“Một số biện ph¸p n©ng cao chÊt lîng phân môn tập đọc cho học sinh lớp 2”
`
PhẦn thỨ nhẤt
ĐẶT VẤN ĐỀ
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở lý luận:
Chúng ta đã biết môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ vô vùng
quan trọng đó là hình thành 4 kỹ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho học sinh. Tập
đọc có vị trí quan trọng đặc biệt trong chương trình Tiếng Việt ở bậc tiểu học. Biết
đọc là có thêm một công cụ mới để học tập và giao tiếp. Đây là một công cụ mà chỉ
người biết chữ mới có. Biết đọc là nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống
con người. Biết đọc sẽ làm cho kiến thức thêm mở mang, tâm hồn thêm phong phú.
Từ đây con người sẽ có khả năng chế ngự mọi phương tiện văn hoá cơ bản, giúp họ
giao tiếp, thông hiểu tư tưởng tình cảm của người khác. Đặc biệt khi đọc tác phẩm
văn chương, con người không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động
tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành động, sức
mạnh cũng như được bồi dưỡng tâm hồn. Tập đọc đảm nhiệm việc hình thành và
phát triển kỹ năng đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc tiểu
học đầu tiên. Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi
chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi
là đọc hiểu) và đọc diễn cảm.
Việc đọc giúp cho học sinh Tiểu học hiểu biết, tiếp thu nền văn minh của
loài người, làm giàu tâm hồn, tình cảm, gíúp cho học sinh có công cụ học tập, giao
tiếp, giúp cho học sinh phát triển tư duy, hình thành trong học sinh các tính cách tốt
đẹp – lòng yêu cái thiện, cái đẹp. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với
mỗi học sinh. Nó tạo ra hứng thú, động cơ học tập các môn học khác. Vì vậy, việc
dạy đọc có hiệu quả là một trong các yêu cầu cần thiết.
Chính vì vậy môn Tập đọc ở cấp Tiểu học nói chung, ở lớp 2 nói riêng
chiếm vị trí cực kỳ quan trọng. Nó trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên của người
văn học. Giáo viên phải có trách nhiệm giúp học sinh nâng cao cảm xúc, cảm nhận
cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương trong từng bài khi dạy tập đọc. Ở đây
vấn đề chính là làm thế nào để học sinh vẫn thấy được cái hay cái đẹp của bài tập
đọc để các em thích, có hứng thú học và đọc hay được các bài thơ, bài văn.
Nhận thức được tầm quan trọng của môn Tập đọc kết hợp với nhiều năm
giảng dạy ở lớp 2, tôi luôn tìm tòi và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện
Ngêi viÕt: Nguyễn Thị Chiên - Trêng TiÓu häc Tống Trân
2
Mt s bin pháp nâng cao chất lợng phõn mụn tp c cho hc sinh lp 2
phỏp nõng cao cht lng phõn mụn tp c cho hc sinh lp 2 ti Trng
Tiu hc Tng Trõn..
II. Mc ch v NHIM V NGHIấN CU:
Nghiờn cu c s lớ lun v thc tin ca cỏc bin phỏp ging dy mụn tp
c lp 2. Tp c l phõn mụn thc hnh vỡ vy nhim v ca nú l hỡnh thnh k
nng c cho hc sinh. K nng c cú nhiu mc : c ỳng, c nhanh. Dy
c giỏo dc lũng ham c sỏch cho hc sinh giỳp cho cỏc em thy c õy chớnh
l con ng c bit to cho mỡnh mt cuc sng trớ tu phỏt trin. Tp c gúp
phn lm giu vn kin thc ngụn ng, bi dng cho hc sinh lũng yờu cỏi thin
v cỏi p, dy cho cỏc cỏch t duy cú hỡnh nh.
c im ca dy tp c lp 2 chớnh l ch õy l bc chuyn tip t
dy tp c ( lp 1) sang dy tp c mc cao hn. Gi tp c lp 1
vn dng c phng phỏp hc vn, c phng phỏp tp c thỡ yờu cu ca gi tp
c lp 2 l cng c h thng ting, t ó hc (nht l cỏc t khú) c ỳng ting,
lin ting trong t, trong cõu, on, bi. Bit cỏch ngt hi cỏc du cõu, bit lờn
ging v h ging. lm tt c nhng nhim v nờu trờn, ti ca tụi mc
ớch a ra mt s bin phỏp giỳp hc sinh c lu loỏt c vn bn v c
luận.
3. Phương pháp khảo sát thực tiễn:
+ Khảo sát điều tra thực tế dạy tËp ®äc ở trường tiểu học Tống Trân.
+ Dự giờ dạy của giáo viên và kiểm tra chất lượng học tập của học sinh qua
các bài kiểm tra.
Phương pháp này nhằm nghiên cứu thực trạng dạy tËp ®äc ở trường Tiểu học.
4. Phương pháp điều tra:
+ Điều tra về học sinh.
+ Điều tra về phụ huynh.
+ Dựa vào kết quả giảng dạy và học tập của năm trước đề ra kế hoạch cho
năm học này.
5. Phương pháp so sánh đối chiếu:
Phương pháp này được thực hiện nhằm so sánh các tiết dạy theo cách thông
thường và các tiết dạy theo cách mà mình đề ra ở 2 lớp có cùng trình độ để từ đó
tìm ra kết quả đạt được.
Ngêi viÕt: Nguyễn Thị Chiên - Trêng TiÓu häc Tống Trân
4
Mt s bin pháp nâng cao chất lợng phõn mụn tp c cho hc sinh lp 2
6. Phng phỏp dy thc nghim.
Dy thc nghim mt s tit tập đọc trờn lp theo hng xut nhm kim
tra v hon thin cỏc gii phỏp m ti nờu ra.
7. Phng phỏp thng kờ toỏn hc:
Nhm x lý cỏc s liu v kt qu thu c trong quỏ trỡnh nghiờn cu.
* Trao i, to m vi ng nghip.
* K hoch v thi gian nghiờn cu:
T ngy 20 thỏng 9 nm 2013 n thỏng 3 nm 2014.
theo nghĩa hẹp, việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc (tức là việc
chuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh), theo nghĩa rộng, đọc được hiểu
là kỹ thuật đọc của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài). ý nghĩa hai mặt của
thuật ngữ đọc được ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phương pháp dạy học.
Từ đây chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai - đọc được xem như là một hoạt
động lời nói trong đó có các thành tố:
1. Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ.
2. Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ theo
từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc thành từng tiếng tuỳ thuộc vào trình độ nắm kỹ
thuật đọc.
3. Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, câu, bài) kỹ năng đọc là một
kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện lâu dài.T.G.Egorop (dẫn theo 3.101)
chia việc hình thành kỹ năng này ra làm 3 giai đoạn: phân tích tổng hợp (còn gọi là
giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai đoạn
tự động hoá. Giai đoạn dạy học vần là sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếng
theo các âm. Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả từ trọn vẹn, trong đó có sự tiếp
nhận từ bằng thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa. Tiếp theo
sự thông hiểu ý nghĩa của "từ" trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm, tức là
đọc được thực hiện trong sự đoán các nghĩa. Bước sang lớp 2, lớp 3 học sinh bắt
đầu đọc tổng hợp. Trong những năm học cuối cấp, đọc càng ngày càng tự động
hoá, nghĩa là người đọc ngày càng ít quan tâm đến chính quá trình đọc mà chú ý
nhiều đến việc chiếm lĩnh văn hoá (bài khoá), nội dung của sự kiện, cấu trúc chủ
đề, các phương tiện biểu đạt của nó. Để có giờ tập đọc đạt kết quả tốt người giáo
viên phải nắm được đặc điểm tâm sinh lý của học sinh mình nắm được đặc điểm
yêu cầu, bản chất kỹ năng cơ chế đích cần đạt được của tiết dạy tập đọc. Trên cơ sở
đó sử dụng phương pháp cho phù hợp.
2. Cơ sở ngôn ngữ và văn học của việc dạy đọc:
Ngêi viÕt: Nguyễn Thị Chiên - Trêng TiÓu häc Tống Trân
6
này.
c. Cơ sở lý thuyết cơ bản, phong cách học và văn học của dạy đọc:
Việc dạy đọc không thể dựa trên lý thuyết về văn bản những tiêu chuẩn để
Ngêi viÕt: Nguyễn Thị Chiên - Trêng TiÓu häc Tống Trân
7
“Một số biện ph¸p n©ng cao chÊt lîng phân môn tập đọc cho học sinh lớp 2”
phân tích, đánh giá một văn bản (ở đây muốn nói đến những bài đọc ở tiểu học) nói
chung cũng như lý thuyết để phân tích, đánh giá các tác phẩm văn chương nói
riêng. Việc hình thành kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm và đọc hiểu cho học sinh
phải dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá một văn bản tốt: tính chính xác, tính đúng
đắn và tính thẩm mỹ, dựa trên những đặc điểm vè các kiểu ngôn ngữ, các phong
cách chức năng, các thể loại văn bản, các đặc điểm về loại thể của tác phẩm văn
chương dùng làm ngữ liệu đọc ở tiểu học. Ví dụ, cách đọc và khai thác để hiểu nội
dung một bài thơ, một đoạn tả cảnh, một câu tục ngữ, một truyền thuyết, một bài
sử, một bài có tính chất khoa học thưởng thức… là khác nhau. Việc hướng dẫn học
sinh tìm hiểu nội dung bài đọc cũng phải dựa trên những hiểu biết về đề tài, chủ đề,
kết cấu nhân vật, quan hệ giữa nội dung và hình thức, các biện pháp thể hiện trong
tác phẩm văn học, nhằm miêu tả, kể chuyện và biểu hiện các phương tiện và biện
pháp tu từ…. Việc luyện đọc cho học sinh phải dựa trên những hiểu biết về đặc
điểm ngôn ngữ văn học, tính hình tượng, tính tổ chức cao và tính hàm súc, đa nghĩa
của nó. Tất cả những vấn đề trên đều thuộc phạm vi nghiên cứu của lý thuyết văn
học. Vì vậy ta dễ dàng nhận thấy phương pháp dạy tập đọc không thể không dựa
trên những thành tựu nghiên cứu của lý thuyết văn bản nói chung và nghiên cứu
văn học nói riêng.
II. TỔ CHỨC DẠY TẬP ĐỌC Ở TIỂU HỌC:
1. Chuẩn bị cho việc đọc:
thanh nếu có. Chú ý hình thức đọc cá nhân để phát hiện lỗi và sửa cho học sinh.
Giáo viên phải dựa vào đối tượng lớp mình mà chọn hình thức luyện đọc cho thích
hợp.
2- Luyện đọc đúng:
- Luyện đọc đúng: Đọc không thừa, không sót từng âm. Đọc đúng phải thể
hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn tức là đúng chính âm, không đọc theo cách phát
âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao gồm việc đọc đúng các âm, thanh, nghỉ
ngắt hơi đúng chỗ. Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các
âm vị Tiếng Việt. Việc này cần rèn luyện liên tục và thường xuyên.
- Đọc đúng các âm đầu: Khi học sinh đọc sai, giáo viên nêu cách phát âm
đúng rồi cho học sinh nhìn miệng giáo viên phát âm mẫu để phát âm lại.
Ví dụ:
+ lên / nên:
lên: dùng đầu lưỡi và hàm.
Ngêi viÕt: Nguyễn Thị Chiên - Trêng TiÓu häc Tống Trân
9
“Một số biện ph¸p n©ng cao chÊt lîng phân môn tập đọc cho học sinh lớp 2”
nên: dùng mặt lưỡi và hàm.
+ r/d:
r : dùng đầu lưỡi - hàm.
d : dùng gốc lưỡi - hàm.
- Đọc đúng âm chính: Có ý thức phân biệt để đọc đúng: ưu tiên, con khướu,
bình rượu, không đọc iu tiên, con khiếu, bình riệu.
- Đọc đúng âm cuối: có ý thức đọc đúng: ngào ngạt, đau đớn...không đọc:
ngào ngạc, đao đớn...
- Đọc đúng các thanh: Không đọc nhầm lẫn giữa thanh hỏi và thanh ngã:
Cũng như thơ, sau khi sửa xong lỗi ngắt giọng cho học sinh, giáo viên phải
gọi nhiều em đọc, các học sinh khác nghe và nhận xét bạn đọc.
Tóm lại:
Việc luyện đọc cho học sinh đọc đúng từ, câu sẽ giúp cho việc đọc đoạn, bài
được trôi chảy, lưu loát hơn và học sinh nắm chắc được cách đọc đúng văn bản
được học mà không phải tình trạng học vẹt. Ngắt giọng khi đọc bài văn được quy
định bởi các yếu tố ngữ pháp: từ đoạn, câu,... nên khi đọc phải ngắt nghỉ sau dấu
chấm (.) dấu (,) dấu (’)... để bài văn được thể hiện mạch lạc rõ ràng, dễ hiểu. Đọc
đúng chính là điểm cơ bản của phương pháp rèn kỹ năng đọc đạt hiệu quả.
b- THỰC TRẠNG DẠY HỌC.
Qua nhiều năm giảng dạy ở trường tiểu học Tống Trân và trao đổi với đồng
nghiệp tôi đã có những nhận xét chung về thực trạng dạy học như sau:
I. TÌNH HÌNH GIẢNG DẠY CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC
TỐNG TRÂN:
1. Quan điểm của giáo viên về giờ tập đọc:
Nhìn chung giáo viên tiểu học đều nhận thức được ý nghĩa của việc tập đọc
và nhiệm vụ chính của dạy đọc vµ coi trọng giờ tập đọc. Giáo viên ở các lớp đầu
cấp cho rằng phần luyện đọc từ, đọc câu là quan trọng hơn còn ở các lớp cuối cấp
thì cho rằng phần luyện đọc và phần tìm hiểu bài quan trọng như nhau. Nhưng nhìn
chung 70% số giáo viên khẳng định việc luyện đọc quan trọng hơn còn về thời gian
phân bố trong giờ luyện đọc thì 80% số giáo viên cho rằng thời gian luyện đọc là
nhiều hơn, 20% số giáo viên còn lại cho rằng thời gian của 2 phần này như nhau.
2. Những phương pháp giáo viên thường sử dụng trong phần rèn đọc:
Hiện nay ở tiểu học, về vấn đề rèn đọc cho học sinh, giáo viên sử dụng
Ngêi viÕt: Nguyễn Thị Chiên - Trêng TiÓu häc Tống Trân
11
12
“Một số biện ph¸p n©ng cao chÊt lîng phân môn tập đọc cho học sinh lớp 2”
học sinh yếu vì đối tượng này thường đọc chậm, làm mất thời gian, làm giảm tiến
độ của tiết dạy.
IV. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 2:
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có tác dụng hình thành phát triển ngôn
ngữ cho học sinh. Tiếng Việt gồm nhiều phân môn: Tập đọc, từ ngữ, ngữ pháp,
chính tả, tập làm văn. Phân môn tập đọc có vị trí quan trọng. Dạy tốt phân môn này
đáp ứng một trong 4 kỹ năng sử dụng tiếng Việt. Kỹ năng đọc nhanh, chính xác, rõ
ràng, rành mạch và diễn cảm nhờ đó học sinh có những hiểu biết văn học ngôn ngữ
và ngược lại. Vì vậy đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là quá trình có liên quan
mật thiết với nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh được những tri thức văn hoá
của dân tộc và cũng từ đó giáo dục tình cảm đạo đức cao đẹp cho học sinh, đồng
thời phát huy tính sáng tạo, khả năng tư duy cho các em.
Đối với học sinh lớp 2 thì yêu cầu của giờ tập đọc là đọc đúng, đọc liền từ,
đọc cụm từ và câu: biết ngắt nghỉ (hơi) đúng chỗ trong câu. Hiểu các từ thông
thường và các từ mới, hiểu được ý diễn đạt đã đọc (với câu khoảng 10 tiếng trở
lên). Bên cạnh nhiệm vụ đọc tốt bài, học sinh còn được phát triển vốn từ.
V. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Học hết lớp 1 thì hầu hết các em đã biết đọc. Khi bước sang lớp 2 yêu cầu của
tiết tập đọc cao hơn. Song thực tế nhiều em còn ngại đọc vì đọc còn chậm, ngắt
nghỉ không đúng chỗ, lên giọng xuống giọng chưa hợp lý đặc biệt khi đọc thơ, ngắt
nhịp thơ, câu văn dài, câu hỏi rất lúng túng, ngắt thiếu chính xác. Vì thế khi đọc các
em khó có thể thể hiện được tư tưởng, tình cảm nội dung của bài thơ, bài văn ... của
tác giả và sự đồng cảm của chính mình.
Trong quá trình nghiên cứu tuần 28 và 30, các em học phân môn tập đọc, tôi
Giỏi
Khá
TB
Yếu
2C
số
37
SL
5 em
%
SL
13,5 % 10 em
%
27,0 %
SL
16 em
%
43,3 %
Ngêi viÕt: Nguyễn Thị Chiên - Trêng TiÓu häc Tống Trân
14
“Một số biện ph¸p n©ng cao chÊt lîng phân môn tập đọc cho học sinh lớp 2”
- Về nhịp điệu nhanh, chậm, vừa phải, khoan thai hay khẩn trương,... tùy vào
nội dung văn cảnh... Tất nhiên đọc đúng nhịp điệu là vấn đề khó song nó là "chiếc
cầu nối" giữa đọc đúng và đọc diễn cảm.
+ Về đọc thơ: Qua khảo sát thấy rằng phần lớn các em ngắt giọng cuối dòng
thơ đều đúng.
- Còn ngắt nhịp thơ giữa các dòng thơ còn sai đối với những bài thơ khó. Vì
vậy giáo viên nên lưu ý giúp các em ngắt nhịp đúng tạo điều kiện để các em đọc
thơ tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn.
+ Nguyên nhân của việc đọc sai là: ảnh hưởng cuả việc phát âm tiếng địa
phương không chuẩn, do các em không hiểu nghĩa của từ đang đọc, sự cảm thụ văn
chương của các em còn hạn chế, do các em chưa phát huy tính tự giác luyện đọc ở
nhà.
Tóm lại:
Muốn rèn luyện kỹ năng đọc giáo viên xác định và ví mình như một người
thầy thuốc, có tài chẩn đoán đúng bệnh của bệnh nhân thì chữa trị mới có hiệu quả,
phải nắm được mặt mạnh, mặt yếu của bệnh nhân. Phát huy mặt mạnh và có biện
pháp tích cực phù hợp giúp các em kịp thời sửa chữa điểm yếu, thì chắc chắn các
em sẽ tiến bộ hơn rút ngắn thời gian mà chất lượng cao hơn.
Nhìn vào việc khảo sát trên thấy rõ nếu giáo viên chú ý luyện các lỗi mà học
sinh thường mắc thì việc đọc thành tiếng sẽ đem lại hiệu quả cao.
C- ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC:
Từ việc nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận của việc dạy đọc tôi
phụ huynh dạy các con cách đọc, cách kiểm tra đọc vì đây cũng là một phần giúp
tôi trong việc rèn đọc.
Tôi đã thông báo kịp thời qua sổ dặn dò về sự tiến bộ của các em nên cũng
giúp cho các em học tập tốt hơn môn tập đọc.
III. LUÔN KHÍCH LỆ, ĐỘNG VIÊN HỌC SINH:
Với tâm lý học sinh lớp 2 còn ưa nói nhẹ, thích biểu dương nên tôi luôn chú
ý phương pháp nêu gương và khích lệ kịp thời. Tôi đã gọi các em đọc tốt, đọc lại
sau khi cô đọc mẫu. Từ chỗ 2, 3 em tôi nhân điển hình cho các lớp. Trước khi gọi
đọc cá nhân, tôi gọi 2, 3 em thay nhau đọc. Tôi hỏi cả lớp: Các em nhận xét các
Ngêi viÕt: Nguyễn Thị Chiên - Trêng TiÓu häc Tống Trân
16
“Một số biện ph¸p n©ng cao chÊt lîng phân môn tập đọc cho học sinh lớp 2”
bạn đọc đã đúng chưa?
Giờ sau tôi hỏi các bạn đọc đã hay chưa? hay như thế nào? Để cho các em tự
nhận xét, tự đánh giá về nhau. Tôi gọi tiếp một em ở loại 2 lên đọc. Sau đó tôi cho
cả lớp nhận xét. Sau khi giáo viên nhận xét: “Bạn đọc như vậy đã tốt hơn nhưng
còn hạn chế mặt nào các em?” (Đối với các em, muốn giúp các em tiến bộ tuyệt đối
người giáo viên không được chê hoặc moi những khuyết điểm của các em trước tập
thể lớp mà người giáo viên phải khéo léo dùng lời nói của mình vừa động viên, vừa
khích lệ các em thì các em mới chuyển biến nhanh). Các bạn nhận xét xong, tôi bắt
đầu nhận xét: “Em đọc đã tiến bộ nhiều, còn mặt này em phải cố gắng hơn, nếu đọc
diễn cảm để diễn đạt được công việc làm của tác giả thì bài đọc rất hay đấy. Cô cho
em 8 điểm. Lần sau cố gắng hơn sẽ được điểm 9, 10 em nhé”.
Rồi bằng những hình thức đối với các em đọc yếu, tôi đã tìm đủ các phương
pháp khắc phục.
Cô giáo đọc mẫu cả bài. Cho các em giỏi, đọc tốt nhận xét. Cho các em kém
Việc cho điểm cũng vậy: Các em đọc xong nhìn vào điểm lần trước nhắc lại.
“Lần trước em đọc được 7. Lần này theo em thì cô cho mấy? Cô sẽ cho em 8 điểm.
Hơn hôm trước 1 điểm rồi lần sau em cố gắng hơn này sẽ được điểm 9, 10 đấy!”
Cách so sánh điểm cũng giúp cho các em đọc tốt hơn lên.
IV. GIÁO VIÊN ĐỌC MẪU CHUẨN XÁC:
Việc đọc mẫu của giáo viên đối với học sinh lớp 2 là không thể thiếu được.
Giáo viên không hạn chế đọc mẫu chỉ là 2, 3 lần mà tuỳ vào đối tượng học sinh
từng lớp, từng địa phương mà có số lần đọc mẫu thích hợp. Vì đọc mẫu có thể là cả
bài, một đoạn, một câu, hay một từ khó.
Muốn cho học sinh đọc tốt thì việc đọc mẫu của giáo viên phải chuẩn xác, có
tác dụng làm cơ sở định hướng cho học sinh. Giáo viên phải biết hạ giọng, cất cao
giọng theo từng loại câu. Biết nhấn giọng các từ trong câu. Tuỳ theo nội dung từng
đoạn văn, bài văn có giọng đọc thích hợp. Biết phân biệt lời tác giả, lời nhân vật để
có giọng đọc khác nhau.
Người giáo viên đọc chuẩn mực, đọc hay sẽ có sức cuốn hút các em. Vì vậy
bất kỳ bài nào tôi cũng phải đọc từ nhiều lần. Cũng từ cách đọc mẫu nhiều lần, nó
giúp tôi càng hiểu kỹ nội dung bài hơn, giảng cho các em càng hay hơn. Cũng từ
kinh nghiệm đó tôi yêu cầu thứ nhất: “về nhà đọc từ 5 đến 10 lần”. Ngắt câu dài,
nghỉ đúng chỗ.
Ngêi viÕt: Nguyễn Thị Chiên - Trêng TiÓu häc Tống Trân
18
“Một số biện ph¸p n©ng cao chÊt lîng phân môn tập đọc cho học sinh lớp 2”
1. Đọc đúng dạng thơ:
Thơ là tiếng nói của tình cảm, là sự phản ánh con người và thời đại một cách
cao đẹp, thơ rất giàu chất trữ tình. Vì vậy khi đọc thơ cần thể hiện được tình cảm
“Một số biện ph¸p n©ng cao chÊt lîng phân môn tập đọc cho học sinh lớp 2”
câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến khác
nhau. Ngoài ra còn đọc hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu...
* Luyện đọc diễn cảm:
+ Ngắt giọng biểu cảm: là sự ngắt giọng có ý đồ nghệ thuật.
Ví dụ:
Ơi / chích choè ơi ! //
Chim đừng hót nữa, //
Bà em ốm rồi
Lặng/ cho bà ngủ.//
Việc ngắt giọng ở dòng thơ đầu và dòng thơ cuối tạo nên một không khí im
lặng cảm thông với người đang ốm.
Hoặc với bài thơ: " Cháu nhớ Bác Hồ" cần hướng dẫn học sinh đọc với nhịp
chậm, trầm lắng thể hiện sự xúc động nghẹn ngào của bạn nhỏ khi nghĩ và nhớ đến
Bác.
" Đêm đêm/ cháu những bâng khuâng/
Giở xem ảnh Bác/ cất thầm bấy lâu.//
Nhìn mắt sáng,/ nhìn chòm râu,/
Nhìn vầng trán rộng,/ nhìn đầu bạc phơ.//
Càng nhìn/ càng lại ngẩn ngơ,/
Ôm hôn ảnh Bác/ mà ngờ Bác hôn.//
+ Tốc độ: Thay đổi tốc độ đọc gây sự chú ý, có giá trị biểu cảm tốt.
- Thể thơ: tùy thuộc vào bài thơ có thể là thơ 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ.. hoặc 4 - 6 ;
6 - 8.
- Nhịp thơ: Nhịp điệu được coi là phương tiện truyền cảm nghệ thuật rất có
hiệu lực của thơ. Tùy theo nội dung cần truyền đạt, với những nhịp điệu tương ứng:
Nhưng đến đoạn 2 và 3 lại đọc với giọng chậm rãi, nhẹ nhàng, thể hiện niềm
thương cảm với con chim bé nhỏ bị nhốt trong lồng.
Hay bài : " Ai ngoan sẽ được thưởng" giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc
với giọng nhẹ nhàng, xúc động. Nhấn mạnh những từ ngữ thể hiện thái độ trìu mến,
âu yếm, quan tâm của Bác Hồ với các cháu nhi đồng qua đoạn:
- Các cháu ăn có no không ?
- No ạ !
- Các cô có mắng phạt các cháu không ?
Hay: - Cháu biết nhận lỗi, thế là ngoan lắm ! Cháu vẫn được phần kẹo như các
bạn khác.
Cần hướng dẫn học sinh biết đọc phân biệt lời kể và lời các nhân vật qua
Ngêi viÕt: Nguyễn Thị Chiên - Trêng TiÓu häc Tống Trân
21
“Một số biện ph¸p n©ng cao chÊt lîng phân môn tập đọc cho học sinh lớp 2”
bài: “Những quả đào” giọng đọc chậm rãi, khoan thai của người ông. Nhấn giọng
cụm từ để hỏi và thể hiện sự ngưỡng mộ của những đứa cháu khi ăn đào xong.
* Ngữ điệu: là sự thể hiện lên cao hay hạ thấp giọng.
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn
ở dấu chấm, đọc đúng các ngữ điệu câu: lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuối
câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu cảm. Với
câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ giọng khi đọc bộ phận giải thích
của câu.
Như vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm.
Bằng nhiều hình thức dạy khác nhau giáo viên cần gây hứng thú cho học sinh
tập đọc. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên tăng cường cho học sinh luyện đọc,
tinh giảm việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài quá dài. Hướng dẫn rèn đọc để học
giỳp hc sinh mỡnh c ngy cng tt hn. Vi mt s kinh nghim ca tụi trong
nhng nm dy hc, tụi ó tỡm ra nhng phng phỏp ti u nht ỏp dng vo
lp dy ny.
1/ Phng phỏp m thoi, vn ỏp.
Giỏo viờn a ra nhiu cõu hi hc sinh tr li nhm phỏt hin s hiu
bit ca cỏc em hoc gi m giỳp cỏc em phỏt hin cỏch c.
VD: - Cõu vn ny cui cõu cú du gỡ ? ( du hi chm.)
- Vy khi c nhng cõu m cui cõu cú du hi chm chỳng ta phi c nh
th no?( c cao ging hoc nhn ging nhng t cui cõu.)
Khi s dng phng phỏp ny, giỏo viờn nờn dựng ngụn ng d nghe, nh
nhng, trỏnh cỏu gt khi cỏc em chm nh, chm hiu. Hóy ụn tn dn dt hc sinh
tng bc mt dy cỏc em c tng ch, tng ting, tng cõu trong mi ngy.
2/ Phng phỏp quan sỏt, ng viờn khen thng hc sinh.
Trong tit dy tụi thng chỳ ý n hc sinh ớt núi, th ng, hc sinh c
chm, c yu gi cỏc em thng xuyờn c bi. i vi hc sinh gii - khỏ tụi
thng khớch l, khen ngi cỏc em phn khi hn.Cũn i vi hc sinh trung
bỡnh - yu tụi nh nhng an i ng viờn: C lờn, ri cỏc em s c tt nh cỏc
bn nu cỏc em c gng c bi nhu lp cng nh nh. Trong tit dy tp
c, sau khi cho c lp c xong, tụi mi cỏc em c yu, trung bỡnh lờn bn giỏo
viờn cựng c bi vi cụ.Tụi ginh nhiu thi gian cho i tng ny hn. Cựng
c bi vi cỏc em trong gi ra chi ( nhng vn cho cỏc em cú thi gian th
Ngời viết: Nguyn Th Chiờn - Trờng Tiểu học Tng Trõn
23
“Một số biện ph¸p n©ng cao chÊt lîng phân môn tập đọc cho học sinh lớp 2”
giãn, nghỉ ngơi). Khi các em có biểu hiện tiến bộ tôi thường khen thưởng các em
bằng những phần quà nhỏ như cuốn vở, viên phấn màu, cây bút đẹp vv… để các
“Một số biện ph¸p n©ng cao chÊt lîng phân môn tập đọc cho học sinh lớp 2”
đọc lại, đọc đến khi nào nhìn vào chữ là đọc được ngay mới thôi.
Như vậy để học sinh đọc tốt môn tập đọc đặc biệt là vấn đề rèn đọc đúng cho
học sinh lớp 2 chúng ta cần đảm bảo tốt các phương pháp và h×nh thøc tæ chøc trªn.
VII. CÁC BƯỚC CHUẨN BỊ DẠY TẬP ĐỌC:
1. Đối với giáo viên:
Trước khi lên lớp, giáo viên phải đọc bài nhiều lần để đọc tốt và thấu đáo nội
dung bài đọc. Phải trả lời được các câu hỏi và các câu trả lời này sẽ giúp cho giáo
viên xác định được mục đích, yêu cầu, nội dung, và phương pháp dạy bài tập đọc.
Giáo viên lường trước các từ khó, phát âm dễ lẫn để ngăn ngừa được các lỗi
khi đọc. Tuỳ từng đối tượng học sinh, giáo viên phải xác định được các lỗi phát âm
mà học sinh dễ mắc? (Đó là những tiếng khó, những chỗ ngắt nhịp nhấn giọng ở
những từ khó, đặc biệt ở câu quá dài)... Giáo viên phải chủ động lập kế hoạch giảng
dạy trên lớp theo từng bước sau:
a. Bước soạn bài:
* Để học sinh nắm vững cách chuẩn bị bài tôi phải soạn mẫu vài bài trong
tháng học đầu tiên của bài tập đọc.
Giáo viên phải tìm hiểu kỹ bài tập đọc trên cơ sở phân tích tổng hợp và hệ
thống hoá để đánh giá nội dung, nghệ thuật của bài. Cần thiết giáo viên có thể điều
chỉnh hoặc thêm câu hỏi về nội dung, nghệ thuật phù hợp với nội dung của bài tập
đọc, để gợi mở hứng thú cho học sinh.
Khi soạn giáo án (soạn bài) giáo viên cần xem xét hệ thống câu hỏi của sách
học sinh (sách giáo khoa Tiếng Việt) để có sự điều chỉnh phù hợp với cách hiểu
của mình về bài tập đọc cũng như phù hợp với đối tượng học sinh. Lựa chọn bổ
sung lại hệ thống câu hỏi, để làm rõ cách đọc, nội dung và nghệ thuật của bài. Sau
đây là hệ thống câu hỏi (SGK Tiếng Việt lớp 2 tập 1) và hệ thống câu hỏi mà giáo
viên tôi đã điều chỉnh áp dụng trong bài Tập đọc: “ Bé Hoa”.