skkn một số KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH và bồi DƯỠNG kỹ NĂNG nói CHO học SINH lớp 1 - Pdf 38

ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH
VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài.
Ở Tiểu học môn Tiếng Việt có vị trí vô cùng quan trọng. Học tốt môn
Tiếng Việt các em có cơ sở để tiếp thu và diễn đạt tốt các môn học khác. Trong
bốn kĩ năng: (Nghe, nói, đọc, viết) thì kỹ năng nói có vị trí thứ hai trong yêu cầu
cơ bản cần đạt của học sinh. Kỹ năng nói góp một phần quan trọng đáng kể giúp
học sinh Tiểu học nói chung, học sinh lớp 1 nói riêng học tốt các phân môn Kể
chuyện, Luyện từ và câu… Kỹ năng nói tốt sẽ giúp chúng ta chiếm được tình
cảm của mọi người, giúp chúng ta tự tin hơn khi diễn đạt một vấn đề gì đó trước
tập thể. Học sinh đầu cấp nói tốt sẽ giúp các em diễn đạt rõ ràng, mạch lạc,
mạnh dạn trình bày suy nghĩ của mình cũng như trong việc góp ý xây dựng bài.
Trước thời đại thông tin: tuyên truyền, điện thoại, diễn thuyết cũng rất cần đến
kĩ năng nói. Trong việc học tập với phương pháp mới: phát huy tích cực của học
sinh phải trình bày lời nói trong giải thích, mô tả… rất cần đến kỹ năng nói.
Trong sinh hoạt, Kỹ năng nói là một phần quan trọng trong kỹ năng giao tiếp là
một kỹ năng sống rất cần cho mỗi học sinh.
Ngày nay trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức, thời đại bùng nổ
công nghệ thông tin, ngôn ngữ nói được thay bằng ngôn ngữ viết qua máy tính
(gửiE.mall, chát, nhắn tin… trên mạng). Như vậy, việc rèn luyện bồi dưỡng kĩ
năng nói cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng chưa được
chú trọng, chưa quan tâm đúng mức. Trong thực tế cho thấy, một số người có
trình độ cao khi viết một văn bản nào đó đọc nghe rất có tính thuyết phục nhưng
khi trình bày ý kiến trước đám đông lại gặp rất nhiều khó khăn.
Cho nên với học sinh lớp 1, các em là một thế hệ trẻ chập chững mới
bước vào đời lại không có ý thức trong việc sử dụng ngôn ngữ, khả năng giao
tiếp còn hạn chế.

triển nhân cách toàn diện cho học sinh, giúp các em có được kỹ năng sống tốt để
trở thành người có ích cho xã hội.
I.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh lớp 1, qua những năm học trước tại trường Tiểu học Nguyễn
Văn Trỗi.
- Qua giao lưu, tiếp xúc với giáo viên trường bạn.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
Thực hiện quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt, việc dạy kỹ
năng nói cho học sinh được quan tâm rất nhiều, đặc biệt với học sinh ở lớp đầu
cấp sẽ giúp các em biết cách giao tiếp ứng xử trong nhiều tình huống cuộc sống
và giúp các em phát triển được tất cả các dạng lời nói mà cuộc sống đang đòi hỏi
ở các em, hướng các em trở thành người năng động, sáng tạo, hoàn thiện…
Trong phạm vi đề tài này tôi xin được trình bày vấn đề: “Một số kinh nghiệm
hình thành và bồi dưỡng kỹ năng nói cho học sinh lớp 1”.
Người thực hiện: Hoàng Thị Hồng Vân

2


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

I.5. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình hình thành và bồi dưỡng kỹ năng nói cho học sinh tôi đã
kết hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp trực quan, phương pháp quan sát, giảng giải để giải quyết
vấn đề.
- Phân tích những nguyên nhân nhân dẫn đến yếu kém trong việc rèn kĩ
năng nói của học sinh.
- Thực hành, luyện tập.
- Tiến hành trên lớp chủ nhiệm, lồng ghép trong các môn học khác, các


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

nghĩ của mình nhằm phát huy kỹ năng nói cho các em, nhằm giúp trẻ có tính
mạnh dạn, cởi mở, tự tin trong giao tiếp.
Trong thực tế, học sinh đầu cấp chưa có thói quen rèn kỹ năng nói, còn
nói theo người lớn. Đa số học sinh nói không thành câu, rút gọn câu nói, nói
ngắc ngứ, không có sự liên kết trong bài nói, thiếu tự tin, có khi còn dùng những
câu nói thiếu văn hóa, không lễ phép khi giao tiếp. Tình trạng này còn kéo dài sẽ
dẫn đến các em ngại tiếp xúc, ngại giao tiếp. Khi lên các lớp trên các em sẽ có
thói quen đọc thuộc câu chuyện hay một bài nói một cách máy móc.
- Do biến đổi về mặt tâm lí, khi chưa đi học, trẻ nói một cách tự do không
chủ định nhưng khi vào lớp 1 các em phải nói theo từng chủ đề.
- Các em rụt rè, sợ hãi khi đứng trước đám đông.
- Tư duy học sinh lớp 1 là tư duy trực quan, hình ảnh, tư duy cụ thể qua
tranh ảnh minh họa nhưng khả năng quan sát chi tiết kém.
- Bên cạnh đó người giáo viên chưa ý thức được vai trò của việc rèn luyện
kĩ năng nói, nên đã quá coi trọng hai kĩ năng đọc, viết mà bỏ qua kĩ năng nói,
dần dần trở thành thói quen “lướt qua”dạy kỹ năng này hoặc có dạy nhưng
không thường xuyên liên tục.
- Một số giáo viên chưa biết vận dụng tích hợp nội dung dạy- học kỹ năng
nói với các kỹ năng còn lại (đọc, viết, nghe) vào các môn học khác.
- Qua trao đổi, dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy đa số giáo viên chỉ chú
trọng đến 2 kỹ năng đọc và viết, còn kỹ năng nói dường như bị xem nhẹ ít chú
trọng, thậm chí còn bỏ qua. Có chăng đi nữa học sinh chỉ được học lướt qua ở
phân môn kể chuyện và phần luyện nói trong thời gian rất ngắn.
II.2. Thực trạng.
a. Thuận lợi- khó khăn.
- Thuận lợi: Đơn vị tôi đang công tác nằm ngay trung tâm thị trấn Krông
Năng, được sự quan tâm hỗ trợ tích cực của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa

thiện cảm, thêm vào đó là thái độ rụt rè, ít cởi mở trong giao tiếp, không mạnh
dạn khi bày tỏ ý kiến của mình, nói lúng ta lúng túng. Cho nên khi các em bước
vào lớp 1 các em phải nói có chủ định, theo từng chủ đề, luyện nói theo tranh,
ảnh minh họa, đồ dùng trực quan… trong môn Học vần và Tập đọc nên các em
gặp rất nhiều khó khăn trong cách sử dụng ngôn từ và câu cú để diễn đạt.
c. Mặt mạnh- mặt yếu
- Mặt mạnh: Trong phân môn Tiếng Việt 1, nội dung dạy luyện nói được
cấu trúc chặt chẽ hợp lí, sắp đặt xen kẽ vào cuối tiết học thứ hai môn Tiếng Việt.
Chủ đề luyện nói bao giờ cũng có tiếng chứa âm vần mới học. Nội dung các bài
luyện nói đa dạng phong phú về mọi lĩnh vực và tương đối gần gũi với học sinh
và được tăng dần ở mức độ theo các chủ đề giúp học sinh dễ tiếp thu bài.
Sách giáo khoa trình bày hình vẽ rõ ràng gây hứng thú học tập cho học sinh.
- Mặt yếu: Phần đa giáo viên chưa đầu tư nhiều khi dạy luyện nói cho học
sinh, rất ít sử dụng đồ dùng dạy học cho học sinh quan sát, chỉ dạy lướt qua,…
nên chưa phát triển được vốn từ và cách diễn đạt cho học sinh. Thêm vào đó học
sinh còn rụt rè, thiếu tự tin, nói chưa thành câu hoặc cũng có em đứng lên không
dám nói trước đám đông cũng hạn chế rất nhiều trong việc bồi dưỡng kĩ năng
nói cho các em.
Người thực hiện: Hoàng Thị Hồng Vân

5


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

d. Các nguyên nhân, yếu tố tác động.
- Đa số học sinh còn rụt rè nhút nhát, nhất là đối với học sinh dân tộc Êđê Tiếng Việt các em chưa rành, vốn từ còn rất ít nên các em gặp không ít khó
khăn trong phần luyện nói, giao tiếp.
- Gia đình cũng chưa thực sự quan tâm đến phần luyện nói cho các em,
chủ yếu chỉ quan tâm đến việc đọc, viết của các em là chính nên cũng không sửa


6


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

- Tranh vẽ gì?
- Câu chuyện này có mấy nhân vật? là những ai?
- Câu chuyện này xảy ra ở đâu?
- Qua câu chuyện này, con thấy các nhân vật thế nào?
- Sau đó gọi học sinh nêu ý nghĩa câu chuyện.
- Cũng còn có một số giáo viên chưa biết vận dụng tích hợp nội dung dạy
học kỹ năng nói với các kỹ năng còn lại (đọc, viết, nghe) vào các môn học khác.
Chưa vận dụng hết phương pháp, tâm huyết của mình để dạy cho học sinh của
mình luyện nói có hiệu quả.
Ví dụ:
- Trong các môn: Đạo đức, TNXH… giáo viên cho học sinh luyện nói
trong khi trao đổi nhóm với bạn hoặc đàm thoại cả một tập thể (GV hỏi học sinh
cả lớp trả lời) trong một hoạt động của bài như:
- Luyện nói trong môn Đạo đức bài tập 1 (Bài 14: Bảo vệ hoa và cây nơi
công cộng- VBT Đạo đức trang 45)
- Con quan sát tranh và cho biết:
- Các bạn nhỏ đang làm gì?
- Những việc làm đó có lợi gì?
- Con có thể làm được như các bạn không?
Giáo viên chỉ dừng lại mức độ “Thầy hỏi - trò đáp hoặc bạn này hỏi và
bạn khác trả lời”
Trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ một số em còn vụng về, nói còn lấp
lửng, chưa đủ câu, nói nhát gừng, thiếu chủ ngữ, cử chỉ thể hiện chưa đúng với hoàn
cảnh… là do giáo viên ít có thời gian sửa sai, uốn nắn kịp thời cho các em.

nông nghiệp, bàn và giải quyết các nội chính là chủ yếu, còn việc nói năng của
học sinh họ nghĩ rằng đó là việc của nhà trường…
Dạy học sinh lớp 1 đòi hỏi người giáo viên phải có tâm huyết, chịu khó,
kiên trì lâu dài trong quá trình hình thành, rèn luyện kỹ năng nói cho các em, tạo
tiền đề cho các em học tốt phân môn Tập làm văn, Luyện từ và câu… ở các lớp
trên mà còn giúp cho các em có một kỹ năng sống tốt, trở thành người có văn
hoá, có nhân cách, những người có ích cho xã hội.
Từ những thực trạng trên, tôi đã tìm ra một số giải pháp thiết thực để giúp
các em lớp 1 rèn luyện kỹ năng nói và kỹ năng diễn đạt ý phong phú, hiệu quả
hơn, giáo viên và học sinh hứng thú tích cực hơn trong việc học môn Tiếng Việt
và các môn học khác.
II.3. Giải pháp, biện pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến chất lượng dạy luyện nói cho học sinh
chưa cao.
Đề xuất, áp dụng một số nội dung và kinh nghiệm hình thành và bồi
dưỡng kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 giúp học sinh học tốt phần luyện nói trong
môn học Tiếng Việt và các môn học khác cũng như trong cuộc sống giao tiếp
hằng ngày.

Người thực hiện: Hoàng Thị Hồng Vân

8


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

b. Nội dung và cách thức thực hiện Giải pháp, biên pháp:
Nội dung:
1. Rèn kỹ năng nói theo từng chủ đề trong phân môn Học vần và Tập đọc.

nhóm từ một câu rồi đến hai câu.
Người thực hiện: Hoàng Thị Hồng Vân

9


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

Tạo cho các em mạnh dạn, tự nhiên khi giao tiếp, bằng những lời xưng hô
phù hợp với từng đối tượng. Giáo viên theo dõi, quan sát để kịp thời uốn nắn,
chữa từng tiếng, từng câu xoay quanh chủ đề đang nói.
Ví dụ: Chủ đề: Nói lời xin lỗi, Nói lời cảm ơn, Vâng lời cha mẹ…Với các
chủ đề này, giúp các em biết nói lời xin lỗi khi có lỗi, biết chào hỏi, cám ơn,…
bằng những câu đơn giản làm cho người nghe dễ hiểu khi giao tiếp trong cuộc
sống.
* Bước 3.
Luyện nói trước lớp.
Sau khi các em luyện nói trong nhóm, giáo viên cử đại diện lên trình bày.
Nếu để cho các nhóm trưởng cử, thường thì các em cử các bạn có năng lực
luyện nói tốt. Tuy nhiên để tránh tình trạng chây lười, ỷ lại các em học tốt, giáo
viên có thể cho các em khác bất kì trong nhóm lên luyện nói, đặc biệt là các em
hay rụt rè, không dám nói trước đám đông.
* Bước 4. Hướng dẫn học sinh nhận xét.
Cho học sinh nhận xét cách luyện nói của mình, không nhận xét chung
chung, mà yêu cầu các em khác nhận xét cụ thể về một nội dung luyện nói, tác
phong luyện nói có tự nhiên, đã thành câu, hay rụt rè, chưa thành câu… Với học
sinh còn yếu thì giáo viên hướng dẫn các em khác nhận xét về mức độ tiến bộ
của bạn nhằm giúp các bạn đó tự tin và tiến bộ hơn.
* Bước 5
Giáo viên nhận xét, tổng kết.

nói
Mai sau lớn lên, bạn thích làm nghề gì?
Tại sao bạn thích nghề đó?
Với học sinh học yếu, giáo viên sẽ gợi ý kĩ hơn. Chẳng hạn: Nghề đó đem
lại lợi ích gì cho bản thân và cho mọi người? Với học sinh khá thì gợi ý mở
rộng thêm:
Em đã nói hoặc sẽ nói ý định đó với ai?
Muốn trở thành người như em mong muốn, ngay từ bây giờ em phải làm gì?
Với học sinh khá, giỏi nói gợi ý trên một cách tự nhiên thành công, bước
đầu biết liên kết các câu lại thành một bài nói.
* Bước 3: Nói trước lớp
Giáo viên cho nhóm trưởng nói hoặc cử đại diện nhóm nói trước lớp.
- Đại diện các nhóm trình bày.
- Khi cử đại diện nói trước lớp phải lưu ý gọi nhiều đối tượng khác nhau trong
lớp vừa uốn nắn, sửa chữa vừa học tập lẫn nhau để các em cùng nhau tiến bộ.
* Bước 4: Hướng dẫn học sinh nhận xét.
Cho học sinh nhận xét cách luyện nói của bạn mình, cụ thể:
+ Nội dung bài nói của bạn đã phù hợp với chủ đề “Mai sau khôn lớn” chưa?
+ Với các bạn… (yếu) đã nói tiến bộ chưa về cách nói và nội dung nói.
Học sinh nhận xét cụ thể từng bạn về những điểm đạt được và chưa đạt được,
cần khắc phục ở điểm nào?
* Bước 5: Giáo viên nhận xét, tổng kết
Nhận xét cụ thể những điều đã làm được để khuyến khích khen ngợi các
em. Chỉ ra chi tiết vấn đề chưa làm được, động viên các em khắc phục trong bài
luyện nói sau.
Người thực hiện: Hoàng Thị Hồng Vân

11



Giờ kể chuyện là giờ thực hành nói của học sinh. Sau khi nghe giáo viên
kể chuyện, học sinh nhớ được nội dung chính của câu chuyện, kể lại (hoặc nói)
được câu chuyện một cách tóm tắt (dựa theo tranh). Vì vậy để dạy học sinh
luyện nói tốt trong giờ kể chuyện, theo tôi có những yêu cầu và biện pháp sau:
a. Những yêu cầu đối với giáo viên
Cần rèn giọng kể linh hoạt, phù hợp với nội dung, làm cho lời kể thật sự
hấp dẫn với học sinh. Muốn vậy, cần đọc kĩ văn bản cho thật hiểu và nhớ để xác
lập được kĩ thuật kể chuyện (về giọng kể, nhịp điệu, ngắt giọng)
Người thực hiện: Hoàng Thị Hồng Vân

12


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

b. Các bước tiến hành để dạy học sinh luyện nói trong giờ kể chuyện.
* Bước 1: Giới thiệu câu chuyện
Biết mở đầu câu chuyện là một thủ thuật giúp học sinh tạo hứng thú, sự
chờ đợi, kính thích trí tò mò của các em.
* Bước 2: Giáo viên kể chuyện 2, 3 lần
Lần 1: Kể toàn bộ câu chuyện
Lần 2, 3: Kể tiếp nối từng đoạn (kết hợp tranh minh họa)
Khi kể cần chú ý kĩ thuật kể:
+ Giọng kể: vui hoặc buồn, hào hứng hoặc bi lụy……
+ Nhịp điệu: nhanh hoặc chậm, gấp gáp hoặc hiền hòa, khoan thai.
+ Ngắt giọng tâm lý: ngắt giọng với các chủ ý gây ấn tượng câu chuyện.
+ Biết bổ sung hợp lí một vài từ ngữ vào văn bản chuyện vốn cô đọng,
hàm xúc, sẽ làm cho lới kể chuyện thêm sinh động, lôi cuốn thêm.
* Bước 3: Học sinh kể từng đoạn câu chuyện theo tranh và gợi ý dưới
tranh. Vì đây là bước học sinh thực hành nói nên để học sinh nào cũng được

+ Lời Sói thể sự băn khoăn. Lời Sóc khi đứng trên cây giải thích: ôn tồn
nhưng rắn rỏi, mạnh mẽ.
* Bước 3: Học sinh kể từng đoạn theo tranh
Giáo viên chia nhóm 2 học sinh giao nhiệm vụ.
Tranh 1: Học sinh quan sát tranh đọc các câu hỏi dưới tranh. Học sinh kể
lại từng đoạn dựa theo tranh trong nhóm.
Đại diện vài nhóm thi kể, cử 2 học sinh làm giám khảo chấm điểm công
khai. Cả lớp nhận xét cụ thể: Bạn đã nhớ nội dung đoạn chuyện chưa, kể còn
thiếu hay thừa chi tiết nào không? Có diễn cảm không? Sau đó giáo viên sửa
chữa từ ngữ, câu, ý cho học sinh diễn đạt được trôi chảy. Tương tự các tranh còn
lại. Giáo viên hướng dẫn bằng những câu hỏi gợi ý để giúp các em tự tin hơn khi
kể chuyện, tạo điều kiện cho các em được nói trước lớp.
* Bước 4: Học sinh phân vai kể toàn bộ câu chuyện (học sinh khá, giỏi)
Mỗi nhóm gồm 3 em đóng vai: Người dẫn chuyện, Sói và Sóc.
Để việc phân vai thật hứng thú, hấp dẫn với các em, nên cho các em trang
phục mặt nạ Sói và Sóc.
Để học sinh nhớ chắc chắn, kể được toàn bộ câu chuyện, giáo viên tăng
dần yêu cầu với mỗi nhóm:
+ Nhóm 1: Giáo viên là người dẫn chuyện các nhân vật nhìn tranh minh
họa và câu hỏi gợi ý dưới tranh trong SGK để kể chuyện.
+ Nhóm 2: Người dẫn chuyện nhìn sách
+ Các nhóm sau: Kể thoát li sách, thực sự nhập vai.
Giúp các em luyện nói qua phần tìm hiểu ý nghĩa câu chuyện. Giáo viên
gơị ý một số câu hỏi chẳng hạn như:
- Sói và Sóc con vật nào thông minh hơn?
- Vì sao con biết?
- Muốn thông minh các con phải làm gì?
……
Tóm lại: Dạy luyện nói trong phân môn kể chuyện người giáo viên chú ý
rèn cho các em mạnh dạn, tự tin, khi học sinh kể, giáo viên chú ý sửa về ngữ

và kết luận.
Trong môn đạo đức giáo viên cũng thực hiện kết hợp tương tự để học sinh
luyện nói.
Ví dụ: Khi dạy bài 13 “Chào hỏi và tạm biệt” VBT Đạo đức trang 42.
Hoạt động đầu tiên ở bài tập 1 là quan sát tranh 1 và tranh 2 ở VBT
Giáo viên gợi ý: Trong tranh con thấy vẽ những gì? (Trong tranh con thấy
1 cụ già và 2 bạn nhỏ).
Các bạn trong tranh đang làm gì? (Bạn đang chào bà cụ: Chúng cháu
chào bà ạ)…
Giáo viên cho học sinh thảo luận trong nhóm đôi hay nhóm ba (ở hoạt
động hai) theo các câu hỏi gợi ý để học sinh luyện nói với nhau trong nhóm sau
đó xung phong lên trình bày ý kiến trước lớp:
Em cảm thấy thế nào khi:
+ Được người khác chào hỏi?
Người thực hiện: Hoàng Thị Hồng Vân

15


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

+ Em chào hỏi họ và được họ đáp lại?
……
Hãy viết mỗi bạn một vài câu hỏi theo suy nghĩ của mình vào giấy hoặc
bảng con sau đó từng cá nhân trong nhóm đọc lên, trao đổi với nhau.
Giáo viên gọi học sinh nhận xét bạn từ, lời nói, thái độ… và giáo viên sửa
chữa, uốn nắn các em, giúp các em nhận ra cách thể hiện, ứng xử hay nhất, lời
nói hay nhất.
4. Dạy luyện nói trong giao tiếp
Hoạt động nói đã được hình thành trước khi vào lớp 1, nhưng để trở thành


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

Ví dụ: Một nhón học sinh lớp 4, 5 đi học về gặp cô giáo cũ, có em không
chào hỏi, còn có em chỉ chào tiếng một mà tôi nghe được “Cô”. Hôm sau tôi gặp
GVCN trao đổi, cô và tôi cùng sửa chữa ngay lời chào cho các em khi gặp người
lớn, thầy cô giáo… lần sau gặp tôi các em có sự chuyển biến rất tốt.
5. Giáo viên là tấm gương thể hiện hành vi giao tiếp để học sinh noi theo.
Ngoài các hoạt động dạy học trên, giáo viên chủ nhiệm cần thường xuyên
gần gũi, bám sát học sinh trong mọi hoạt động (trong sinh hoạt lớp, sinh hoạt 15
phút đầu giờ, khi lao động dọn vệ sinh…). Giúp các em luyện nói ở mọi lúc, mọi
nơi khi cảm thấy cần thiết, khi trò chuyện trao đổi, trò chuyện với các bạn, giáo
viên cần quan tâm để ý từng lời nói, hành động của các em để các em sửa sai kịp
thời. Hướng dẫn cho các em cách nói, xưng hô với người lớn, với thầy cô, bạn
bè. Tập cách nói thành câu khi trả lời khi người lớn hỏi, câu nói phải có chủ
ngữ, giáo viên là tấm gương thực tế nhất giúp cho học sinh luyện nói. Cho nên
khi giao tiếp, giáo viên cần chú mọi lúc, mọi nơi khi thể hiện lời nói của mình để
học sinh noi theo.
Ví dụ: Khi chào hỏi đồng nghiệp: Em chào anh (Chị)! Thông thường
chúng ta chỉ chào: Chào anh (chị)! Hoặc khi kiểm tra bài của học sinh, giáo viên
thường gọi: Em lên đọc bài…(Giáo viên nên gọi: Thầy(Cô) mời em lên trước
lớp đọc bài)...
Trong lúc tiếp chuyện với phụ huynh, giáo viên cũng cần chú ý từng lời
nói, hành động, cử chỉ để học sinh noi theo.
6. Dạy luyện nói khi tổ chức các hoạt động ngoại khoá.
Trong các buổi sinh hoạt sao hàng tuần, giáo viên chủ nhiệm cũng cần
hướng dẫn các em phụ trách sao soạn sẵn nội dung sinh hoạt, sao cho các câu
hỏi, câu trả lời đầy đủ về ý, rõ lời, diễn đạt được nội dung cần giao tiếp được lưu
loát, bóng bẩy hơn để các em học hỏi.
Ví dụ: Khi các em gặp anh(chị) phụ trách sao ở mỗi lần sinh hoạt:

giáo viên dành thời gian đề cập đến đề luyện nói của các em với phụ huynh học
sinh để cùng nhà trường bồi dưỡng, rèn luyện cho các em được tốt hơn.
Về Xã hội: GVCN gặp ban đại diện thôn, buôn, trao đổi vấn đề của mình
để khi phụ huynh đi họp thôn, buôn họ cùng nhau nhắc nhở.
Ví dụ: Hướng dẫn các em chào hỏi khi gặp thầy cô, khi có khách tới nhà.
Hướng dẫn luyện nói trong khi mọi người ăn cơm, hỏi thăm sức khoẻ của người
ở xa…
Học sinh hay nói chưa đủ câu, nói cộc Gia đình uốn nắn sửa chửa
lốc, chưa lưu loát…
Chào Bác!
Con chào bác ạ!
Ăn Cơm
Con mời bố, mẹ ăn cơm
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Để thực hiện tốt việc hình thành và bồi dưỡng kỹ năng nói cho học sinh
lớp 1, giáo viên cần chú ý thực hiện một số điểm sau:
Xác định và nắm rõ mục tiêu chính của chủ đề cần luyện nói. Chính chủ
đề là điểm tựa, gợi ý cho phần luyện nói, gợi ý sao cho tất cả học sinh đều được
nói, không đi quá xa chủ đề.
Tùy tình hình thực tế và khả năng nói của từng em để đưa ra phương pháp
và hình thức dạy luyện nói phù hợp với đối tượng.
Phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý cho từng bài thật kĩ.
Người thực hiện: Hoàng Thị Hồng Vân

18


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

Cần định hướng trước khi học sinh luyện nói. Khi khi đặt câu hỏi phải sát

tạo không khí học thật nhẹ nhàng, tự nhiên và nên duy trì điều đó trong giờ
luyện nói.
Xác định rõ mục tiêu chính của chủ đề luyện nói, giúp học sinh hiểu rõ
chủ đề và gợi ý sao cho tất cả các học sinh đều được nói.
Người thực hiện: Hoàng Thị Hồng Vân

19


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

* Các hoạt động trong giờ luyện nói.
Giáo viên phải kích thích nhu cầu nói của học sinh bằng cách sử dụng
trực quan, tạo tình huống giao tiếp phù hợp, động viên học sinh tham gia tích
cực khi luyện nói.
Ngoài hoạt động luyện nói theo chủ đề chúng ta cần tạo nhu cầu giao tiếp
nhất định. Học sinh sẽ không nói được hoặc không đạt hiệu quả gì khi ép buộc
phải giao tiếp.Vì thế, việc tạo ra nhu cầu nói năng cho học sinh hết sức quan
trọng. Khi có nhu cầu biểu đạt, các em sẽ mạnh dạn hơn, hứng thú hơn, trình
bày chân thực hơn những suy nghĩ riêng của mình về đề tài đang được bàn đến,
tránh để tình trạng mượn lời hoặc nói lại lời người khác.
Để tạo ra nhu cầu giao tiếp cho học sinh, giáo viên cần phải tạo ra những
tình huống giả định, song phải có tính chân thực, không gượng ép, khô cứng,
phải gần gũi và có sức hấp dẫn, lôi cuốn, kích thích nhu cầu cho các em khi đã
hoà mình vào tình huống, nhập được vai giao tiếp thì lúc ấy các em sẽ thực sự
thể hiện hết mình điều muốn nói. Nhu cầu giao tiếp rất đa dạng như: nhu cầu
muốn bộc lộ sự hiểu biết, muốn thể hiện kết quả học tập, rèn luyện, nhu cầu
muốn tranh luận, bàn bạc với bạn bè một vấn đề gì đó… Tất cả những nhu cầu
đó đều là động lực kích thích các em nói trong lúc luyện nói. Vì thế giáo viên
cần quan tâm tìm hiểu nhu cầu nói của học sinh để có những biện pháp kích

phải nhìn trước ánh mắt nghiêm khắc của giáo viên hoặc cái nhìn xét nét của bạn
bè trong lớp.
Thời gian dạy luyện nói trong môn Tiếng Việt không nhiều, nhất là ở
phần Học vần (từ 3 đến 7 phút) nên giáo viên phải tận dụng thời gian, phối hợp
với các môn học khác như: Môn TNXH, Đạo đức (hoặc phân môn Tập làm văn
miệng, Luyện từ và câu đối với các lớp trên) … Và trong giao tiếp hằng ngày để
bồi dưỡng, uốn nắn kỹ năng nói cho các em.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.

Kết quả của nội dung nghiên cứu: Qua nhiều năm áp dụng và thực hiện
kinh nghiệm trong việc hình thành và rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh khối
lớp 1, từ năm học 2007-2008 cho đến nay, tôi đã mang lại hiệu quả cao cho việc
dạy - học môn Tiếng Việt cũng như kĩ năng giao tiếp của các em ngày được
hoàn thiện hơn. Lớp tôi chủ nhiệm cũng được nhà trường, bạn bè đồng nghiệp,
phụ huynh đánh giá cao về ý thức, thái độ, kĩ năng nói của các em.
Trong năm học vừa qua lớp tôi chủ nhiệm có các em Nguyễn Văn Bình,
Đinh Thị Thủy, Y Hiếu Niê, Y Cách Mlô vào đầu năm học các em này có thái
độ sợ sệt, nhút nhát, nói trống không, thiếu chủ ngữ, diễn đạt không rành mạch,
ngại tiếp xúc với các bạn nhưng sau quá trình được hình thành và bồi dưỡng kỹ
năng nói các em đã có sự tiến bộ rõ rệt, đã tự tin hơn khi giao tiếp, hăng hái phát
biểu xây dựng bài, đã mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình trước lớp, kết quả học
tập của các em có sự tiến bộ rõ rệt.
Với kinh ngiệm đó, học sinh khá, giỏi các năm lớp tôi cũng đạt kết quả
khá cao.

Người thực hiện: Hoàng Thị Hồng Vân

21



phải có phương pháp rèn luyện phù hợp với trình độ, điều kiện thực tiễn, khả
năng tâm lý lứa tuổi của học sinh. Vì vậy, mỗi người giáo viên phải hết sức năng
động và sáng tạo, phải biết lựa chọn và kết hợp nhiều phương pháp dạy học tích
cực để giúp học sinh vừa có kiến thức vừa có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sống
tốt đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

Người thực hiện: Hoàng Thị Hồng Vân

22


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

Với những giải pháp trên, tôi đã vận dụng ngay vào quá trình hình thành
và rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh lớp 1, các em rất hứng thú khi học môn
Tiếng Việt, các em đã biết nói thành câu tự nhiên phù hợp với hoàn cảnh giao
tiếp. Những em nhút nhát, rụt rè, thụ động đã trở nên mạnh dạn, tự tin hơn trước
đám đông, biết ứng xử các tình huống giao tiếp một cách nhạy bén, sử dụng
ngôn ngữ có biểu cảm, có văn hoá hơn. Giáo viên có hứng thú, tích cực tìm tòi
tranh ảnh, vật thật để áp dụng cho phần luyện nói có hiệu quả hơn.
Sự phối hợp giữa các gia đình, hội phụ huynh, ban đại diện thôn, buôn
cũng có chiều hướng tiến bộ. Chính vì vậy, hiệu quả dạy học luyện nói đã được
nâng cao rõ rệt.
Tóm lại: Bồi dưỡng kĩ năng nói cho học sinh là một quá trình lâu dài
người giáo viên tuyệt đối không nóng vội khi rèn luyện kỹ năng nói cho học
sinh.Giáo viên cần lưu ý không thể có kết quả nói tốt trong một sớm, một chiều
mà cần có thời gian để giúp các em sửa chữa tiến bộ trong quá trình giao tiếp
được tốt hơn.
III.2. Kiến nghị
Trên đây là kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân về cách dạy hình thành

8. Một số thông tin khác trên internet.

Người thực hiện: Hoàng Thị Hồng Vân

24


ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1

MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU.....................................................................................................................1
I.1. Lý do chọn đề tài..............................................................................................................1
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài...........................................................................................2
I.3. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................................2
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu............................................................................................2
I.5. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................................3
II. PHẦN NỘI DUNG................................................................................................................3
II.1. Cơ sở lý luận....................................................................................................................3
II.2. Thực trạng.......................................................................................................................4
a. Thuận lợi- khó khăn........................................................................................................4
b. Thành công- hạn chế.......................................................................................................5
c. Mặt mạnh- mặt yếu.........................................................................................................5
d. Các nguyên nhân, yếu tố tác động. ................................................................................6
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra....................................6
II.3. Giải pháp, biện pháp:.......................................................................................................8
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp...................................................................................8
b. Nội dung và cách thức thực hiện Giải pháp, biên pháp:.................................................9
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp......................................................................18
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp biện pháp....................................................................19
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.....................................21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status