I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt
động ngôn ngữ cho học sinh. “Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong
bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.”[1]
Chúng ta biết rằng: “Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá,
khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương
thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người
không thể tiếp thu nền văn minh của loài người. Biết đọc, con người đã nhân khả
năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây, con người biết tìm hiểu, đánh giá cuộc
sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội”[1]. Khi đọc các tác phẩm văn
chương, con người không chỉ được thức tỉnh nhận thức mà còn rung động tình
cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng
tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn. “Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông
tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng các nguồn
thông tin. Đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc để tự học, học cả đời.” [1]
Vì vậy, dạy đọc có một ý nghĩa to lớn ở tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ
bản, đầu tiên đối với mỗi người đi học. Trước hết là trẻ phải học đọc, sau đó trẻ
phải đọc để học. Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao
tiếp và học tập. Nó là công cụ để học tập các môn học khác. Nó tạo ra hứng thú
và động cơ học tập. Nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần
học tập cả đời. Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ
ngôn ngữ cũng như tư duy của người đọc.
Nhiệm vụ của dạy đọc là hình thành năng lực đọc cho học sinh; Giáo dục lòng
ham đọc sách, phương pháp làm việc với sách; Làm giàu kiến thức cho học sinh,
phát triển ngôn ngữ và tư duy, giáo dục tư tưởng, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho
các em. Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng
yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như
biết tư duy có hình ảnh. Như vậy, đọc có một ý nghĩa to lớn còn vì nó bao gồm
các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. Phương pháp dạy học đóng vài
trò quan trọng và quyết định đến hiệu quả của việc dạy học ở tiểu học. Dạy học
- Nâng cao chất lượng phân môn Tập đọc nói riêng, môn Tiếng Việt nói chung,
góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu kỹ các phương pháp dạy học Tập đọc.Tìm các giải pháp chỉ đạo
nhằm nâng cao chất lượng phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4 ở trường Tiểu
học Ngư Lộc 2, huyện Hậu Lộc.
4. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (LêNin). Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tồn tại và phát triển theo sự tồn
tại, phát triển của xã hội loài người. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt,
là phương tiện nhận thức và giao tiếp hữu hiệu nhất của con người. Ngôn ngữ
luôn gắn chặt với tư duy “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy”( Mark).
Tư duy của con người không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ, việc chiếm lĩnh
ngôn ngữ là tiền đề phát triển tư duy. Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có
phương tiện để nhận thức và thể hiện nhận thức của mình, để giao tiếp và hợp tác
với nhau… Nói đến sự phát triển của xã hội không thể không nói đến vai trò đặc
biệt quan trọng của ngôn ngữ.
Mục đích nghiên cứu ngôn ngữ trong nhà trường là giúp học sinh có thể sử
dụng ngôn ngữ làm phương tiện sắc bén để giao tiếp. Ngôn ngữ học nói chung,
Tiếng Việt nói riêng có mối quan hệ mật thiết với phương pháp dạy học. Phương
pháp dạy học dựa trên cơ sở văn học, lý thuyết văn học, trong quá trình học sinh
2
phân tích các tác phẩm, mặc dù chưa học những kiến thức về lý luận văn học mà
chơi. Các cơ quan trong cơ thể chưa phát triển hoàn thiện nên mức độ tập trung
chú ý chưa lâu, chưa bền, ngồi lâu trong một tiết học nếu không thay đổi hình
thức tổ chức dạy học chắc các em sẽ không thấy thoải mái. Bởi vậy, cần có những
biện pháp tổ chức hoạt động dạy và học linh hoạt để các em có cơ hội vừa học,
vừa vận động cơ thể.
Học phân môn Tập đọc, việc đọc và cảm thụ là hai khâu có quan hệ mật
thiết với nhau, gắn bó hỗ trợ đắc lực cho nhau. Cảm thụ tốt giúp cho việc đọc
diễn cảm được tốt. Ngược lại việc đọc diễn cảm giúp cho cảm thụ bài văn thêm
sâu sắc.
2. THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC TẬP ĐỌC Ở TRƯỜNG TIỂU
HỌC NGƯ LỘC 2.
2.1, Nội dung Sách giáo khoa Tiếng Việt 4
3
Trong nội dung phân môn tập đọc lớp 4 gồm có 62 bài tập đọc thuộc các loại
hình văn bản nghệ thuật, báo chí, khoa học, trong đó có 45 bài văn xuôi, 1 vở
kịch và 17 bài thơ. Sách giáo khoa có 2 tập, mỗi tập gồm 5 chủ điểm, mỗi chủ
điểm học trong ba tuần.
Bám sát các chủ điểm, nội dung tập đọc phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau.
Phân môn Tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội
và con người; cung cấp vốn từ, tăng khả năng diễn đạt, trang bị một số hiểu biết
ban đầu về tác phẩm văn học (như đề tài, cốt truyện, nhân vật…) và góp phần rèn
luyện nhân cách cho học sinh.
2.2, Thực trạng việc dạy và học của giáo viên và học sinh
Xuất phát từ các thể loại văn bản khác nhau đòi hỏi người giáo viên cần có
biện pháp dạy học ứng với từng kiểu bài, từng thể loại bài. Để nâng cao chất
lượng dạy các thể loại văn bản tôi tiến hành dự giờ mỗi thể loại một bài xem thực
trạng dạy của giáo viên và phỏng vấn trò chuyện với học sinh:
* Dự giờ tiết dạy: Thể loại Thơ
- Phần tìm hiểu nội dung bài giáo viên sử dụng những câu hỏi ở sách giáo khoa
để khai thác, giáo viên nêu câu hỏi, học sinh trả lời, học sinh khác nhận xét.
* Nhược điểm:
- Học sinh phát âm một số tiếng còn lẫn lộn: tr/ch, l/n, thanh hỏi/ thanh ngã.
- Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, học sinh sẽ dễ nhàm chán. Học sinh
chưa phát huy tính tích cực trong học tập.
- Đa số học sinh ngắt nghỉ chưa hợp lí, khả năng đọc diễn cảm của học sinh chưa
đảm bảo yêu cầu.
- Phần chú giải giáo viên cho học sinh đọc, như thế chỉ là hình thức máy móc,
chắc chắn học sinh sẽ không hiểu sâu nghĩa một số từ mới đó.
* Dự giờ tiết dạy: Thể loại Kịch
Dự giờ: Bài: Ở Vương quốc Tương Lai ( TV 4 - tập 1- trang 70)
- Người dạy: Hoàng Thị Ân - dạy lớp 4B; - Ngày dạy : 18/ 10 / 2016
- Người dự cùng: giáo viên khối 4 - Đơn vị trường tiểu học Ngư Lộc 2
Sau đây là đánh giá nhận xét của tổ chuyên môn:
* Ưu điểm:
- Giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học theo đúng quy trình của phân môn
Tập đọc. Giáo viên đã quan tâm đến luyện phát âm cho học sinh.
- Học sinh được luyện đọc nhiều, đọc đúng tốc độ, biết nghỉ hơi đúng sau dấu
phẩy, dấu chấm.
- Giáo viên đã sử dụng công nghệ thông tin vào bài giảng nên học sinh có hứng
thú trong học tập.
* Nhược điểm:
- Khi đọc, học sinh chưa thể hiện đúng đặc trưng của văn bản kịch, chưa phân
biệt được tên nhân vật và lời nói của nhân vật.
- Học sinh chưa thể hiện được ngữ điệu các câu kể, câu hỏi, câu cảm.
- Việc hướng dẫn luyện đọc của giáo viên còn hạn chế; giọng đọc của giáo viên
chưa tốt.
- Tuy có ứng dụng công nghệ thông tin, xong việc sử dụng còn lúng túng và hiệu
Bảng 1 -Thống kê chất lượng đọc của học sinh khối 4 (Tháng 10/2016):
Lớp
4
Sĩ
số
Chất lượng, mức độ đọc
Đọc vừa đủ nghe, rõ ràng
Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các
120 cụm từ rõ nghĩa, đọc đúng tiếng từ.
Đảm bảo tốc độ đọc
Hiểu nội dung văn bản
Giọng đọc có biểu cảm ( đọc diễn cảm)
Số lượng
Tỷ lệ
84/120
78/120
70%
65%
80/120
65/120
15/120
* Giải pháp 2: Giúp giáo viên nắm vững nội dung, chương trình và mục đích
yêu cầu môn học, tiết học.
Trong dạy học, để tổ chức các hoạt động dạy học tốt thì phải xác định đúng
mục tiêu của phân môn đó, của từng bài cụ thể. Xác định càng rõ ràng, đúng đắn
thì tổ chức các hoạt động sẽ tốt.
Để tổ chức các hoạt động dạy – học phân môn Tập đọc thì trước hết phải bố
trí thời gian nghiên cứu hệ thống chủ điểm trong SGK Tiếng Việt 4 (Tập 1, 2),
nghiên cứu kĩ từng tiết học, sự phân bố các bài tập đọc ở mỗi đơn vị học, phải
xác định rõ bài đó thuộc thể loại văn bản nào (Văn xuôi, thơ, kịch) bài đó thuộc
chủ đề gì? Như vậy sẽ tạo nên một số thuận lợi sau: Xác định rõ được mục đích
yêu cầu đúng của từng bài đó, xác định được giọng đọc của từng kiểu bài và mức
độ yêu cầu học sinh học xong bài đó đọc với giọng như thế nào? Với bài học này
học sinh của lớp mình thường phát âm sai tiếng nào và cần hướng dẫn học sinh
luyện đọc như thế nào cho chuẩn.
Vì vậy, ngay từ đầu năm học, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi thực
hiện việc trao đổi với tổ chuyên môn các nội dung sau:
+ Nắm bắt ý kiến đề xuất hoặc nội dung trao đổi của giáo viên về việc dạy học
theo từng môn học và những vấn đề còn khó khăn vướng mắc, những điều kiện
cần thiết cần được bổ sung.
+ Định hướng chỉ đạo nội dung cần tập trung chú ý để nâng cao chất lượng dạy
học cụ thể của từng môn, trong đó có phân môn Tập đọc.
+ Tổ chức hội thảo để giúp giáo viên xác định đúng nội dung chương trình, mục
đích yêu cầu của môn học, tiết học.
Ví dụ: Bài “Một người chính trực” là bài dạy thuộc tiết thứ 7, tuần 4 , chủ đề “
Măng mọc thẳng ”– Chủ đề thứ hai của TV4 (tập I) và bài này được học trong 1
tiết. Yêu cầu của bài là “học sinh đọc lưu loát, trôi chảy toàn bài. Biết đọc truyện
với giọng kể thong thả, rõ ràng. Đọc phân biệt được lời các nhân vật, thể hiện rõ
sự chính trực, ngay thẳng của Tô Hiến Thành.” [2] Chú ý đọc các từ ngữ mới, các
từ dễ sai do ảnh hưởng phương ngữ như: Long Xưởng, triều Lý, tham tri chính
sự, …. SGV có thể yêu cầu các từ khác như: chính trực, di chiếu, gián nghị đại
dụng trong phần giới thiệu bài, trong phần giảng từ hay trong khi giải nghĩa từ
khó hiểu
Ví dụ: Bài “Nỗi dằn vặt của An-đrây-ca ” (TV4- Tập 1) để giúp học sinh
hiểu nghĩa từ “dằn vật ”. Giáo viên nên sử dụng tranh SGK phóng to để giảng từ
giúp học sinh thấy được sự đau đớn, buồn khổ một cách dai dẳng của An-đrâyca….Ngoài ra việc sử tranh trong SGK ở bài này còn sử dụng vào phần giới thiệu
bài.
Hoặc bài “Trung thu độc lập” (TV4- Tập 1) để giúp học sinh hiểu nghĩa từ
“trăng ngàn” giáo viên sử dụng công nghệ thông tin (chức năng PowerPoint)
tạo hiệu ứng để HS thấy trăng chiếu trên vùng núi rừng thật đẹp, thật sáng và gợi
cho anh chiến sĩ nghĩ tới một tương lai tươi sáng vào ngày mai.
3.2. Hướng dẫn giáo viên lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học
Một tiết học thành công hay không phụ thuộc lớn vào cách thức tổ chức các
hoạt động dạy và học. Học sinh học tập tích cực hay không tùy thuộc vào các
hình thức tổ chức dạy học, việc đổi mới phương pháp dạy học. Trong giờ học,
GV phải linh hoạt trong việc tổ chức các hình thức dạy học, nhưng một hình thức
dạy học không thể thiếu được ở hầu hết các tiết học là học nhóm.
Học trong nhóm có nhiều phẩm chất năng lực khác nhau, đủ trình độ sẽ tạo
điều kiện cho các thành viên trong nhóm hỗ trợ nhau, giúp đỡ nhau, kèm cặp
nhau, bổ sung cho nhau để từng học sinh dần dần hoàn thiện hơn. Chính vì thế
theo tôi trong phân môn Tập đọc cũng như các phân môn khác nên tổ chức phân
nhóm đủ trình độ. Còn nếu muốn dành thời gian cho từng đối tượng, giáo viên
cần phải phân nhóm cùng trình độ.
- Cấu tạo nhóm.
+ Nhóm 2 (cặp): phân kiểu này là hiệu quả vì hai em trao đổi, làm việc được
nhiều lần trong học nhóm.
+ Phân nhóm nhiều học sinh (Học sinh ở hai bàn tạo thành một nhóm hay học
sinh ở một dãy tạo thành nhóm).
8
Hay là bài: “Vẽ về cuộc sống an toàn”( TV4-T2). Đây là một bản tin nên
giáo viên đọc với giọng thông báo tin vui, rõ ràng, rành mạch, tốc độ khá nhanh.
Nhấn giọng những từ ngữ: nâng cao, đông đảo, năm mươi nghìn, phong phú, tươi
tắn, rõ ràng, hồn nhiên, trong sáng, sâu sắc, bất ngờ...
- GV có thể đọc mẫu ( Hoặc học sinh giỏi đọc mẫu) trong các trường hợp:
+ Đọc mẫu toàn bài để gây chú ý cho học sinh.
+ Đọc mẫu âm, vần, tiếng khó.
+ Đọc mẫu câu, đoạn giúp học sinh nhận xét, giải thích tìm ra cách đọc.
Qua việc đọc có biểu cảm sẽ giúp học sinh hứng thú học tập và tự tin hơn khi
đọc.
* Giải pháp 4 - Chỉ đạo giáo viên linh hoạt để rèn các kỹ năng đọc cho học
sinh trong giờ Tập đọc
4.1- Đọc đúng
9
“Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không
có lỗi. Đọc đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần và tiếng. Đọc đúng
bao gồm: Phát âm, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ” [1].
* Cách thực hiện:
- Trước khi lên lớp, GV phải dự kiến các lỗi của học sinh trong lớp dễ mắc.
Những tiếng, từ, những câu khó trong bài để hướng dẫn học sinh luyện đọc. Phần
dự kiến này phải dựa vào thực tế phát âm của học sinh trong lớp:
+ Luyện đọc đúng các tiếng có âm đầu dễ lẫn là l/n, tr/ch như: lo lắng, nói năng,
làm lụng, nũng nịu, trong trẻo, chiêng trống,…
+ Đọc đúng các tiếng có chứa vần khó đọc như: vươn, chặt, lưu luyến, …
+ Đọc đúng các tiếng có thanh ngã và thanh hỏi: quyến rũ, nghĩ ngợi, nghỉ ngơi,
… Phần luyện đọc này phải kết hợp luôn trong phần đọc cá nhân.
Ví dụ 1 : Khi dạy bài: “Dế mèn bênh vực kẻ yếu” ( TV4 – T1)
Cho một học sinh đọc đoạn 2, gọi 1 học sinh khác nhận xét: Phát hiện bạn
10
bạn trong lớp nhận xét, thống nhất cách đọc đúng như sau: “Anh mừng cho các
em vui tết Trung Thu độc lập đầu tiên / và anh mong ước ngày mai đây / những
Tết Trung Thu tươi đẹp hơn nữa/ sẽ đến với các em.//”
Đối với những bài thơ GV hướng dẫn HS ngắt nghỉ cần đúng với nhịp thơ.
Với những bài thơ có thể thơ tự do. GV hướng dẫn HS chú ý tới vần nhịp để ngắt
nghỉ đúng và nhấn giọng.
Ví dụ 5:
“Nếu chúng mình có phép lạ
Hoá trái bom / thành trái ngọt
( Nếu chúng mình có phép lạ - TV4 . T1) [4]
Với những bài thơ lục bát, nhịp thơ phổ biến là 2/4 và 4/4, tuỳ vào từng bài để
ngắt cho phù hợp với âm điệu và nhịp:
Ví dụ 6:
“Yêu nhiều/ nắng nỏ trời xanh
Tre xanh/ không đứng khuất mình bóng râm.
Bão bùng/ thân bọc lấy thân
Tay ôm, tay níu/ tre gần nhau hơn//”
( Tre Việt Nam – TV 4 –T1) [4]
Như vậy, từ một số biện pháp trên đã giúp học sinh dần dần có ý thức tìm hiểu
giọng đọc, cách đọc đúng và tự tin hơn khi đọc.
4.2- Tốc độ đọc
Đối với học sinh tiểu học, “đọc lưu loát là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc
độ, đọc không ê a, ngắc ngứ” [1]. Tốc độ đọc thành tiếng của lớp 4 yêu cầu tối
thiểu là 120 tiếng / phút. “Tốc độ đọc truyện kể phải nhanh hơn đọc thơ trữ tình
vì đọc thơ trữ tình cần thời gian để bộc lộ cảm xúc” [1]. Khi đọc văn bản có nội
dung miêu tả một công việc dồn dập, khẩn trương thì phải đọc nhịp nhanh. Cảm
xúc phấn khởi, tự hào cũng cần thể hiện với tốc độ không quá chậm. Những bài
mẹ đẻ của vùng mình dạy học để chọn từ giải nghĩa cho thích hợp, đồng thời phải
chuẩn bị để sẵn sàng giải đáp cho học sinh về bất cứ từ nào trong bài mà các em
yêu cầu.
* Cách thực hiện:
- Trong quá trình lên lớp, giáo viên phải kết hợp chặt chẽ việc tìm hiểu bài với
luyện đọc. Giáo viên cho học sinh đọc đến đâu tìm hiểu bài đến đó, không tách
rời hai khâu tìm hiểu bài và rèn đọc.
Ví dụ: Khi dạy bài: “Ông Trạng thả diều” (TV4-T1). Sau khi cho 1 học sinh
đọc đoạn 1, cả lớp đọc thầm và trả lời câu hỏi 1 trong sách giáo khoa. Từ đó học
sinh hiểu được nội dung của đoạn là ca ngợi tư chất thông minh của Nguyễn Hiền
qua chi tiết “ Chú học đến đâu hiểu ngay đến đó và có trí nhớ lạ thường.”
Giáo viên yêu cầu cả lớp đọc thầm toàn bài, thảo luận cặp đôi để giải thích vì sao
chú bé Nguyễn Hiền được gọi là “ ông Trạng thả diều”? HS đã đọc, thảo luận và
tìm được câu trả lời :Vì ông đỗ Trạng Nguyên ở tuổi 13, khi vẫn còn là một chú
bé ham thích chơi diều.
- Kết hợp đọc thành tiếng với đọc thầm nhiều lần và được xuyên suốt trong cả tiết
dạy để học sinh hieeru nội dung bài đọc. Khi đọc thầm giáo viên phải giao nhiệm
vụ để kiểm tra kỹ năng đọc hiểu của học sinh.
+ Đọc thầm lần 1: Đọc thầm kết hợp khi đọc nối tiếp từng đoạn.
+ Đọc thầm lần 2 : Đọc thầm kết hợp khi 1 bạn đọc to cả bài.
+ Đọc thầm lần 3: Khi giáo viên đọc diễn cảm.
+ Đọc thầm lần 4 : Kết hợp với đọc thành tiếng khi tìm hiểu bài.
+ Đọc thầm lần 5 : Kết hợp với khi đọc diễn cảm.
Việc đọc thầm kết hợp với việc đọc cá nhân thành tiếng được luyện nhiều lần, kết
hợp nhuần nhuyễn trong một tiết học Tập đọc đã giúp học sinh nắm được nội
dung văn bản và từ đó có cách đọc đúng. Khi học sinh đọc cá nhân toàn bài hoặc
một khổ thơ, một đoạn văn giáo viên đều nhắc cả lớp đọc thầm theo.
- GV giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn,…để học sinh hiểu nội
dung bài đọc. Sử dụng đồ dùng dạy một cách hiệu quả để giúp học sinh hiểu
nghĩa từ, cụm từ.
dung, nghệ thuật của văn bản để có cách đọc đúng và vươn tới mức độ cao hơn
đó là đọc diễn cảm.
4.4- Đọc diễn cảm.
Đọc diễn cảm là một yêu cầu đặt ra khi đọc những câu văn hoặc các yếu tố
của ngôn ngữ nghệ thuật. Đó là việc đọc thể hiện ở kỹ năng làm chủ ngữ điệu,
chỗ ngừng, nghỉ, cường độ…..để biểu đạt đúng ý nghĩa và tình cảm mà tác giả đã
gửi gắm trong bài đọc. Đồng thời thể hiện được sự thông hiểu, cảm thụ của người
13
đọc đối với tác phẩm. Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ cao và chỉ
thực hiện được trên cơ sở đọc đúng và đọc lưu loát.
Cách tiến hành:
- Nội dung của bài đọc đã quy định ngữ điệu của nó nên giáo viên không được
áp đặt sẵn giọng đọc của mỗi bài mà cần khuyến khích học sinh tự tìm hiểu và
nêu cách đọc và đọc trên cơ sở hiểu từ, hiểu nghĩa. Giáo viên chỉ là người lắng
nghe, sửa cách đọc cho từng học sinh. GV cũng luôn khuyến khích, động viên
học sinh cố gắng đọc diễn cảm dưới nhiều hình thức khác nhau để tạo sự hứng
thú cho các em.
Ví dụ: Khi dạy bài: “Trong quán ăn Ba cá bống” ( TV4 – T1).
GV yêu cầu học sinh đọc nối tiếp và tự phát hiện ra giọng đọc toàn bài và giọng
của mỗi nhân vật như sau :
+ Toàn bài: Giọng khá nhanh, bất ngờ, hấp dẫn.
+ Lời người dẫn chuyện: Chậm rãi (phần đầu), nhanh hơn, bất ngờ, li kỳ (phần
sau)
+ Lời Bu-ra-ti-nô:thét, dọa nạt.
+ Lời lão Ba-ra-ba: Lúc đầu hùng hổ, sau ấp úng, khiếp đảm.
+ Lời lão A-li-xa: chậm rãi, ranh mãnh. [3]
Như vậy để hướng dẫn học sinh luyện đọc đúng giọng nhân vật, giáo viên phải
giúp các em tìm hiểu bài tốt để nắm được đặc điểm, tính cách nhân vật.Từ đó
thời gian trong từng tiết dạy. Nếu hoạt động luyện đúng mà học sinh ít phạm lỗi
thì theo tôi nên chuyển bố trí bớt 1-2 phút của hoạt động này cho hoạt động tìm
hiểu bài.
Tổ chức các hoạt động dạy- học theo thiết kế bài học đã lập nhưng chưa có thể
thay đổi một số tình huống sư phạm thì không nhất thiết phải tiến hành y rắp như
thiết kế đã vạch.
Chẳng hạn trong tiết “ Người ăn xin ” trong thiết kế GV dự kiến sẽ luyện đọc
từ khó “ông lão, lọm khọm” (Do ảnh hưởng phương ngữ nên hay phát âm sai
tiếng lão, lọm) nhưng trong quá trình tổ chức dạy- học, các em không phát âm sai
từ đó thì giáo viên không nên dừng lại luyện đọc từ đó nữa mà học sinh lại phát
15
âm sai “ khản đặc” (Lẫn an/ang) thì giáo viên ghi từ đó lên bảng luyện đọc cho
các em.
Như vậy đòi hỏi tài năng sư phạm của giáo viên và vốn kiến thức về ngữ âm
học, ngôn ngữ học của giáo viên phải chắc để hướng dẫn cho học sinh phát âm,
phải chỉ rõ được vị trí của các bộ phận phát âm. Hướng dẫn học sinh cách mở
miệng, lưỡi đặt ở vị trí nào?... Đặc biệt khi phát âm, giáo viên phải đứng ở vị trí
trước lớp, ở giữa để học sinh có thể nhìn cô phát âm… Nếu trong lớp có nhiều
học sinh phát âm chuẩn thì có những từ luyện đọc gọi học sinh đó phát âm mẫu
để cả lớp lắng nghe, quan sát, học tập. Đặc biệt khi cho học sinh đọc nối tiếp
đoạn theo tôi nên chọn học sinh yếu, trung bình đọc bài còn học sinh khá giỏi
cùng cô giáo phát hiện và chữa lỗi nhằm phát huy năng lực của tất cả các đối
tượng học sinh. Tránh trường hợp học sinh này phát âm sai, giáo viên lại luyện
phát âm lỗi sai đó cho học sinh đã phát âm đúng.
Về thao tác giải nghĩa từ theo tôi ngoài các từ đã chú giải trong SGK, giáo
viên cần dự đoán trước một số từ ngữ học sinh có thể hỏi thêm và đoán trước một
số từ ngữ cần giải thích tùy theo từng nội dung bài học đó.
Ví dụ: Trong bài “ Kéo co” phần chú giải chỉ giải nghĩa từ: “Giáp”, nhưng trong
6.1- Mục đích dạy thực nghiệm: Tôi tiến hành thực nghiệm là nhằm mục đích
kiểm nghiệm các biện pháp trên qua thực tiễn giảng dạy, quá trình thực nghiệm là
quá trình áp dụng việc tổ chức các hoạt động dạy- học linh hoạt, sáng tạo trên tiết
dạy Tập đọc lớp 4. Từ đó rút kinh nghiệm và có thể vận dụng trong việc dạy học
phân môn Tập đọc khối lớp 4,5.
6.2- Xây dựng kế hoạch bài học
- Tổ chức cho tổ chuyên môn lập kế hoạch bài học trước khi dạy thực nghiệm.
+ Xác định rõ mục đích yêu cầu bài dạy.
+ Chuẩn bị chu đáo phương tiện, đồ dùng phục vụ tiết dạy.
+ Xác định lỗi phát âm do phương ngữ, tiếng khó, câu khó. (Đó thường là những
tiếng khó, những chỗ ngắt giọng biểu cảm hoặc câu quá dài).
+ Giọng điệu chung của cả bài như thế nào? Đoạn nào cần nhấn mạnh, cần đọc
diễn cảm, cần bộc lộ cảm xúc gì? Bài cần được đọc trong thời gian bao lâu? (Xác
định tốc độ).
+ Trong mỗi kế hoạch bài học cần đặt tình huống sư phạm có thể xảy ra, phải chú
ý đến mọi đối tượng nhằm tích cực hoá việc học tập của học sinh và quan tâm đối
tượng những học sinh có kỹ năng đọc diễn cảm và cảm thụ tốt văn bản.
- Tuỳ vào nội dung bài, kế hoạch bài học cần vạch ra trò chơi phục vụ cho việc
học tiết tập đọc đó, để gây hứng thú cho học sinh, đồng thời giúp học sinh thư
giãn và thông qua trò chơi, học sinh nắm được kiến thức mới hay củng cố kiến
thức đã học… Chính vì thế, cần có dự kiến cụ thể trò chơi có thể sắp xếp ở phần
giới thiệu bài, hay trước phần tìm hiểu bài hay củng cố, dặn dò.
- Thảo luận và thống nhất kế hoạch bài học: Bài: “Điều ước của vua Mi-Đát”
6.3- Dạy thực nghiệm và rút kinh nghiệm
a) Tiến hành dạy mẫu theo kế hoạch bài học đã thiết kế
- Lớp thực nghiệm: Lớp 4B; Phân công GV dạy: Hoàng Thị Ân
- Bài dạy thực nghiệm bài: “Điều ước của vua Mi-Đát ” (Theo thần thoại Hi-Lạp
TV4 - Tập I- Trang 90); Ngày dạy: 02 / 11/ 2016.
- Tiến hành dạy để chỉ đạo điểm, thể hiện giáo án đã thiết kế: Chuẩn bị chu đáo
các thiết bị dạy học, hỗ trợ giáo viên dạy thực nghiệm .
học sinh hiểu ý nghĩa câu chuyện.
+ Hoạt động tiếp nối, tổ chức học sinh tham gia trò chơi: Chọn tiếng “ước” đứng
đầu, đặt tên cho truyện theo nghĩa nhằm giúp học sinh hiểu sâu sắc bài học hơn.
6.4- Chỉ đạo dạy học đại trà.
- Giáo viên tự thiết kế kế hoạch bài học (giáo án) : Mỗi người 2 tiết theo tinh thần
chỉ đạo.
- Tổ chức phân công dự giờ đến từng lớp.
- Sau mỗi tiết dự đều đánh giá, rút kinh nghiệm và chỉ ra những cái đã làm được,
những cái chưa làm được để từ đó điều chỉnh uốn nắn kịp thời theo hướng đổi
mới.
- Trao đổi những kinh nghiệm giảng dạy trong khối, tập trung đi sâu vào phân
từng phân môn, từ phương pháp dạy học tới các hình thức tổ chức của từng bài
dạy với từng kiểu loại văn bản cho phù hợp với đối tượng học sinh.
* Giải pháp 7. Đảm bảo tốt về điều kiện, cơ sở vật chất và sự phối kết hợp
giữa các tổ chức trong nhà trường và địa phương:
7.1.Đảm bảo tốt về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, sách giáo khoa:
- Học sinh phải có đầy đủ sách giáo khoa đây là điều kiện tối thiểu giúp các em
học tốt môn tập đọc.
- Tham mưu với các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương phải đảm bảo phòng
học và bàn ghế đúng qui cách cho học sinh, phòng học đủ về ánh sáng, bàn ghế
phải đảm bảo để tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh học theo nhóm một cách dễ
dàng.
- Đầu tư về trang thiết bị như máy chiếu đa năng, máy vi tính giúp giáo viên sử
dựng có hiệu quả các loại đồ dùng này phù hợp với từng tiết dạy, các tiết dạy sẽ
nhẹ nhàng hơn, sinh động hơn nâng cao chất lượng hiệu quả tiết học.
7. 2- Làm tốt mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, sự quan tâm
của gia đình:
Thông báo và nhận xét kết quả học tập của học sinh tới phụ huynh học sinh
thông qua sổ liên lạc, luôn luôn nắm bắt tình hình học tập ở nhà của học sinh để
có biện pháp phối kết hợp với gia đình bồi dưỡng học sinh.
91,6%
Hiểu nội dung văn bản
118/120
98,3%
Giọng đọc có biểu cảm ( Đọc diễn cảm)
75/120
62,5 %
Qua bảng tổng hợp chất lượng cho thấy chất lượng của khối 4 được tăng lên
rõ rệt so với thời điểm chưa triệt để thực hiện các giải pháp trên. Điều đó chứng
tỏ rằng để năng cao chất lượng dạy- học phân môn Tập đọc lớp 4 cần phải tổ
chức các hoạt động dạy- học linh hoạt, sáng tạo áp dụng vào thực tiễn dạy- học.
Kết quả trên cho thấy, những biện pháp mà tôi đã áp dụng phần nào có giá trị
ứng dụng trong thực tế. Để chất lượng đạt cao, giáo viên phải biết kết hợp các
biện pháp và sử dụng có hiệu quả, có hệ thống kế hoạch đã vạch ra.
Từ kết quả thực nghiệm trên, tôi tiếp tục chỉ đạo nhân rộng các biện pháp trên
ở phân môn Tập đọc lớp 4,5 trong thời gian tiếp theo để nâng cao chất lượng đọc
trong toàn trường.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Để nâng cao chất lượng dạy - học phân môn Tập đọc lớp 4, bản thân tôi rút
ra trong công tác chỉ đạo như sau:
- Nâng cao nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học cho giáo viên. Tăng
cường dự giờ, rút kinh nghiệm và tìm ra phương pháp dạy học có hiệu quả.
- Giáo viên phải coi trọng việc rèn kỹ năng đọc cho học sinh.Trong giờ Tập đọc
không biến giờ Tập đọc thành tiết giảng văn mà chú ý rèn đọc cho học sinh, tạo
cho các em tính tự tin và ý thức rèn đọc. Coi trọng khâu đọc hiểu và đọc diễn
cảm. Không cảm thụ hộ học sinh, không áp đặt cách đọc, giọng đọc mà các em tự
tìm ra cái hay, cái đẹp trong từng văn bản, tự các em tìm ra cách đọc hay nhất phù
hợp với nội dung từng bài.
19
+ Các cụm trường: Tổ chức chuyên đề để tạo điều kiện cho giáo viên được thực
hành dạy và học hỏi, nâng cao tay nghề.
Trên đây là những giải pháp của bản thân trong quá trình chỉ đạo nhằm nâng cao
chất lượng phân môn Tập đọc ở lớp 4. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của các cấp lãnh đạo, của các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn chỉnh
hơn và các giải pháp trên mang tính khả thi hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Hậu Lộc, ngày 10 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác..
Người thực hiện
Phạm Thị Quyên
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. [1] Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học.
Tác giả: Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga; Nhà xuất bản Giáo dục
2. [2] Chuẩn kiến thức kĩ năng môn Tiếng Việt lớp 4
Theo công văn hướng dẫn số 5842/BGD&ĐT ngày 01/9/2011
3.[3] Sách giáo viên Tiếng Việt Lớp 4 - Tập 1 - Nhà xuất bản Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết ( Chủ biên)
4.[4] Sách giáo khoa Tiếng Việt Lớp 4 - Tập 1- Nhà xuất bản Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết ( Chủ biên)
Tên đề tài SKKN
1.
Kinh nghiệm chỉ đạo công tác phổ
cập giáo dục tiểu học.
Chỉ đạo đổi mới PP dạy học kiểu
bài "Lý thuyết từ ngữ” lớp 5
Một số biện pháp bồi dưỡng đội
ngũ giáo viên.
Sở GD&ĐT
Loại A
2002
Sở GD&ĐT
Loại B
2003
Phòng
GD&ĐT
Loại B
2004
9
22
MỤC LỤC
TÊN
MỤC
I.
1
2
3
4
II.
1
2
3
4
III
1
2
NỘI DUNG
TRANG
Phần mở đầu
Lí do chọn đề tài.
Mục đích nghiên cứu.
2
2
3
6
6
7
8
9
15
16
18
19
19
19
20
23