Phần I: MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài.
1. Lý do khách quan
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế hiện
nay, sự phát triển của GD & ĐT quyết định sự tiến bộ của xã hội. Nhận thức sâu sắc
về vai trò của nền kinh tế tri thức và tầm quan trọng đặc biệt của Giáo dục- Đào tạo,
Nghị quyết TW2 - Khoá VIII đã chỉ rõ “Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu,
là nhân tố phát triển kinh tế xã hội, là cơ sở để thực hiện Công nghiệp hoá - Hiện
đại hoá đất nước”. Giáo dục-đào tạo là điều kiện cực kỳ cần thiết để phát huy
nguồn lực con người. Vì thế, việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tích cực
đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học là nhiệm vụ hàng đầu của cả hệ thống
chính trị mà trước hết là của ngành giáo dục - đào tạo nước ta. Những phương châm
giáo dục cần được thấu triệt có thể thâu tóm ngắn gọn là: giáo dục kết hợp với lao
động sản xuất, giáo dục của nhà trường gắn với giáo dục của gia đình và giáo dục
của toàn xã hội, giáo dục tri thức khoa học gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách và
rèn luyện kỹ năng sống. Về mục tiêu, giáo dục hiện nay phải đáp ứng được yêu cầu
phát huy tối đa khả năng của người học và đáp ứng tốt nhất yêu cầu của xã hội về
nguồn nhân lực có chất lượng cao đủ tri thức- sức khỏe- đạo đức và kỹ năng sống.
Nhiệm vụ của mỗi nhà trường là phải giáo dục đào tạo như thế nào để mỗi học sinh
khi bước vào cuộc sống có được một hành trang tương đối đầy đủ, không bị động
trước cuộc sống nhiều biến động và đầy rẫy những điều phức tạp.
Để đạt được mục đích và hiệu quả giáo dục như mong muốn, việc dạy học và
giáo dục không những được tiến hành bằng các giờ học chính khóa mà còn được
thực hiện bằng các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Việc giáo dục phải được kết hợp
chặt chẽ với việc tự giáo dục, việc dạy học của giáo viên phải kết hợp với việc tự
học, tự rèn của học sinh. Giáo dục ngoài giờ lên lớp ( GDNGLL) là một trong
những hoạt động đáp ứng được yêu cầu đó của công tác giáo dục - đào tạo. Xét về
thực tế, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với nội dung phong phú, hình thức đa
dạng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh được xem như một sân chơi hấp
dẫn với học sinh. Ở đó, các em có cơ hội thể hiện năng lực và rèn luyện kỹ năng
sống, kỹ năng hoạt động nhóm trong khi tham gia các trò chơi, hoạt động văn hóa -
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Trên cơ sở đó, những người làm công tác
quản lý của các trường cần tìm ra những biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, phù
hợp và kịp thời.
Qua thực tế tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT
Võ Trường Toản, xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, là một cán bộ quản
lý, cá nhân tôi luôn luôn trăn trở trước những câu hỏi: Phải làm gì để hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp trong nhà trường được tổ chức khoa học và đạt hiệu quả hơn?
Làm như thế nào để hoạt động GDNGLL phát huy tác dụng của nó với việc giáo
dục đạo đức, hoàn thiện nhân cách cho học sinh, góp phần nâng cao nề nếp kỷ
cương của nhà trường? Trên cơ sở tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích về lý luận
và thực tiễn giáo dục, chúng tôi đã nhận thức sâu sắc và rõ ràng hơn về con đường,
cách thức giáo dục học sinh. Một trong những nhận thức đó là muốn nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, nhất thiết phải làm tốt công tác giáo dục đạo đức, nhân
cách, rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu
đó là tổ chức hiệu quả, khoa học các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Với các lý do khách quan và chủ quan đó tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
của Hiệu trưởng trường THPT Võ Trường Toản, Huyện Cẩm Mỹ, Tỉnh Đồng
Nai năm học 2009 -2010”
II. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Tìm hiểu cơ sở pháp lý và cơ sở lý luận cuả đề tài.
2. Phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động động giáo dục ngoài giờ
lên lớp tại trường THPT Võ Trường Toản, Huyện Cẩm Mỹ, Tỉnh Đồng Nai.
2
3. Rút ra bài học kinh nghiêm và đề xuất một số biện pháp nhằm khắc phục
những hạn chế, nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động ngoài giờ lên lớp tại
trường THPT Võ Trường Toản, Huyện Cẩm Mỹ, Tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn
tới.
III. Phương pháp nghiên cứu.
Để viết được đề tài này tôi đã dùng các phương pháp nghiên cứu như sau:
tham gia của các lực lượng xã hội … Nó tiến hành xen kẽ hoặc tiếp nối hoạt động
dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội. Hoạt động này diễn
ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín qúa trình đào tạo, làm cho
quá trình này được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc.
Hoạt động giáo dục ngoài nhà trường là tổ chức cuộc sống của thanh thiến
niên về giáo dục, là cuộc sống thực của họ về học tập, lao động, vui chơi …Giáo
3
dục ngoài nhà trường là trách nhiệm của toàn xã hội, của gia đình học sinh, nhà
trường đóng vai trò cố vấn sư phạm và phối hợp tổ chức.
II. Cơ sở lý luận.
1. Vị trí của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Về mặt pháp lý: theo điều lệ nhà trường phổ thông, các hoạt đông giáo dục
trong nhà trường phổ thông bao gồm:
+ Hoạt đông giáo dục trên lớp thông qua việc dạy và học các môn học theo
quy định.
+ Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do nhà trường phối hợp với các lực
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tổ chức bao gồm các hoạt động ngoại
khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, nhằm phát triển năng lực
toàn diện của học sinh và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu; các hoạt đông vui
chơi, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá, các hoạt đông giáo dục môi trường, các
hoạt đông lao động công ích, các hoạt động xã hội, các hoạt động từ thiện phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Như vậy, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp được xác định là một bộ phận của hoạt động dạy học và giáo dục.
Về phương diện thực tiễn: hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có vị trí là
cầu nối hai chiều giữa nhà trường và xã hội.
+ Hoạt động GDNGLL tạo điều kiện cho nhà trường phát huy vai trò của
mình với đời sống xã hội, mở ra khả năng thuận lợi để gắn học với hành, nhà trường
với xã hội.
+ Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là điều kiện và phương hướng để huy
động sức mạnh cộng đồng tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo học sinh và sự
đề có tính thời đại như vấn đề quốc tế, hợp tác, hoà bình và hữu nghị, vấn đề bảo vệ
môi sinh, môi trường, vấn đề dân số và kế hoạch hóa gia đình, vấn đề phòng chống
các tệ nạn xã hội, vấn đề pháp luật …
3.2. Nhiệm vụ giáo dục về thái độ.
- Hoạt động GDNGLL từng bước hình thành cho học sinh niền tin vào chế độ
xã hội, vào tương lai của đất nước, từ đó các em có lòng tự hào dân tộc, mong muốn
làm đẹp truyền thống của trường, của lớp, của quê hương đất nước.
- Hoạt động GDNGLL từng bước hình thành cho học sinh những tình cảm
đạo đức trong sáng (tình cảm thầy trò, tình cảm bạn bè, tình yêu quê hương đất
nước), qua đó giúp các em biết yêu kính và trân trọng cái tốt cái đẹp, biết ghét cái
xấu, cái lỗi thời không phù hợp.
- Hoạt động GDNGLL bồi dưỡng, xây dựng cho học sinh lối sống phù hợp
với đạo đức, pháp luật, truyền thống tốt đẹp của địa phương và đất nước.
- Hoạt động GDNGLL góp phần giáo dục học sinh tình đoàn kết hữu nghị
với các bạn thanh thiếu niên quốc tế, với các dân tộc khác trên thế giới.
- Hoạt động GDNGLL bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực, tính năng động,
sẵn sàng tham gia những hoạt động xã hội, hoạt động tập thể của trường, của lớp vì
lợi ích chung, vì sự trưởng thành và tiến bộ của bản thân.
3.3. Nhiệm vụ rèn luyện kỹ năng.
- Hoạt động GDNGLL rèn luyện cho học sinh kỹ năng giao tiếp, ứng xử có
văn hoá, những thói quen tốt trong học tập, lao động công ích và các hoạt động
khác.
- Hoạt động GDNGLL rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự quản, trong đó có
kỹ năng tổ chức, kỹ năng điều khiển và thực hiện một hoạt động tập thể có kết quả,
kỹ năng nhận xét, đánh giá kết qủa hoạt động.
- Hoạt động GDNGLL rèn cho học sinh các kỹ năng giáo dục, tự điều chỉnh,
kỹ năng hòa nhập để thực hiện tốt các nhiệm vụ do thầy cô giáo, do nhà trường
hoặc tập thể lớp giao cho.
4. Nội dung hoạt động GDNGLL ở trường THPT
Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp rất đa dạng và phong phú, thể
Trên cơ sở kế hoạch, nhà trường định ra cách thức tổ chức chỉ đạo, nội dung,
phương tiện và quy mô hoạt động.
5.2. Đảm bảo tính tự nguyện, tự giác
- Nếu hoạt động học tập trên lớp là bắt buộc thì hoạt động GDNGLL là tự
nguyện, tự giác. Nguyện tắc này bảo đảm quyền tự chọn tham gia các hoạt động
theo khả năng, hứng thú, điều kiện sức khỏe của mỗi học sinh, chỉ có như vậy mới
tạo ra được động cơ hoạt động, phát huy được từng thiên hướng của học sinh. Điều
quan trọng là nhà trường phải tổ chức các nhóm hoạt động, các câu lạc bộ khác
nhau; Thường xuyên tổ chức các cuộc gặp gỡ, tham quan, hoạt động văn thể, lao
động … Chỉ khi đó học sinh mới có thể tự nguyện, tự giác lựa chọn tham gia vào
loại hình hoạt động phù hợp với hứng thú của mình.
5.3. Tính đến các đặc điểm lứa tuổi và cá biệt của học sinh
Nội dung và hình thức hoạt động GDNGLL phải được thay đổi, tuỳ thuộc
vào sự chuyển từ giai đoạn lứa tuổi này sang lứa tuổi khác ở học sinh. Giáo viên
phải xác định các loại hình hoạt động và các hình thức công việc sao cho chúng phù
6
hợp với khả năng của lứa tuổi học sinh và hứng thú cá nhân của họ, đồng thời đáp
ứng yêu cầu giáo dục. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải rất hiểu học sinh của mình,
nắm rõ các đặc điểm cá bịêt của họ để có thể đưa họ vào các hoạt động phù hợp với
khả năng và hứng thú của họ.
5.4. Kết hợp lãnh đạo sư phạm với tính độc lập, tự quản của học sinh
- Học sinh THPT có tính tích cực hoạt động xã hội và có khả năng tự quản,
tuy nhiên các em chưa có đủ kinh nghiệm sống, vì vậy cần có sự lãnh đạo sư phạm
thường xuyên.
- Nguyên tắc này đòi hỏi phát triển tính tích cực độc lập, sáng tạo của học
sinh. Hoạt động GDNGLL phải là hoạt động của học sinh, do học sinh tổ chức và
quản lý. Vai trò của người thầy là xác định phương hướng hoạt động và giúp đỡ học
sinh tổ chức công việc, là người cố vấn của học sinh trong các hoạt động của họ
5.5 Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu qủa.
- Khi tiến hành bất cứ hoạt động nào củng phải tính đến hiệu qủa; nhưng hiệu
- Ở lớp:
+ Trực nhật: vệ sinh trường lớp, chăm sóc cây hoa.
+ Sinh hoạt 15 phút đầu giờ: truy bài, đọc báo Đoàn, văn nghệ …
+ Bình nhật thi đua cuối buổi học, cuối ngày học.
- Toàn trường:
+ Thể dục giữa giờ, múa hát tập thể.
+ Bản tin hàng ngày.
+ Hoạt động của đội sao đỏ, cờ đỏ để duy trì nề nếp, kỉ luật nhà trường.
b. Hoạt động tuần:
- Ở lớp:
+ Hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chương trình.
+ Sinh hoạt lớp, sinh hoạt chi đoàn: phát động thi đua, sơ kết hàng tuần, phổ
biến công việc, trao đổi thảo luận những vấn đề học sinh lớp quan tâm, văn nghệ,
trò chơi, …
- Ở trường:
+ Sinh hoạt dưới cờ: chào cờ đầu tuần, câu chuyện dưới cờ theo chủ điểm
giáo dục, văn nghệ, trò chơi, …
+ Phát thanh học đường theo các chủ đề: phòng chống ma túy, an toàn giao
thông, bảo vệ môi trường, …
+ Sinh hoạt câu lạc bộ: câu lạc bộ những nhà văn trẻ, câu lạc bộ khoa học tự
nhiên, câu lạc bộ cờ vua, …
c. Hoạt động hàng tháng:
- Tổ chức sinh hoạt theo chủ điểm.
- Tổ chức ngày hội truyền thống.
- Công tác xã hội: lao động công ích, hoạt động từ thiện xã hội, …
- Tổ chức tuyên truyền các sự kiện chính trị lớn trong cả nước như tuyên
truyền đại hội Đảng các cấp, …
- Tổ chức cắm trại, tham quan dã ngoại, …
d. Học kỳ: sơ kết, tổng kết thi đua, khen thưởng, văn nghệ …
6.1.3. Kế hoạch năm học: các hoạt động giáo dục của nhà trường có thể trình
+ Tiểu ban văn nghệ, chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể
dục thể thao.
- Sau khi thành lập hoặc củng cố Ban chỉ đạo, điều hết sức quan trọng là hiệu
trưởng phải xây dựng được:
+ Nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của từng tiểu ban trong việc tổ chức
các hoạt động giáo dục.
+ Nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của mỗi thành viên trong ban chỉ đạo.
+ Qui định lề lối hoạt động của ban chỉ đạo.
6.2.2. Tổ chức các hoạt động bên trong nhà trường
Các lực lượng giáo dục bên trong nhà trường giữ vai trò quyết định chất
lượng giáo dục của nhà trường. Vì vậy, hiệu trưởng cần phải quan tâm tổ chức,
động viên lực lượng này tích cực tham gia tổ chức hoạt động giáo dục học sinh. Cụ
thể là:
- Lực lượng giáo viên chủ nhiệm lớp;
- Lực lượng giáo viên bộ môn;
- Qui định nhiệm vụ của tổ chủ nhiệm, tổ bộ môn trong đó có nhiệm vụ tổ
chức các hoạt động giáo dục.
- Đoàn thanh niện cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp thanh niên Việt nam.
6.2.3. Phối hợp với các lực lượng ngoài xã hội.
Tổ chức phối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường như chính
quyền địa phương, các tổ chức xã hội khác đóng trên địa bàn …
6.3 Hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện kế hoạch
6.3.1. Hiệu trưởng chỉ đạo Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục
9
- Trước hết, Hiệu trưởng chỉ đạo giao ban hàng tháng của Ban chỉ đạo, những
nội dung giao ban cơ bản có thể là:
+ Tổng kết, rút kinh nghiệm việc tổ chức các hoạt động giáo dục cuat tháng
trước.
+ Đề nghị khen thưởng những cá nhân, tập thể có thành tích trong các hoạt
động giáo dục; đề nghị phê bình, nhắc nhở những cá nhân, tập thể chưa hoàn thành
- Bộ phận giám thị, bảo vệ: là lực lượng duy trì kỉ cương nề nếp học sinh,
góp phần giáo dục nhà trường, vì vậy Hiệu trưởng chỉ đạo bộ phận này tham gia
công tác giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp.
- Bộ phận thư viện tạo điều kiện về tư liệu tham khảo cho việc tổ chức các
hoạt động giáo dục.
10
- Bộ phận thiết bị, đồ dùng dạy học: Xây dựng đồ dùng dạy học, trang thiết bị
phục vụ cho tổ chức hoạt động GDNGLL.
6.3.5. Hiệu trưởng phối hợp với các đoàn thể trong nhà trường.
- Tổ chức Đoàn-Hội: nội dung phối hợp cụ thể
+ Liên kết chương trình, kế hoạch hoạt động của Đoàn-Hội với kế hoạch nhà
trường.
+ Qui định lề lối làm việc giữa Hiệu trưởng với bí thư đoàn trường, giữa
GVCN với bí thư đoàn trong việc tổ chức các hoạt động GDNGLL.
+ Phân công trách nhiệm rõ ràng trong tổ chức các hoạt động giáo dục
NGLL.
+ Cừ cán bộ Đoàn-Hội đi tập huấn về nghiệp vụ hoạt động Đoàn-Hội.
+ Có chế độ bồi dưỡng khen thưởng thich đáng với thành tích của Bí thư
đoàn.
- Với công Đoàn trường.
6.3.6. Hiệu trưởng phối hợp với các lực lượng xã hội tổ chức các hoạt động
giáo dục.
- Phối hợp với cha mẹ học sinh.
- Hiệu trưởng tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương.
- Hiệu trưởng phối hợp với các lực lượng xã hội khác: cơ quan công an, trung
tâm y tế, hội cựu chiến binh, …
6.4. Hiệu trưởng tổ chức kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch:
Bất cứ hoạt động giáo dục nào, khi tổ chức hoạt động thì hiệu trưởng phải tổ
chức kiểm tra đánh giá chất lượng, hiệu quả giáo dục, từ đó rút kinh nghiệm và điều
chỉnh tổ chức hoạt động nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả cao hơn.
2. Quá trình giáo dục trong nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã
nêu trong luât giáo dục nước CHXHCN Việt Nam do Quốc hội khóa XI - Kỳ họp
thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005: “ Điều 2 chương I : Mục tiêu giáo dục là đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ,
và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng nhu cầu
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
3. Về “ Tính chất nguyên lý giáo dục”, Điều 3 Luật giáo dục có nêu:
+ “ Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục XHCN có tính chất nhân dân,
dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tuởng Hồ Chí Minh
làm nền tảng”
+ “Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành,
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà
trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.
4. Điều 26 khoản 2 điều lệ trường Trung học (ngày 02/4/2007) Quy định các
hoạt đông GDNGLL bao gồm:
Nhà trường phối hợp với các tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục ngoài nhà
trường thực hiện các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ
thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới
tính, giáo dục pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các
hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; các
hoạt động xã hội, từ thiện phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi học sinh.
5. Chương trình THPT hoạt động GDNGLL ban hành kèm theo quyết định
số: 47/2002/QĐ –BGD& ĐT ngày 19/01 /2002 của Bộ trưởng Bộ GD& ĐT .
Chương II. Thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL tại trường THPT
Võ Trường Toản, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai năm học 2008-2009.
I. Đặc điểm tình hình nhà trường
1. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương.
Đồng Nai nằm trong khu kinh tế trọng điểm phía nam, tiếp giáp với các tỉnh:
+ Công nhân viên: 11 người.
- Tỷ lệ giáo viên đạt 1,6 /lớp.
Giáo viên cư trú tại địa phương ít, phần lớn là giáo viên ở nơi khác đến giảng
dạy, cho nên việc đi lại gặp nhiều khó khăn và không ổn định, nhiều người có tư
tưởng Trường chỉ là nơi trú chân buổi ban đầu, khi có điều kiện, họ lại xin chuyển
đi nơi có nhiều thuận lợi hơn để công tác. Bên cạnh đó, giáo viên hầu hết là mới ra
trường (Trên 80% giáo viên có tuổi nghề dưới 5 năm), thiếu kinh nghiệm giảng dạy
cũng như giáo dục học sinh. Việc nâng cao chất lượng dạy và học vì thế gặp nhiều
khó khăn. Tuy nhiên, đội ngũ giáo viên trẻ của trường cũng có những ưu thể như
nhiệt tình năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác.
b. Học sinh:
Năm học 2009-2010 Trường có 35 lớp với 1720 học sinh (HS).
Số học sinh được biên chế :
+ Khối 12: 09 lớp - 441 HS. Trong đó HS nữ: 250.
13
+ Khối 11: 11 lớp - 559 HS. Trong đó HS nữ: 368.
+ Khối 10: 15 lớp - 720 HS. Trong đó HS nữ: 483.
Học sinh các địa phương nơi trường tọa lạc tuy có truyền thống hiếu học,
chăm chỉ nhưng chất lượng không cao. Đầu vào của HS nhà trường không qua thi
tuyển, điểm chuẩn xét tuyển vào lớp 10 luôn thấp hơn so với các trường lân cận
(không có HS nộp hồ sơ xét tuyển bị loại). Nhiều học sinh chưa nắm vững kiến thức
cơ bản vững, tư duy chậm. Khá đông học sinh chưa có nhận thức và động cơ học
tập đúng đắn. Do đó, việc giáo dục các em theo đúng yêu cầu, nhiệm vụ và mục tiêu
mà Đảng và nhà nước giao cho là cả một thách thức đối với tập thể sư phạm nhà
trường. Để nâng cao chất lượng cho học sinh, ngoài việc cải tiến phương pháp dạy
theo hướng phát huy tích cực và phù hợp với đối tượng thì việc đẩy mạnh các hoạt
động GDNGLL cũng là một yêu cầu cần thiết và cấp bách.
2.2 Tình hình cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động GDNGLL:
Cơ sở vật chất của trường đáp ứng tương đối tốt cho nhu cầu dạy và học với
38 phòng học đủ đáp ứng cho học 1 ca. Ngoài ra còn có:
3. Đánh giá thuận lợi và khó khăn.
14
3.1. Thuận lợi:
- Quan điểm giáo dục của Đảng và nhà nước về hoạt động GDNGLL thể hiện
qua các văn bản chỉ đạo của các cấp.
- Sự quan tâm sâu sắc của các cấp lãnh đạo và sự đồng tình ủng hộ của các
đoàn thể ở trường cũng như ở địa phương và nhất là Hội cha mẹ học sinh.
- Đội ngũ giáo viên - nhân viên trẻ, trình độ chuyên môn đạt chuẩn đào tạo,
nhiệt tình tâm huyết với nghề, với phong trào Đoàn và công tác xã hội, có tinh thần
đoàn kết cao.
- Gia đình học sinh thuần nông có truyền thống hiếu học, cư trú trên địa bàn
nông thôn, ít bị tác động của các yếu tố tiêu cực ngoài xã hội.
3.2. Khó khăn:
a. Nguyên nhân chủ quan:
- Ban lãnh đạo nhà trường: Mặc dù lãnh đạo nhà trường rất quan tâm đến
việc giáo dục học sinh thông qua các hoạt động GDNGLL nhưng những hoạt động
ấy vẫn còn mang tính hình thức, chạy theo phong trào, theo từng thời điểm, nhất là
còn bị động, trông chờ vào sự chỉ đạo của các bộ phận có liên quan: Chi bộ, đoàn
thanh niên, các phong trào của địa phương …
+ Các hoạt động GDNGLL hầu như dập khuôn, lặp lại, chưa có hình thức
mới lạ, linh hoạt, hấp dẫn, chưa đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng của đối tượng,
đôi khi chưa phù hợp với từng tâm lý đối tượng.
+ Các hoạt động GDNGLL hầu như mang tính chất bắt buộc. Tất cả những
giờ sinh hoạt GDNGLL ở trường thường được gọi chung bằng thuật ngữ “sinh hoạt
chủ điểm” và qui định trong nội quy của trường. HS không tham gia sẽ bị hạ hạnh
kiểm. Vì vậy, chưa thực sự tạo cho các em hứng thú để đến với hoạt động
GDNGLL, các em tham gia đa phần chỉ là đối phó.
+ Các hoạt động GDNGLL hầu như được tiến hành trong phạm vi toàn
trường hoặc theo từng khối lớp. Vì vậy, điều kiện phát huy tính độc lập trong suy
nghĩ, tính chủ động trong sinh hoạt giao tiếp vẫn còn hạn chế, chưa tạo điều kiện
- Về phía cha mẹ học sinh: Đa số cha mẹ học sinh thờ ơ với các hoạt động
GDNGLL, coi nó là vô bổ, không thiết thực. Có những phụ huynh còn đứng tên để
xin phép cho con được nghỉ trong các ngày, giờ sinh hoạt hoạt động GDNGLL. Hội
cha mẹ học sinh của trường ít quan tâm ủng hộ về vật chất cho những hoạt động
GDNGLL này.
- Bản thân học sinh: rất nhiều học sinh có học lực khá, giỏi thì chỉ nghĩ đến
bản thân, quyền lợi cá nhân, ít hợp tác giúp đỡ bạn bè. Còn học sinh có học lực yếu
kém, phần lớn là con em nhà lao động nghèo lại không có nhiều thời gian tham gia
hoạt động GDNGLL, các em còn phải giúp gia đình trong công việc lao động sản
xuất; một số học sinh gia đình giàu có, dư giả thì mải ăn chơi, không quan tâm đến
việc học tập, bị lôi cuốn vào những lối chơi vô bổ … vì vậy, cũng ảnh hưởng phần
nào tới chất lượng học tập cũng như rèn luyện đạo đức học sinh.
Tóm lại, trường THPT Võ Trường Toản là một trường công lập ở vùng sâu,
vùng xa có nhiều thuận lợi cũng như không ít những khó khăn, vì vậy trách nhiệm
của người Hiệu trưởng là hết sức nặng nề trong việc tổ chức các họat động của nhà
trường nhằm giáo dục học sinh một cách toàn diện. Công tác chỉ đạo hoạt động
GDNGLL, góp phần đưa chất lượng giáo dục nhà trường đi lên là một trong những
nhiệm vụ cần được người đứng đầu nhà trường quan tâm, chú trọng.
II. Thực trạng hoạt động GDNGLL tại trường THPT Võ Trường Toản
1. Công tác xây dựng kế hoạch
* Ưu điểm:
- Ngay từ đầu năm học, căn cứ vào hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học
của Sở GD và ĐT Đồng Nai, các văn bản liên tịch giữa tỉnh Đoàn Đồng Nai và Sở
GD - ĐT Đồng Nai về công tác Đoàn trường học, căn cứ vào nhiệm vụ chính trị và
xã hội ở địa phương và điều kiện cụ thể của nhà trường, Hiệu trưởng đã phối hợp
với Đoàn Thanh niên xây dựng kế hoạch hoạt động GDNGLL song song với việc
dự thảo kế hoạch năm học của nhà trường. Kế hoạch, sau khi được xây dựng hoàn
16
tất đã được triển khai trong hội đồng sư phạm nhà trường. Căn cứ vào kế hoạch
chung đó, tất cả giáo viên, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và học sinh chủ
hỗ trợ hoạt động học tập cho học sinh, giúp các em có thêm hiểu biết về các lĩnh
vực đời sống xã hội, làm phong phú thêm kinh nghiệm hoạt động tập thể, hình
thành tình cảm và niềm tin cuộc sống ở các em, góp phần giáo dục toàn diện nhân
cách học sinh, tổ chức các hoạt động hưởng ứng phong trào “xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.
- Ngoài ra, trường còn xây dựng kế hoạch GDNGLL lồng ghép với kế hoạch
chuyên môn ở một số nội dung theo sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo; các
văn bản hướng dẫn của sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai. Cụ thể là trong kế hoạch
chuyên môn của trường đã đưa các nội dung tích hợp hoạt động GDNGLL vào các
môn học chính khóa như:
17
+ Trong môn Giáo dục công dân:
Lớp 10: chủ đề đạo đức;
Lớp 11: chủ đề kinh tế và Chính trị - Xã hội;
Lớp 12: các chủ đề về pháp luật.
+ Kế hoạch tích hợp giáo dục hướng nghiệp sang hoạt động GDNGLL, có
chủ điểm, có trọng tâm, có tính khả thi. Cụ thể: điều chỉnh thời lượng hoạt động
GDNGLL thành 9 tiết/năm học sau khi tích hợp đưa sang giảng dạy ở môn công
nghệ (phần: “tạo lập doang nghiệp” ở lớp 10) và tích hợp đưa sang hoạt động
GDNGLL (do giáo viên môn công nghệ, giáo viên GDCD phụ trách) ở 3 chủ đề:
# Chủ đề tháng 9: Thanh niên với học tập, rèn luyện vì sự nghiệp công nghệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
# Chủ đề tháng 12: Thanh niên với xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
# Chủ đề tháng 3: Thanh niên với vấn đề lập nghiệp.
* Hạn chế:
- Việc lập kế hoạch như trên đã đảm bảo được các nguyên tắc, mục đích và
tâm sinh lý lứa tuổi học sinh nhưng việc thực hiện kế hoạch thường trễ, sau Hội
nghị công chức của nhà trường, kế hoạch mới được triển khai. Trong khi đó, việc
này đáng ra cần phải làm từ tháng 08 để sau khai giảng năm học mới, các bộ phận
liên quan có thể tiến hành ngay các hoạt động GDNGLL.
- Một số giáo viên chủ nhiệm được phân công dạy hoạt động GDNGLL
không được dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ. Vì thế, khi triển khai họ
không chuẩn bị hoặc không biết chuẩn bị gì và không biết tổ chức như thế nào cho
phù hợp.
* Nguyên nhân:
- Ban lãnh đạo cùng với các lực lượng cốt cán của nhà trường chưa có nhận
thức đúng đắn hoặc xem nhẹ vị trí, vai trò, mục tiêu của hoạt động GDNGLL trong
nhà trường. Do đó, thiếu sự chuẩn bị chu đáo, cụ thể một kế hoạch hoạt động
GDNGLL có chất lượng từ sớm để có thể phối hợp, triển khai một cách thống nhất,
nhịp nhàng giữa các bộ phận có trách nhiêm trong nhà trường.
- Thực hiện chương trình hoạt động GDNGLL do Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành còn máy móc, chưa vận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù hợp vào tình hình
thực tế của nhà trường, của địa phương.
2. Công tác tổ chức và chỉ đạo thực hiện:
1.1. Thành lập ban chỉ đạo
* Ưu điểm:
Đầu năm học, Hiệu trưởng ra quyết định thành lập ban chỉ đạo hoạt động
GDNGLL cùng với các ban khác hỗ trợ cho hoạt động này như: Ban văn nghệ, Ban
phụ trách ngoại khoá. Ban chỉ đạo các hoạt động GDNGLL do Hiệu trưởng làm
trưởng ban, Bí thư Đoàn trường làm phó ban thường trực, chịu trách nhiệm về nội
dung và tổ chức, các Uỷ viên là Bí thư chi Đoàn giáo viên, các Tổ trưởng chuyên
môn, giáo viên chủ nhiệm lớp và các ban khác. (Có quyết định đính kèm)
Việc thành lập Ban chỉ đạo kịp thời đã tạo điều kiện cho các thành viên có
thể thực hiện nhiệm vụ được phân công một cách hợp lệ. Trong đó, có bí thư Đòan
trường làm việc rất năng nổ, nhiệt tình, tổ chức được nhiều hoạt động lớn, tạo điều
kiện cho học sinh vui chơi, giải trí, góp phần giáo dục đạo đức cũng như giúp các
em hòa nhập tốt hơn với tập thể, tự tin hơn trước đám đông.
* Hạn chế:
- Theo thông tư số 32/TT của Bộ Giáo dục và Trung ương Đoàn ngày
15/10/1988 thì quyết định thành lập ban chỉ đạo còn thiếu các thành phần như: Đại
* Nguyên nhân:
Như đã nói ở trên, Hiệu trưởng ra quyết định thành lập ban chỉ đạo hoạt động
GDNGLL nhưng chưa có kế hoạch thống nhất với kế hoạch chung của nhà trường
và các bộ phận, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Chưa có kế hoạch qui định
chế độ sinh hoạt định kỳ hàng tháng, phân công nhiệm vụ cụ thể rõ ràng cho từng
thành viên để chỉ đạo xuyên suốt và đạt hiệu quả quản lý.
2.2. Tổ chức và chỉ đạo các lực lượng giáo dục bên trong nhà trường
2.2.1. Đối với lực lượng giáo viên chủ nhiệm
* Ưu điểm:
- Trong phân công GVCN, Hiệu trưởng có sự cân nhắc, lựa chọn cho phù
hợp với đặc điểm từng khối lớp (đặc biệt là chú ý đến đội ngũ GVCN lớp 12, lớp
10), phát huy được năng lực của giáo viên chủ nhiệm. Một số GVCN làm rất tốt
việc huấn luyện, bồi dưỡng, phát huy vai trò chủ động, tự quản của học sinh trong
việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ. Nhiều cán bộ lớp tổ chức các tiết hoạt động
ngoài giờ rất hấp dẫn, lôi cuốn học sinh tham gia nhiệt tình như: 12 C1, C2, C3, C9;
10 B1, B2, B3, B4, B10 ,B11 ….Chính sự nắm vững và phát hiện được học sinh có
khả năng tự tổ chức sinh hoạt của GVCN đã giúp đỡ rất tốt cho các hoạt động
chung của nhà trường, của Đoàn, của Hội LHTN. Ngoài ra thông qua GVCN đã
phát hiện và giới thiệu cho nhà trường các học sinh có năng khiếu văn nghệ, TDTT.
20
- Giáo viên chủ nhiệm nghiên cứu hồ sơ để nắm vững những thông tin về học
sinh, xây dựng kế hoạch chủ nhiệm cho lớp minh trong đó có sự thích hợp với kế
hoạch hoạt động GDNGLL, nắm bắt nội dung các hoạt động của nhà trường, của
Đoàn thanh niên để phổ biến, theo dõi và nhắc nhở học sinh của lớp mình thực hiện.
Tổ chức sinh hoạt chủ nhiệm vào cuối tuần hoặc đầu tuần. Giờ sinh hoạt GVCN
hướng dẫn và lớp trưởng điều khiển.
- Hoạt động GDNGLL rất phong phú và Hiệu trưởng đã dành một số hoạt
động cho học sinh đứng ra tổ chức và thực hiện dưới sự hướng dẫn và lãnh đạo sư
phạm của nhà trường. Việc làm này vừa đảm bảo tính độc lập, tư duy năng động,
sáng tạo vừa phát huy được ý thức tự nguyện, tự giác của học sinh.
2.2.2. Đối với giáo viên trường, các tổ chuyên môn:
* Ưu điểm
21
- Ban chỉ đạo hoạt động GDNGLL đều có lên kế hoạch cùng với các tổ
chuyên môn trong việc lồng ghép, tích hợp các nội dung: bảo vệ môi trường, giáo
dục dân số, phòng chống các tệ nạn xã hội… vào các bài dạy ở chính khóa trên lớp
ở các môn: Vật lý, Hóa, Sinh, GDCD, Địa, Lịch sử…
- Ban chỉ đạo đã yêu cầu các tổ chuyên môn lập kế hoạch lồng ghép, tích hợp
các nội dung này xuyên suốt chương trình cả năm học và có dự giờ rút kinh nghiệm
việc dạy lồng ghép đó.
- Hiệu trưởng đã triển khai kế hoạch của nhà trường trong đó có hoạt động
GDNGLL ngay từ đầu năm học. Do đó, tập thể sư phạm nhà trường thống nhất kế
hoạch, tham gia đầy đủ, giáo viên bộ môn theo dõi kế hoạch và chủ động trong các
nhiệm vụ được giao như: Ra đề thi đố vui để học, làm trọng tài cho các trận bóng
đá, làm ban giám khảo trong các cuộc thi do nhà trường tổ chức …
* Hạn chế:
- Đa số giáo viên được phân công tham gia tổ chức hoạt động GDNGLL có
suy nghĩ đây chỉ là một phong trào hoạt động ngoại khóa, tham gia dạy cho đủ số
tiết chuẩn theo qui định nên họ không đầu tư cho tiết dạy, chưa thật sự chủ động
tham gia các tổ chức hoạt động. Tất cả phó mặc cho Ban chỉ đạo hoạt động
GDNGLL mà vai trò chính là các thành viên trong Ban chấp hành Đoàn trường.
- Việc dạy lồng ghép, tích hợp ở các môn học thì chủ yếu các tổ chuyên môn
chỉ thực hiện theo phong trào và mang tính đối phó (khi có người dự giờ thì cũng
lồng ghép gượng ép cho có), chứ chưa được bàn bạc, nghiên cứu kỹ, thống nhất
trong tổ chuyên môn, giữa các giáo viên cùng môn. Bản thân mỗi GV chưa có ý
thức và trách nhiệm cao trong quá trình tích hợp các tri thức đời sống xã hội để giáo
dục đạo đức, nhân cách cho học sinh.
- Hiệu trưởng chưa chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch tổ chức
ngoại khóa phù hợp với đặc thù bộ môn. Kế hoạch và việc sinh hoạt định kỳ của các
tổ chuyên môn chỉ tập trung vào nội dung chuyên môn, nghiệp vụ, hầu như không
nhiều hình thức hoạt động cụ thể như: làm báo tường, thi văn nghệ, bóng đá, cầu
lông, thi cắm hoa, thi sân khấu hóa các tác phẩm văn học, … Một năm một lần tổ
chức cắm trại 26/03 cho toàn thể học sinh của trường. Tổ chức thi “Đố vui để học”
xuyên suốt cả năm học.
- Tổ chức và phát động nhiều đợt thi đua theo chủ đề:
+ Chào mừng năm học mới, chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 với
chủ điểm “tôn sư trọng đạo” với hình thức hoạt động như: Lao động vệ sinh toàn
trường, trồng và chăm sóc cây xanh, thi đua học tập và nề nếp, làm báo tường, hội
khoẻ phụ đổng, thể thao, nói chuyện chuyên đề, thi thuyết trình về phòng chống ma
túy và các tệ nạn xã hội trong học đường…, sơ kết thi đua đợt một vào ngày 20/11.
+ Đợt thi đua chào mừng ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và
ngày học sinh, sinh viên với 2 chủ điểm “Uống nước nhớ nguồn” và “Gương sáng
noi theo anh bộ đội cụ Hồ”. Đoàn trường phát động thi đua học tốt, thăm viếng tặng
qùa “Các bà mẹ Việt Nam anh hùng” và gia đình liệt sỹ; nghe các cựu chiến binh
nói chuyện truyền thống nhân ngày 22/12. Đặc biệt, Lãnh đạo nhà trường đã chỉ đạo
tổ Sử kết phối hợp với Đoàn thanh niên tổ chức ngoại khóa lịch sử: cho các lớp xây
dựng kịch bản về các chiến dịch, các nhân vật lịch sử đã được học. Với sự trợ giúp
của giáo viên bộ môn các em đóng hoạt cảnh và dự thi. Sau vòng loại, chọn mỗi
khối 3 tiết mục vào chung kết, tổ chức biểu diễn và tuyên truyền dưới cờ. Tổ chức
mít tinh ôn lại truyền thống ngày học sinh, sinh viên, nêu cao vai trò trách nhiệm
người thanh niên trong sự nghiệp xây dựng đất nước, hướng nghiệp cho học sinh để
chọn nghề thích hợp với khả năng và nguyện vọng của bản thân. Trường tổ chức
họp phụ huynh học sinh cuối học kỳ I để thông báo kết qủa học tập và hướng dẫn
những yêu cầu chủ yếu về giáo dục của nhà trường. Giải thích cho phụ huynh về
tầm quan trọng của hoạt động GDNGLL để phụ huynh tạo điều kiện thuận lợi cho
con em tham gia nghiêm túc, đánh giá đợt thi đua vào dịp sơ kết học kỳ I.
+ Đợt thi đua “Mừng Đảng, mừng Xuân” và ngày thành lập Đoàn 26/03 với 3
chủ điểm: Ngày thành lập Đoàn (26/03), ngày quốc tế Phụ nữ (08/03) và ngày thành
23
lập Đảng (03/02). Đoàn phát động phong trào thi đua học tập trong toàn trường
khảo cho thư viện của trường.
* Nguyên nhân:
- Hiệu trưởng chưa đưa việc tham gia tổ chức các hoạt động GDNGLL vào
tiêu chí đánh giá thi đua đối với mỗi giáo viên và các tổ chuyên môn. Chưa xây
dựng qui định cụ thể về chế độ khuyến khích, động viên như: hoạt động GDNGLL
được qui ra tiết thừa giờ vào qui chế chi tiêu nội bộ của trường, bồi dưỡng, khen
thưởng kịp thời đối với giáo viên, đoàn viên giáo viên, các lớp tham gia tích cực
hoạt động GDNGLL.
- Trong việc phân công còn nhiều bất cập, do Hiệu trưởng chưa phân công
công việc cụ thể cho từng thành viên trong Ban chỉ đạo hoạt động GDNGLL chịu
trách nhiệm từng mảng nên Hiệu trưởng phải làm rất nhiều công việc, hoạt động
24
thiếu đồng bộ, thiếu sự thống nhất, chưa khai thác hết năng lực sáng tạo của giáo
viên.
- Phần lớn, giáo viên nhà trường còn trẻ, thiếu kinh nghiệm trong việc tổ
chức các phong trào, vì thế khi tổ chức các hoạt động thừơng bị động, hiệu qủa đạt
được không cao. Một số giáo viên còn xem nhẹ, chủ quan và chưa nắm vững nội
dung, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
2. 3. Phối hợp với các lực lượng xã hội tổ chức các hoạt động giáo dục
2.3.1 Hội cha mẹ học sinh:
*Ưu điểm:
- Hàng tháng Hiệu trưởng và đại diện Hội cha mẹ học sinh gặp nhau trao đổi
về thông tin giáo dục học sinh trong và ngoài nhà trường vào sáng thứ hai tuần đầu.
Đồng thời tham gia nói chuyện dưới cờ dặn dò và nhắc nhở học sinh, về vai trò và
trách nhiệm của người học sinh trong nhà trường.
- Chi hội trưởng các lớp tham gia sinh hoạt lớp một lần mỗi tháng để nhắc
nhở động viên các em học tập và thực hiện tốt nội quy của nhà trường.
- Tham mưu cho Hội cha mẹ học sinh hỗ trợ kinh phí cho các đợt thi đua để
khen thưởng và động viên học sinh cũng như giáo viên kịp thời. Cùng với ban đại
diện Hội đề xuất với chính quyền địa phương tạo điều kiện và hỗ trợ nhà trường