năng lực và kiến thức được hình
thành ở học sinh, vừa giúp giáo viên điều chỉnh được hoạt động dạy học của
mình.
3.2. Kiến nghị.
Nhà trường cần đầu tư mua sắm thêm các trang thiết bị, đồ dùng dạy học
phục vụ dạy học phân môn Lịch sử.
Tổ chức thi tìm hiểu Lịch Sử địa phương, danh nhân, sự kiện lịch sử trong
phạm vi nhà trường.
Tổ chức các sân chơi bổ ích cho HS như Rung chuông vàng, Theo dòng
lịch sử, Nhà sử học nhỏ tuổi để các em vừa chơi mà vừa học.
- Tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa để các em được trải nghiệm thực tế.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong việc tìm ra một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4 nhưng sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong hội đồng khoa học các cấp góp ý để đề tài này được hoàn
thiện hơn.