MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC............................................................................................................................................................1
1. MỞ ĐẦU.........................................................................................................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài.....................................................................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu..............................................................................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu:..........................................................................................................................1
1.4. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................................................2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM...........................................................................................................3
2.1. Cơ sở lí luận:...........................................................................................................................................3
2.2. Thực trạng của vấn đề:...........................................................................................................................3
2.2.1. Thực trạng chung:...........................................................................................................................3
2.2.2. Về phía giáo viên:............................................................................................................................4
2.2.3. Về phía học sinh:.............................................................................................................................4
2.3. Các giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện:.....................................................................................5
2.3.1. Tích hợp với giờ dạy văn bản:.........................................................................................................5
2.3.2. Củng cố và khắc sâu kiến thức lí thuyết bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:........................5
2.3.3: Cung cấp kiến thức các yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật cần chú ý khi nghị luận về
thơ:.............................................................................................................................................................9
2.3.4. Các dạng bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ:.......................................................................12
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:..................................................................................................19
3.1. Kết luận:....................................................................................................................................................20
3.2. Kiến nghị:..............................................................................................................................................20
3.2.1. Đối với tổ chuyên môn..................................................................................................................20
3.2.2. Đối với nhà trường........................................................................................................................20
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong nhà trường bộ môn Ngữ văn nói chung, văn nghị luận nói riêng chiếm
một vị trí rất quan trọng, giúp học sinh hình thành và phát triển tư duy, khả năng lập
chương trình chính khóa, chương trình bổ trợ,...
- Nghiên cứu cách thức đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
của đồng nghiệp.
- Nghiên cứu đề tài qua việc các em ôn tập, thực hành tạo lập văn bản nghị
luận văn chương và nhất là thơ.
- Kết quả làm bài văn nghị luận về tác phẩm thơ.
1
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu lý thuyết.
- Quan sát sư phạm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Đối chiếu kết quả bài làm của hai lớp
9A, B trước và sau khi áp dụng của đề tài vào giảng dạy.
- Phương pháp thông kê .
2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lí luận:
Chúng ta đã biết rằng tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật mà người
nghệ sĩ mất bao công sức, bao trải nghiệm để sáng tạo nên. Thơ chỉ thật sự có giá trị
khi mang ý nghĩa đời sống, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm tư, tình cảm nhận thức của
con người.
Đứng trước một tác phẩm văn học, một đoạn thơ hay một bài thơ người đọc
suy nghĩ và bộc lộ tình cảm, cách hiểu, cách đánh giá về tác phẩm ấy chính là quá
trình nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là kiểu bài thuộc nhóm nghị luận văn
chương. Mục đích của kiểu bài này là qua việc tìm hiểu các tín hiệu nghệ thuật (như
yếu còn gạch đầu dòng ở mỗi ý…Sở dĩ chất lượng bài làm văn nghị luận về một
đoạn thơ, bài thơ của học sinh thấp như vậy là do nhiều nguyên nhân.
2.2.2. Về phía giáo viên:
Mặc dù những năm gần đây hầu hết giáo viên đã có ý thức đổi mới phương
pháp dạy học, nhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính chất hình thức chứ chưa đem
lại hiệu quả như mong muốn. Ngay trong những giờ dạy các văn bản thơ - bước
chuẩn bị quan trọng đầu tiên để các em làm tốt bài văn nghị luận nhiều giáo viên
vẫn cứ quen thói cũ dạy theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều : giáo viên giảng
giải, học sinh lắng nghe ghi chép nên giờ học tác phẩm văn chương chưa thu hút
được sự chú ý của học sinh, nhiều em tỏ ra bàng quan, thờ ơ. Mặt khác trong giờ
hướng dẫn rèn luyện cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ hầu hết giáo
viên chỉ hướng dẫn học sinh một cách chung chung theo 2 tiết trong sách giáo khoa
nên học sinh không có kĩ năng vận dụng kiến thức vào để làm bài.
2.2.3. Về phía học sinh:
Phần lớn học sinh hiện nay không ham muốn học tập môn Ngữ văn, nhất là
ngại làm những bài văn. Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan từ xã hội, thì một
phần cũng do làm văn quá khó, lại mất nhiều thời gian. “Công thức” làm văn cho
các em lại không được hình thành cụ thể. Các em không phân biệt rõ các thao tác
nghị luận chính mà mình sử dụng. Càng ngày, kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh
càng kém hơn, và rất hiếm có những bài văn nghị luận có được sức hấp dẫn, thuyết
phục bởi cách lập luận rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ từng luận điểm luận
cứ…Bài viết của các em khi thì sai về yêu cầu thao tác nghị luận, khi lại không sát,
không đúng với nội dung nghị luận của đề bài. Ví dụ, đề bài yêu cầu cảm nhận các
em lại làm như một bài phân tích, thiếu cảm xúc, thái độ tình cảm; đề bài yêu cầu
nghị luận về một nội dung của tác phẩm các em lại nghị luận về toàn bộ tác phẩm
đó; các em không không phân biệt được viết như thế nào là bài bình giảng, viết như
thế nào là bài phân tích một đoạn thơ bài thơ; hoặc khi nghị luận kết hợp giải quyết
một ý kiến nào đó liên quan tới tác phẩm, các em lại quên mất việc giải quyết ý kiến
10.5
9B
35
0
0
7
20
10
28.5
15
42.8
3
8.5
4
Kết quả trên cho thấy nguyên nhân mấu chốt học sinh không biết làm bài
nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là do các em không có kiến thức về bài thơ, đoạn
thơ đó hoặc thiếu kĩ năng làm kiểu bài văn nghị luận này. Vậy nên, việc nâng cao
gắn với sự phân tích, bình giá ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, nội dung cảm xúc của
tác phẩm.
+ Lời văn: phải gợi cảm, thể hiện những rung động chân thành của người
viết.
+ Bố cục: Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần có bố cục rõ ràng, mạch
lạc
5
- Các bước làm bài văn nghị luận về bài thơ, đoạn thơ:
Bước 1: Tìm hiểu đề, tìm ý:
-Tìm hiểu đề: Đây là bước đầu tiên và rất quan trọng nhưng lâu nay nhiều khi
học sinh thường bỏ qua dẫn đến tình trạng làm lệch hướng, lạc thể loại của đề bài
yêu cầu (lạc đề). Vậy chúng ta phải làm thế nào?
+ Giáo viên yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài, tìm và gạch chân những từ
ngữ quan trọng để xem xét, xác định chính xác thể loại nghị luận cần hướng tới?
+ Xác định thể loại, kiểu bài nghị luận? (chú ý từ: suy nghĩ, phân tích, cảm
nhận để thực hiện đúng phương pháp làm bài).
Hiện nay nhiều em học sinh lớp 9 đang băn khoăn lo lắng: “Nhiều lúc em
không biết cái mình đang viết là phân tích hay cảm nhận.” Và nếu thầy cô ra hai đề
“Em hãy phân tích đoạn thơ trên” hoặc cảm nhận của em về đoạn thơ trên” thì em
sẽ làm hoàn toàn giống nhau…Đó là những lời bộc bạch chân thành dễ hiểu. Bởi vì
phân tích và cảm nhận là những thao tác cơ bản của kiểu bài nghị luận văn chương.
Mà trong chương trình Ngữ văn 9 tập 2 có 6 tiết cung cấp kiến thức về nghị luận
văn chương (Nghị luận về thơ và nghị luận về truyện) nhưng lại không có một tiết
học nào dạy về cách làm bài cụ thể ở hai dạng phân tích và cảm nhận. Trong lúc đó,
đề môn ngữ văn thi vào THPT thì ngày càng tăng cường kiểm tra sự vận dụng sáng
tạo kiến thức đã học với hai yêu cầu cụ thể là phân tích và cảm nhận. Theo tôi, để
học sinh tháo gỡ được băn khoăn, viết đúng hai dạng đề này cần phải giúp các em
ví dụ cụ thể để các em cùng xem xét:
Ví dụ: Cho đoạn thơ: Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
(Sang thu, Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, tập hai)
Đề 1: Phân tích đoạn thơ trên
Bài làm: …“Sang thu”, cảnh vật thời tiết thay đổi. Tất cả còn những dấu hiệu mùa
hạ nhưng đang giảm dần mức độ, cường độ, từ gay gắt chuyển hóa thành dịu êm.
Phép tiểu đối giữa nắng và mưa, vẫn còn và đã vơi thể hiện sự phân hóa mong manh
giữa hai mùa. Bởi vì làm sao có thể đong đếm đầy vơi những dấu hiệu của thiên
nhiên lúc giao mùa. Khi đất trời sang thu, những hàng cây lâu năm không còn bất
ngờ trước những tiếng sấm chuyển mùa nữa. “Sấm” và “hàng cây đứng tuổi” là
hình ảnh ẩn dụ. Sấm chỉ những vang động, những sóng gió cuộc đời. Còn “hàng cây
đứng tuổi” chỉ những người từng trải, thường điềm tĩnh chín chắn thêm trước những
vang động sóng gió cuộc đời.
Từ những thay đổi của mùa thu đời người, để rồi ta thấu hiểu rằng “Hãy biết
chấp nhận bình tĩnh sống với lòng tin. Hãy mở rộng lòng mình để yêu thiên nhiên,
đất nước, con người”
Đề 2: Trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ trên.
Bài làm: …“Vẫn là nắng, mưa, sấm chớp, bão giông nhưu mùa hạ, nhưng mức độ
đã khác rồi. Để ý sẽ thấy cái gì cũng bắt đầu đi vào chừng mực, vào thế ổn định. Và
cái “đứng tuổi” của cây là cái chốt cửa để mở sang một thế giới khác: thế giới sang
thu của hồn người. Vẻ chín chắn điềm tĩnh của cây trước sấm sét bão giông hay
chính là sự từng trải chín chắn của con người sau những dâu bể cuộc đời?
Ở cái tuổi ấy, con người một mặt sâu sắc thêm, mặt khác lại khẩn trương gấp
gáp hơn vì quỹ thời gian không còn nhiều nữa.Thì ra, trước mắt việc đi mãi, ngoảnh
đầu thu đến rồi. Bốn mùa luân chuyển vô hình, lặng lẽ; bỗng chợt thu. Đời người
vất vả, tất bật, bộn rộn, lo toan, bỗng chốc thấy mái tóc pha sương: sững sờ mình
cũng đã sang thu.
mình.
Thân bài: Lần lượt trình bày những suy nghĩ, nhận xét, đánh giá về nội dung
và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
Kết bài: Khái quát chung về giá trị và ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ.
Bước 3: Viết bài.
- Khi thực hiện bước này, nhất thiết người viết phải bám sát vào dàn bài đã
lập để triển khai hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng.
-Về hình thức bài văn: bố cục của bài viết, các đoạn trong bài phải được trình
bày theo trình tự lô gic, có sự liên kết chặt chẽ cả nội dung lẫn hình thức, các câu
trong đoạn phải thống nhất với nội dung của đoạn. Các đoạn trong bài được trình
bày theo các cách lập luận (diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, song hành…)
-Về nội dung của bài văn: tùy từng yêu cầu của đề bài và phần dàn ý đã lập
mà chúng ta triển khai các luận điểm rõ ràng. Tránh tình trạng diễn nôm bài thơ.
Bước 4: Đọc và sửa lỗi.
8
Đây là bước cuối cùng khi hoàn thiện bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ.
Người viết phải có thói quen rà soát lại bài làm của mình để sửa lỗi về nội dung lẫn
hình thức.
- Về nội dung, người viết phải soát lại hệ thống luận điểm, luận cứ.
- Về hình thức, người viết phải soát lại bố cục, các đoạn văn, các câu văn diễn
đạt, lỗi chính tả thường mắc phải.
2.3.3: Cung cấp kiến thức các yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật cần chú
ý khi nghị luận về thơ:
Giáo viên chỉ ra cho học sinh nắm được các yếu tố nội dung và hình thức
nghệ thuật mà nhà thơ thường dùng để biểu hiện tình cảm, tư tưởng qua: Ngôn ngữ,
hình ảnh, giọng điệu, biện pháp tu từ, thể thơ, nhan đề…Và những điều lưu ý khi
phân tích các yếu tố ấy. Kiến thức lí luận chung này rất quan trọng giúp học sinh
Trong thực tế không ít em đi phân tích hết các câu, từ nào cũng khen hay dẫn đến
cách suy diễn tán tụng thái quá.
Thần thái của thơ có khi được tập trung trong một từ, một cụm từ, hay một
câu thơ. Giáo viên khi hướng dẫn phân tích cần gợi mở cho học sinh tìm, phát hiện
các “nhãn tự”, các từ “sáng”, từ “đắt” và cảm nhận chính xác nghĩa biểu đạt nội
dung của các từ ngữ ấy.
Ví dụ:
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng...
(Mã Giám Sinh mua Kiều –Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Chỉ bằng từ “tót” Nguyễn Du đã giết chết Mã Giám Sinh, vạch trần bộ mặt
giả dối, bản chất lưu manh, vô học của con buôn họ Mã.
Hay câu thơ:
“Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi lại đi trời xanh thêm”
(Bài thơ tiểu đội xe không kính)
- “chông chênh” là từ láy giàu giá trị gợi tả, gợi cảm. Từ “chông chênh” gợi
tư thế không bằng phẳng, không chắc chắn, gợi sự nguy hiểm của người lính trên
đường lái xe ra tuyền tuyến. Đây là nét vẽ hiện thực được Phạm Tiến Duật tái hiện
lại cuộc đời gian khổ của người lính lái xe Trường Sơn. Trong hoàn cảnh chiến đấu
cam go họ phải ăn - những bữa ăn vội vàng, xoàng xĩnh, phải ngủ - những giấc ngủ
tranh thủ, ngắn ngủi trên xe hay dọc đường đi giữa làn mưa bom bão đạn quân
thù… Song từ: “chông chênh”còn gợi tả phong thái ung dung của người lính. Bom
đạn của quân thù không thể hủy diệt sự sống ngược lại sự sống không chỉ tồn tại mà
còn tồn tại bất diệt trong một tư thế kiêu hãnh, hiên ngang, tư thế của người chiến
thắng của chính nghĩa…
Như vậy, từ ngữ thơ mang thần thái của thi phẩm và tài năng thơ của người
sáng tác.
b. Hình ảnh thơ:
của người nghệ sĩ. Từ đó nhận ra đặc điểm âm hưởng thơ của một thời đại văn học,
một giai đoạn lịch sử dân tộc, cốt cách tâm hồn một lớp thế hệ, một địa phương.
Giọng điệu được thể hiện qua nhịp thơ, ngôn ngữ thơ và nội dung thơ...
Ví dụ: Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang tính khẩu ngữ, đậm chất lính
tráng, khoẻ khoắn, dạt dào sức sống, tinh nghịch vui tươi, giàu suy tưởng.
“Không có kính, ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
(Bài thơ về Tiểu đội xe không kính- Phạm Tiến Duật)
Giọng điệu thơ Thanh Hải tha thiết, trìu mến, trữ tình như hồn phách con người cố
đô:
.....Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
(Mùa Xuân nho nhỏ)
Viễn Phương chân thành, nhẹ nhàng, tinh tế, giàu cảm xúc. Thơ Y Phương
đẹp như một bức tranh thổ cẩm nhiều màu sắc, mang cái hồn cái vía của con người
vùng cao. Bằng Việt trong trẻo, mượt mà thường khai thác những kỉ niệm và mơ
ước của tuổi trẻ nên rất gần gũi với người đọc....
Nắm được đặc điểm giọng điệu của từng nhà thơ, làm rõ đặc điểm đó qua
văn bản đôi khi chỉ cần một khổ thơ cũng đủ minh chứng cho phong cách thơ tác
giả ấy.
d. Biện pháp tu từ:
- Kiến thức lí luận: Muốn làm bài văn phân tích thơ đúng, hay và sâu, học
sinh phải có kiến thức vững về Tiếng việt, nhận biết và cảm được vai trò của biện
pháp tu từ trong việc diễn đạt nội dung thơ.
11
bố cục bài thơ, từ đó lần lượt phân tích từng đoạn cho đến hết bài thơ. Với cách thứ
hai, trước hết cần bao quát được hệ thống ý (cũng có thể hiểu là những biểu hiện,
diễn biến cảm xúc của nhân vật trữ tình) sau đó tập hợp, phân tích những câu thơ có
cùng nội dung cảm xúc ấy.
Quá trình phân tích, cảm nhận bài thơ phải theo trình tự từ nghệ thuật đến nội
dung. Đây là quá trình ngược lại với quá trình sáng tác của nhà thơ, là quá trình
người đọc tự giải mã những tín hiệu ngôn ngữ để tìm đến nội dung tư tưởng, nội
dung cảm xúc của nhà thơ gửi gắm.
+ Trong quá trình phân tích không nhất thiết phải trích dẫn tất cả những câu,
đoạn trong bài thơ (nếu là bài thơ dài) mà các em có thể chọn những câu thơ, đoạn
thơ tiêu biểu để phân tích và làm dẫn chứng minh hoạ.
12
Ví dụ: Em hãy phân tích bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh
Cách làm: Đối với đề này bài làm cần đáp ứng được các yêu cầu sau:
Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm
Hữu Thỉnh thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Ông
là người viết nhiều, viết hay về quê hương và cuộc sống con người, đặc biệt là về
mùa thu. Với tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, Hữu Thỉnh đã phát hiện ra những chuyển
biến rất nhẹ nhàng của đất trời khi mùa thu đến mà với những bộn bề công việc
người ta rất khó có thể nhận ra. Với bài thơ “Sang thu” (sáng tác 1977) Hữu Thỉnh
đã góp vào nền thơ hiện đại Việt Nam một bức tranh thu với những nét mới mẻ,
sáng tạo, đầy ắp hơi thở của sự sống.
Thân bài: Phân tích bài thơ - học sinh có thể đi phân tích theo nhiều cách
khác nhau có thể phân tích theo từng khổ cũng có thể phâm tích theo mạch cảm
xúc.
Khổ 1: Là những dự cảm mùa thu đã về
Phân tích những hình ảnh, hiện tượng thể hiện sự biến chuyển của đất trời lúc
sang thu: tác giả đã cảm nhận qua nhiều yếu tố, bằng nhiều giác quan và qua sự
Phạm vi kiến thức của dạng bài nghị luận này hẹp hơn so với nghị luận về
một bài thơ, nhưng điều đó không có nghĩa là đơn giản, nhẹ hơn so với yêu cầu nghị
luận về một bài thơ. Đây là dạng đề đòi hỏi người viết phải thể hiện được những
kiến thức, khả năng cảm thụ cụ thể của bản thân.
- Khi nghị luận ngoài việc phân tích đánh giá về nội dung và nghệ thuật của
đoạn thơ, cần phải đánh giá được vai trò, vị trí của đoạn thơ trong việc góp phần thể
hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Điều đó cũng có nghĩa là khi phân tích trình bày
cảm nhận về một đoạn thơ không bao giờ được tách rời với tổng thể là cả bài thơ.
- Những đoạn thơ mở đầu tác phẩm thường khơi gợi cảm hứng chủ đạo của
bài thơ. Những đoạn cuối thường kết tinh giá trị, bộc lộ rất rõ thi tứ hoặc thể hiện
tính chất triết lí của bài thơ đó. Việc nắm được ý nghĩa của những vị trí đắc địa này
cũng tạo thuận lợi nhất định cho quá trình làm bài.
- Trình tự cơ bản của bài nghị luận về một đoạn thơ cần lưu ý:
+Mở bài: Giới thiệu khái quát về vị trí, nội dung của đoạn thơ trong toàn bài thơ
(chú ý các thao tác trích dẫn đoạn thơ nếu là đoạn ngắn)
+Thân bài: Tập trung phân tích giá trị về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ
được yêu cầu nghị luận, tránh lạm dụng trích dẫn tư liệu mở rộng quá nhiều.
+Kết bài: đánh giá chung về đoạn thơ trong mối quan hệ với tư tưởng, chủ đề của
tác phẩm.
- Ví dụ:
Phân tích đoạn thơ :
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
Mùa xuân nho nhỏ- Thanh Hải
Thì con chim phải hót chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.
Đó cũng là lẽ sống, là ước nguyện chung của mỗi người dân Việt Nam. Làm
con chim, cành hoa, chỉ nhỏ bé khiêm nhường vậy thôi nhưng đáng quý, đáng trân
trọng biết nhường nào.
- Phân tích lẽ sống cao đẹp của nhà thơ qua đoạn: “Một mùa xuân.....tóc bạc”
Đoạn thơ gieo vào lòng người đọc những cảm xúc trong trẻo, ngọt ngào “Một
mùa xuân nho nhỏ” là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho những dâng hiến của tác giả
với cuộc đời, ấy là cái đẹp, là niềm vui, tài năng mà Thanh Hải muốn góp phần tô
điểm cho mùa xuân đất nước. Sự dâng hiến của ông là tự nguyện, khiêm nhường
“lặng lẽ” và hết mình “tuổi đôi mươi” hay ”khi tóc bạc”. Lẽ sống cao cả ấy của
Thanh Hải đã làm nên triết lí sống cao đẹp.
Kết bài: Khái quát chung
Tóm lại, với thể thơ 5 chữ, nhịp thơ tha thiết sâu lắng, hình ảnh thơ đẹp giàu
ý nghĩa, ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu. Đoạn thơ đã đem đến cho người đọc một bản
tình ca yêu đời, một lẽ sống cao đẹp của nhà thơ sông Hương núi Ngự. Đây cũng là
đoạn thơ đặc sắc kết tinh vẻ đẹp của cả bài thơ tiêu biểu cho hồn
thơ Thanh Hải: nồng nàn, dịu ngọt, thiết tha và sâu lắng.
15
c. Dạng bài nghị luận về một khía cạnh của bài thơ, đoạn thơ:
- Đề nghị luận có thể tập trung ở một phương diện, một khía cạnh cụ thể về
nội dung hay nghệ thuậtcủa bài thơ, đoạn thơ. Ví dụ với bài “Bếp lửa” của Bằng
Việt đề có thể yêu cầu học sinh trình bày cảm nhận về hình ảnh người bà và tình bà
cháu (nội dung), hoặc phân tích ý nghĩa của hình tượng bếp lửa (nghệ thuật). Hay
với bài “Đồng chí” của Chính Hữu, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm
Tiến Duật đề có thể yêu cầu cảm nhận về hình tượng người lính (nội dung), hay bàn
về bút pháp hiện thực, lãng mạn (nghệ thuật).
của nhân vật. Khi miêu tả nhân vật Thuý Vân tác giả miêu tả cụ thể khuôn mặt, lời
nói, làn da, mái tóc. Còn khi miêu tả Kiều lại theo bút pháp chấm phá điểm nhãn,
16
tập trung vào cái thần thái, cái hồn của vẻ đẹp qua đôi mắt, đôi mày “Làn thu thuỷ,
nét xuân sơn” tác giả chú ý lột tả chiều sâu nội tâm nhân vật để làm rõ nét tính cách
nhân vật: con người có trí tuệ thiên bẩm với tâm hồn đa sầu đa cảm.
Kết bài: Đánh giá chung
Đây là đoạn thơ đặc sắc tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả chân dung nhân vật
của Nguyễn Du đáng để cho chúng ta trân trọng và học tập.
Ví dụ 2: Từ bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, hãy viết về những suy tư
của người lính sau chiến tranh.
Cách làm:
Với đề này yêu cầu học sinh chủ yếu nghị luận về phương diện nội dung
(Nhân vật trữ tình trong thơ- người lính sau chiến tranh). Vì vậy bài làm cần làm rõ
được các nội dung sau:
Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm hoặc giới thiệu về hình ảnh người
lính sau chiến tranh.
Thân bài: Phân tích những suy tư của người lính sau chiến tranh:
- Trong quá khứ (thời tuổi thơ và những năm tháng chiến tranh ở rừng) con
người sống gắn bó, giao hoà, thuỷ chung với thiên nhiên đồng, sông, bể, rừng (biểu
tượng cho hình ảnh đất nước bình dị, hiền hậu) tiêu biểu là ánh trăng. Trăng và
người trở thành tri kỉ tưởng như không bao giờ có thể quên được.
- Khi chiến tranh kết thúc, người lính trở về bị hấp dẫn bởi cuộc sống hiện đại
đầy đủ nơi đô thị mà thờ ơ, vô tình với những ngày gian khổ cùng đồng chí đồng
đội-> trăng trở thành người dưng qua đường.
- Trong hoàn cảnh bất ngờ, ánh sáng nhân tạo vụt tắt, bóng tối bao trùm, vầng
trăng xuất hiện khiến con người ngỡ ngàng. Trước người bạn vô tình ấy, trăng
chẳng nói chẳng trách, khiến người lính cảm thấy có cái gì rưng rưng
Cách làm:
Đề bài này có phạm vi yêu cầu tương đối tự do: có thể phân tích, chứng
minh, bình luận, phát biểu cảm nghĩ về vẻ đẹp của anh bộ đội cụ Hồ qua hai bài thơ.
- Về trình tự làm: có thể phân tích từng bài thơ hay kết hợp phân tích cả hai
bài, song phải thể hiện được năng lực phân tích tác phẩm văn học tổng hợp, đánh
giá.
- Về nội dung: Cần làm rõ, thấy được những điểm giống nhau và khác nhau
của hình tượng người lính trong hai bài thơ thuộc hai thời kì khác nhau.
+ Giống nhau: Những người lính trong hai bài thơ đều có chung những phẩm
chất tốt đẹp như lí tưởng cao đẹp vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, có tình cảm
đồng chí cao đẹp, có tinh thần dũng cảm kiên cường…
+ Khác nhau: Những người lính thuộc hai thế hệ khác nhau, ở hai thời kì
khác nhau (thời chống Pháp và thời chống Mĩ), tính cách, phẩm chất có nét khác
nhau, trong môi trường chiến đấu khác nhau.
Anh bộ đội trong bài thơ “Đồng chí”, họ là những người lính xuất thân từ
nông dân bình dị, mộc mạc. Cuộc sống trong thời kì đầu kháng chiến chống Pháp
còn thiếu thốn gian khổ. Nét nổi bật ở những người lính này đó là tình đồng đội,
đồng chí của những con người cùng chung cảnh ngộ, cùng chung lí tưởng chiến
đấu, là tình thương của những con người tri âm tri kỉ.
Anh bộ đội trong bài “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến
Duật là những người lính tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mĩ có học
vấn, có bản lĩnh chiến đấu, có đời sống tình cảm tâm hồn, khí phách, khí thế mới
mang tính thời đại. Họ trẻ trung, sôi nổi hơn và được đặt trong hoàn cảnh chiến đấu
ác liệt hơn.
- Đánh giá:
+ Từ buổi đầu kháng chiến chống Pháp đến cuộc kháng chiến chống Mĩ ác
liệt, hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ đã liên tục phát triển lên một tầm cao mới, rõ nhất là
ở tư thế ung dung, hiên ngang của họ.
18
%
SL
%
SL
%
SL
%
9A
38
8 21.0 12 31.5 16 42.1 2
5.2
0
0
9B
35
5
14.2
10
28.5
18
51.4
2
3.2.2. Đối với nhà trường.
Đề nghị nhà trường trang bị máy tính trên các phòng học đã lắp máy chiếu,
để giáo viên khi dạy có thể sử dụng những thông tin khai thác trực tiếp trên mạng
In-ter-net.
Đề tài này là do bản thân học hỏi, đúc rút kinh nghiệm qua nhiều năm giảng
dạy, nên chắc chắn cũng không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các đồng
nghiệp tham khảo và góp ý chân thành để bản thân tôi rút kinh nghiệm và giảng dạy
tốt hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Nga Sơn, ngày 07 tháng 04 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Nguyễn Thị Xuyến
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập 2 - NXBGD
2. Sách giáo viên Ngữ văn tập 2- NXBGD
2. Thuật ngữ văn học - NXBGD
3. Văn học tuổi trẻ tháng 5 năm 2012
21