Một số kinh nghiệm phân tích và sửa lỗi câu sai góp phần nâng cao năng lực viết câu cho học sinh lớp 5 trường tiểu học thị trấn huyện cẩm thủy - Pdf 57

MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1

1.1. Lý do chọn đề tài

1

1.2. Mục đích nghiên cứu

2

1.3. Đối tượng nghiên cứu

2

1.4. Phương pháp nghiên cứu

2

2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN

3

2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm


phát triển cùng với sự phát triển của dân tộc, Tiếng Việt ngày càng lớn mạnh.
Đến nay Tiếng Việt có địa vị ngang hàng với các ngôn ngữ trên thế giới, vì thế
vai trò của Tiếng Việt trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và đề
cao.Trong giáo dục Tiếng Việt được dùng làm ngôn ngữ chính thức trong giảng
dạy, học tập và nghiên cứu. Nó là phương tiện để truyền đạt và tiếp nhận các tri
thức khoa học, là phương tiện để tiến hành các hoạt động giáo dục tư tưởng
chính trị, đạo đức, tình cảm, lối sống. Là công cụ để tiến hành các hoạt động
nhận thức tư duy và truyền đạt kết quả nhận thức, tư duy giữa người này với
người khác. Môn Tiếng Việt còn hướng tới các mục tiêu: Bồi dưỡng tình cảm
yêu quý và thái độ trân trọng đối với Tiếng Việt. Đồng thời rèn luyện thói quen
và ý thức thường xuyên sử dụng tiếng Việt một cách cẩn trọng. Tiếp tục rèn
luyện và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp hàng ngày nhất là
trong việc học tập. Rèn luyện năng lực sử dụng Tiếng Việt một cách chính xác ,
mạch lạc, chặt chẽ và trong sáng chính là góp phần rèn luyện khả năng nhận
thức và tư duy. Ở tiểu học, môn Tiếng Việt có vai trò nền tảng cho học sinh rèn
luyện, trau dồi, phát huy vốn ngôn ngữ mẹ đẻ. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và
hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần
hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.[1]
Quyết định số 43/BGD&ĐT ngày 9/11/2001 của Bộ giáo dục và đào tạo
đã nêu rõ Mục tiêu của môn Tiếng Việt đó là:
- Hình thành và phát triển ở học sinh tiểu học các kỹ năng sử dụng Tiếng
Việt (đọc, viết, nghe, nói) và cung cấp những kiến thức sơ giản, gắn trực tiếp với
việc học tiếng Việt, nhằm tạo ra ở học sinh năng lực dùng Tiếng Việt để học tập
ở cấp tiểu học và cấp học cao hơn, để giao tiếp trong các môi trường hoạt động
lứa tuổi. Thông qua việc dạy Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinh các
thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán...)
- Cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn
hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài.
- Góp phần bồi dưỡng tình yêu, cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt,
lẽ phải và sự công bằng xã hội; góp phần hình thành lòng yêu mến và thói quen

Trong khi nói, cuối câu thường có ngữ điệu đi xuống (gắn với câu kể), lên giọng
(gắn với câu cảm, câu hỏi). Trên văn bản viết, ngữ điệu thường được thể hiện
bằng các dấu câu dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu ba chấm.
Câu bao giờ cũng gắn với một ngữ cảnh nhất định bao gồm: thời gian,
không gian, người nói, người nghe, đối tượng giao tiếp.[3]
Từ thực tiễn của việc dạy và học môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học, các em
viết được câu đúng ngữ pháp, viết câu hay là vấn đề không đơn giản. Ở lớp
5 các em phải viết câu có cấu trúc ngữ pháp phức tạp hơn thêm các thành phần
phụ, việc vận dụng ngữ pháp để đặt câu là vấn đề khó với các em. Do đó, còn
nhiều em đặt câu sai, chưa hoàn chỉnh hoặc nội dung chưa rõ ràng. Vì vậy dạy
cho học sinh viết câu đúng là một yêu cầu quan trọng và cần thiết trong rèn các
kĩ năng của môn Tiếng Việt lớp 5.
2.2. Thực trạng của việc viết câu trong môn Tiếng Việt tại lớp 5B
trường Tiểu học Thị Trấn Cẩm Thủy
Năm học 2018- 2019, tôi được nhà trường phân công dạy và chủ nhiệm
lớp 5B. Lớp tôi có tổng số 35 học sinh. Qua giảng dạy chấm bài môn Tiếng Việt
của các em, tôi thấy các em đã biết cách viết câu khi làm văn nhưng vẫn còn
mắc lỗi viết câu chưa đúng cấu tạo, chưa đúng nội dung còn sai phổ biến là câu
thiếu hoặc thừa thành phần, lỗi sai về từ liên kết về dấu câu. Khi viết bài có
4

4


trường hợp học sinh không hề dùng dấu câu hoặc dùng dấu câu một cách tùy
tiện làm cho câu của các em trở nên rối về cấu tạo không rõ ràng về nội dung.
Qua bài các bài kiểm tra viết ở phân môn Tập làm văn ( Bài kiểm tra viết
số 1 đầu năm học). Tôi thống kê kết quả như sau:
TS
học

Số HS sai
về dấu
câu hoặc
dùng dấu
câu tùy
tiện

7

Tỉ lệ
(%)

20%

Số HS
sai về từ
ngữ,
diễn đạt

5

Tỉ lệ
(%)

15%

Từ thực trạng trên, để rèn cho học sinh lớp 5 có kĩ năng viết câu đúng, tôi
mạnh dạn đưa ra các giải pháp, biện pháp cụ thể như sau.
2.3.Các giải pháp cụ thể
Để việc chữa lỗi câu sai đạt hiệu quả, tôi thường tiến hành theo các bước

thêm sức sống mới.
Ví dụ 2: Mẹ em, người bạn lớn mà vô cùng thân thiết đối với em.
Cũng là câu thiếu thành phần nhưng câu trong ví dụ 2 thuộc dạng lỗi là
thiếu từ “là” trước “người bạn”. Cách chữa đơn giản nhất là thêm từ “là” vào
trước “người bạn” để có câu đúng. Cũng có thể cho rằng nguyên nhân tạo ra câu
sai là do nhầm thành phần chú thích của chủ ngữ là vị ngữ của câu, câu này chưa
có vị ngữ để có câu đúng là thêm một vị ngữ thích hợp. Có thể chữa câu sai này
thành các câu đúng sau:
Cách 1: Mẹ em là người bạn lớn mà vô cùng thân thiết đối với em.
Cách 2: Mẹ em, người bạn lớn mà vô cùng thân thiết đối với em, luôn chỉ
bảo cho em điều hay lẽ phải.
Ví dụ 3: Mỗi con đường, góc phố, hàng cây yêu dấu.
Học sinh phát hiện và nhận xét: Chưa thành câu vì mới có bộ phận chủ
ngữ, chưa có bộ phận vị ngữ, các em sửa lại dễ dàng bằng cách thêm vị ngữ cho
câu: Mỗi con đường, góc phố, hàng cây yêu dấu đều in đậm bao kỉ niệm thân
thương.
Từ việc phân tích các câu sai trên, có thể rút ra kết luận: Muốn chữa câu
thiếu thành phần cần phải thêm thành phần còn thiếu cho câu hoặc cải biến
thành một thành phần câu vốn giữ chức năng khác thành phần còn thiếu trong
câu.
Dạng 2: Câu thừa thành phần
Câu thừa thành phần cũng gặp nhiều trong bài viết của học sinh, nguyên
nhân chủ yếu của lỗi này là do các em mang thói quen của lời nói miệng vào bài
viết.
Ví dụ : Bài thơ Tre Việt Nam nhà thơ Nguyễn Duy đã ca ngợi những đức
tính tốt đẹp của con người Việt Nam.
Để học sinh thấy rõ cái sai trong câu trên, tôi cho học sinh phân tích cấu
tạo ngữ pháp, chỉ ra chủ ngữ, vị ngữ của câu. Sau khi phân tích các em sẽ thấy
hai cụm từ cùng có thể làm chủ ngữ là “ bài thơ tre Việt Nam” và “nhà thơ
Nguyễn Duy” nhưng không thể làm chủ ngữ cho một câu được vì chúng hoàn

Ví dụ: Em lưỡng lự rất muốn đi chơi rất lâu cùng các bạn.
Sau khi trao đổi biết ý các em muốn diễn đạt. Hướng dẫn các em sửa câu
như sau: Em lưỡng lự không muốn đi chơi cùng các bạn. Hoặc Em rất muốn đi
chơi cùng các bạn.
Dạng 4: Câu có các thành phần câu không phù hợp với nhau
Ví dụ: Hình ảnh mẹ luôn chăm sóc em.
Nguyên nhân của lỗi sai này là HS không hiểu hết nghĩa của từ được
dùng và khả năng kết hợp của các từ .Hướng dẫn HS sửa bằng cách thay các từ
ngữ làm vị ngữ cho tương hợp về nghĩa. Có thể sửa lại: Hình ảnh mẹ in đậm
trong tâm trí em.
Dạng 5: Lỗi về dấu câu
Thường thì các em hay mắc lỗi về dấu câu như: quên ghi dấu, sử dụng
dấu kết thúc câu không theo mục đích nói của câu…Với những lỗi như vậy tôi
thường sửa sai tại chỗ cho học sinh. Nêu câu hỏi, gợi ý để học sinh tự phát hiện
lỗi và hướng dẫn các em tự chữa lỗi để các em nhớ và rút kinh nghiệm.
• Lỗi không dùng dấu câu
Với những lỗi không dùng dấu câu, tôi hướng dẫn học sinh xác định ranh
giới các ý, sau đó sử dụng dấu câu thích hợp để ngăn cách các ý.
Ví dụ: “ Nắng ấm sân rộng và sạch mèo con chạy giỡn hết góc này đến
góc khác hai tai dựng đứng cái đuôi ngoe nguẩy chạy chán mèo con lại nép vào
gốc cau để rình con bướm đang bay.”
7

7


Sau khi xác định ranh giới các ý, học sinh có thể chữa ví dụ trên như sau:
“Nắng ấm, sân rộng và sạch. Mèo con chạy giỡn hết góc này đến góc khác, hai
tai dựng đứng, cái đuôi ngoe nguẩy. Chạy chán, mèo con lại nép vào gốc cau để
rình con bướm đang bay.”

Dạng 7: Lỗi về trật tự câu
Ví dụ : Khi yêu cầu học sinh viết đoạn văn tả hình dáng, hoạt động của
con mèo.
Học sinh có thể nêu miệng cách tả con mèo như sau: "Con mèo nhà em
nặng khoảng một ki- lô -gam rưỡi. Lông nó màu tro. Em nhớ có một lần, nó ra
vườn chuối, thấy một con chuột vàng béo quay. Nó rón rén , co mình lại nấp vào
8

8


gốc chuối. Mắt nó nhìn con chuột rồi bất chợt nó lao vút tới chỗ con chuột,
trong giây lát, nó đã tóm gọn con chuột vào miệng.Đầu nó trông to bằng cái
nắm đấm của em. Mắt nó tròn xoe, tinh nghịch."
Đoạn văn trên đây HS viết câu chưa mach lạc do một số câu được sắp
xếp theo thứ tự không hợp lí: cần tả hết các chi tiết về hình dáng rồi mới tả hoạt
động của con mèo nhưng học sinh đã miêu tả hoạt động khi chưa tả xong hình
dáng sau đó lại tiếp tục nêu một số chi tiết về hình dáng.
Tôi hướng dẫn các em sửa lại như sau: Hãy nêu các chi tiết về hình dáng
của con mèo, những chi tiết tả hoạt động của con mèo sau đó hướng dẫn các em
sắp xếp các chi tiết đó theo một trình tự : Tả hình dáng sau đó đến tả hoạt động.
Học sinh đã sửa lại đoạn văn như sau:
Con mèo nhà em nặng khoảng một ki- lô -gam rưỡi. Lông nó màu tro.
Đầu nó trông to bằng cái nắm đấm của em. Mắt nó tròn xoe, tinh nghịch. Em
nhớ có một lần, nó ra vườn chuối, thấy một con chuột vàng béo quay. Nó rón
rén , co mình lại nấp vào gốc chuối. Mắt nó nhìn con chuột rồi bất chợt nó lao
vút tới chỗ con chuột, trong giây lát, nó đã tóm gọn con chuột vào miệng.
Như vậy sau khi sửa lại học sinh đã biết viết câu sắp xếp các chi tiết trong
đoạn một cách mạch lạc, có trật tự.
Dạng 8: Lỗi viết câu chưa mạch lạc về ý

làm của mình, hình thành kĩ năng viết đúng ở các em. Trong bài làm của các em
có sự chuyển biến rõ rệt, các em đã biết viết câu đúng về cấu trúc ngữ pháp, nội
dung mạch lạc, từ đó giúp các em nói, viết đúng góp phần giữ gìn sự trong sáng
của Tiếng Việt. Kết quả cụ thể trong bài kiểm tra định kì cuối học kì 1 năm học
2018-2019 như sau:
Số học
TS
sinh
học
viết câu
sinh
đúng

35

10

30

Tỉ lệ
(%)

85,5
%

Số HS
viết câu
chưa
đúng
cấu tạo


2,8%

10


3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Sau một thời gian áp dụng vào thực tế giảng dạy ở lớp Năm, qua các kết
quả kiểm tra, đề tài đã thu được một số kết quả nhất định. Học sinh có những
chuyển biến rõ rệt trong việc nói và viết câu đúng về cấu trúc mạch lạc về nội
dung. Đồng thời, bản thân tôi cũng rút ra được một số bài học kinh nghiệm như
sau:
- Để học sinh viết câu đúng pháp, trước hết phải dạy cho học sinh nắm
vững các kiến thức cơ bản về ngữ pháp trong câu. Nhận biết được thành phần
nòng cốt câu. Cho học sinh nhận xét, phát hiện các thành phần còn thiếu trong
câu. Từ đó, hướng dẫn học sinh đặt câu có đầy đủ các thành phần chính.
- Trong hoạt động giao tiếp, giáo viên cần gợi mở cho học sinh tìm tòi,
suy nghĩ… để có sáng tạo hơn thông qua hoạt động nhóm học tập, hoạt động
giao tiếp trong và ngoài lớp…Tạo cho các em các thói quen quan sát, đánh giá
nhìn nhận một sự việc, một vấn đề nào đó và diễn đạt điều đó bằng vốn từ ngữ,
ngôn ngữ của mình. Tránh và hạn chế tối đa việc sử dụng từ không đúng lúc,
không đúng chỗ, nói năng không trọn câu. Điều chỉnh kịp thời về những lỗi
dùng từ, đặt câu cho học sinh.
- Giáo viên dạy phải luôn có lòng yêu nghề, yêu người, có ý thức trách
nhiệm và tinh thần học hỏi và mạnh dạn áp dụng những cái mới vào trong thực
tiễn giảng dạy. Nắm chắc nội dung dạy học, những kiến thức kĩ năng cần thiết
trang bị cho học sinh. Nắm chắc nguyên nhân các em viết câu sai để đưa ra biện
pháp sửa chữa phù hợp đối với học sinh. Đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu
sâu sắc các kiến thức khi dạy cho học sinh.

sách tham khảo, trang thiết bị phục vụ bộ môn.
- Động viên khuyến khích kịp thời giáo viên và học sinh trong giảng dạy
và học tập.
- Quan tâm xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên
môn nghiệp vụ.
Trên đây là những kinh nghiệm của cá nhân tôi trong quá trình nghiên cứu
và thực hiện. Rất mong nhận được sự góp ý và bổ sung của đồng nghiệp để việc
áp dụng vấn đề vào giảng dạy đạt hiệu quả cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !.

12

12


Cẩm Thủy,ngày 15 tháng 3 năm 2019
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết

Phạm Thị Thủy

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tiếng Việt thực hành – Tác giả Bùi Minh Toàn, nhà xuất bản Giáo dục.

2. Phương pháp dạy học các môn ở lớp 5 –Tập 2, nhà xuất bản Giáo đục


Cấp đánh giá xếp
loại

Kết quả
đánh giá
xếp loại

Năm học
đánh giá
xếp loại

(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)

(A, B, hoặc C)

Cấp huyện

Xếp loại B

Năm học
2010 -2011

Cấp huyện

Xếp loại B

Năm học
2011 -2012


14


ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SKKN CỦA HĐKH NHÀ TRƯỜNG
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................

Xếp loại:............................................................................................
TM. HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG
Chủ tịch

15

15


ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SKKN CỦA HĐKH
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN CẨM THỦY
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................

Xếp loại:............................................................................................
TM. HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GD&ĐT

TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÂN TÍCH VÀ SỬA LỖI
CÂU SAI GÓP PHẦN NÂNG CAO NĂNG LỰC VIẾT
CÂU CHO HỌC SINH LỚP 5B TRƯỜNG TIỂU HỌC
THỊ TRẤN CẨM THỦY

Người thực hiện: Phạm Thị Thủy
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thị Trấn Cẩm Thủy
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt

18

18


THANH HÓA, NĂM 2019

19

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status