Một số kinh nghiệm hình thành và bồi dưỡng kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM HÌNH
THÀNH VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG
NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1


I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài.
Ở Tiểu học môn Tiếng Việt có vị trí vô cùng quan trọng. Học tốt môn
Tiếng Việt các em có cơ sở để tiếp thu và diễn đạt tốt các môn học khác.
Trong bốn kĩ năng: (Nghe, nói, đọc, viết) thì kỹ năng nói có vị trí thứ hai
trong yêu cầu cơ bản cần đạt của học sinh. Kỹ năng nói góp một phần quan
trọng đáng kể giúp học sinh Tiểu học nói chung, học sinh lớp 1 nói riêng học
tốt các phân môn Kể chuyện, Luyện từ và câu… Kỹ năng nói tốt sẽ giúp
chúng ta chiếm được tình cảm của mọi người, giúp chúng ta tự tin hơn khi
diễn đạt một vấn đề gì đó trước tập thể. Học sinh đầu cấp nói tốt sẽ giúp các
em diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, mạnh dạn trình bày suy nghĩ của mình cũng
như trong việc góp ý xây dựng bài. Trước thời đại thông tin: tuyên truyền,
điện thoại, diễn thuyết cũng rất cần đến kĩ năng nói. Trong việc học tập với
phương pháp mới: phát huy tích cực của học sinh phải trình bày lời nói trong
giải thích, mô tả… rất cần đến kỹ năng nói. Trong sinh hoạt, Kỹ năng nói là
một phần quan trọng trong kỹ năng giao tiếp là một kỹ năng sống rất cần cho
mỗi học sinh.
Ngày nay trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức, thời đại bùng nổ
công nghệ thông tin, ngôn ngữ nói được thay bằng ngôn ngữ viết qua máy
tính (gửiE.mall, chát, nhắn tin… trên mạng). Như vậy, việc rèn luyện bồi
dưỡng kĩ năng nói cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói
riêng chưa được chú trọng, chưa quan tâm đúng mức. Trong thực tế cho
thấy, một số người có trình độ cao khi viết một văn bản nào đó đọc nghe rất
có tính thuyết phục nhưng khi trình bày ý kiến trước đám đông lại gặp rất

năng sống tốt để trở thành người có ích cho xã hội.
I.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh lớp 1, qua những năm học trước tại trường Tiểu học
Nguyễn Văn Trỗi.
- Qua giao lưu, tiếp xúc với giáo viên trường bạn.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
Thực hiện quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt, việc dạy kỹ
năng nói cho học sinh được quan tâm rất nhiều, đặc biệt với học sinh ở lớp
đầu cấp sẽ giúp các em biết cách giao tiếp ứng xử trong nhiều tình huống
cuộc sống và giúp các em phát triển được tất cả các dạng lời nói mà cuộc
sống đang đòi hỏi ở các em, hướng các em trở thành người năng động, sáng
tạo, hoàn thiện… Trong phạm vi đề tài này tôi xin được trình bày vấn đề:
“Một số kinh nghiệm hình thành và bồi dưỡng kỹ năng nói cho học sinh lớp
1”.


I.5. Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình hình thành và bồi dưỡng kỹ năng nói cho học sinh tôi
đã kết hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp trực quan, phương pháp quan sát, giảng giải để giải
quyết vấn đề.
- Phân tích những nguyên nhân nhân dẫn đến yếu kém trong việc rèn
kĩ năng nói của học sinh.
- Thực hành, luyện tập.
- Tiến hành trên lớp chủ nhiệm, lồng ghép trong các môn học khác,
các tiết sinh hoạt ngoại khoá, sinh hoạt lớp…

II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lý luận.
Trong chương trình Tiểu học, môn Tiếng Việt có vị trí vô cùng quan

này còn kéo dài sẽ dẫn đến các em ngại tiếp xúc, ngại giao tiếp. Khi lên các
lớp trên các em sẽ có thói quen đọc thuộc câu chuyện hay một bài nói một
cách máy móc.
- Do biến đổi về mặt tâm lí, khi chưa đi học, trẻ nói một cách tự do
không chủ định nhưng khi vào lớp 1 các em phải nói theo từng chủ đề.
- Các em rụt rè, sợ hãi khi đứng trước đám đông.
- Tư duy học sinh lớp 1 là tư duy trực quan, hình ảnh, tư duy cụ thể
qua tranh ảnh minh họa nhưng khả năng quan sát chi tiết kém.
- Bên cạnh đó người giáo viên chưa ý thức được vai trò của việc rèn
luyện kĩ năng nói, nên đã quá coi trọng hai kĩ năng đọc, viết mà bỏ qua kĩ
năng nói, dần dần trở thành thói quen “lướt qua”dạy kỹ năng này hoặc có
dạy nhưng không thường xuyên liên tục.
- Một số giáo viên chưa biết vận dụng tích hợp nội dung dạy- học kỹ
năng nói với các kỹ năng còn lại (đọc, viết, nghe) vào các môn học khác.
- Qua trao đổi, dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy đa số giáo viên chỉ
chú trọng đến 2 kỹ năng đọc và viết, còn kỹ năng nói dường như bị xem nhẹ
ít chú trọng, thậm chí còn bỏ qua. Có chăng đi nữa học sinh chỉ được học
lướt qua ở phân môn kể chuyện và phần luyện nói trong thời gian rất ngắn.
II.2. Thực trạng.
a. Thuận lợi- khó khăn.
- Thuận lợi: Đơn vị tôi đang công tác nằm ngay trung tâm thị trấn
Krông Năng, được sự quan tâm hỗ trợ tích cực của các cấp ủy Đảng, chính
quyền địa phương và các ban ngành đoàn thể, được phòng Giáo dục-Đào tạo
quan tâm chỉ đạo sâu sắc nên trường lớp được xây dựng, khang trang, cơ sở
vật chất đầy đủ, trường lớp sạch sẽ thoáng mát, đủ ánh sáng…Bên cạnh đó,
phụ huynh học sinh cũng rất quan tâm đến việc học tập của con mình. Học


sinh được học tập trong môi trường thuận lợi như vậy cho nên việc giao lưu,
tiếp xúc, phát triển ngôn ngữ của học sinh cũng rất được quan tâm.

sinh.


- Mặt yếu: Phần đa giáo viên chưa đầu tư nhiều khi dạy luyện nói cho
học sinh, rất ít sử dụng đồ dùng dạy học cho học sinh quan sát, chỉ dạy lướt
qua,… nên chưa phát triển được vốn từ và cách diễn đạt cho học sinh. Thêm
vào đó học sinh còn rụt rè, thiếu tự tin, nói chưa thành câu hoặc cũng có em
đứng lên không dám nói trước đám đông cũng hạn chế rất nhiều trong việc
bồi dưỡng kĩ năng nói cho các em.
d. Các nguyên nhân, yếu tố tác động.
- Đa số học sinh còn rụt rè nhút nhát, nhất là đối với học sinh dân tộc
Ê- đê Tiếng Việt các em chưa rành, vốn từ còn rất ít nên các em gặp không ít
khó khăn trong phần luyện nói, giao tiếp.
- Gia đình cũng chưa thực sự quan tâm đến phần luyện nói cho các
em, chủ yếu chỉ quan tâm đến việc đọc, viết của các em là chính nên cũng
không sửa đổi, phát triển cách nói, cách diễn đạt cho các em.
- Qua trao đổi, dự giờ thăm lớp đồng nghiệp tôi nhận thấy vấn đề
luyện nói cho các em vẫn chưa thực sự được quan tâm sâu sát, có chăng thì
cũng còn rất sơ sài.
- Tranh ảnh về chủ đề dạy luyện nói còn hạn chế.
- Một số chủ đề mới đối với các em như: ruộng bậc thang, lễ hội, …
Dù giáo viên có nói chi tiết như thế nào thì học cũng khó hình dung ra được
do tư duy của các em chưa cao.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
- Học sinh lớp 1, các em vừa mới rời trường Mầm non, chuyển từ môi
trường học tập vui chơi sang môi trường học tập, các em không thể nói tự do
như trước nữa mà phải nói có chủ định theo từng chủ đề, luyện nói theo
tranh, ảnh minh hoạ, đồ dùng trực quan,… nên các em rất lúng túng trong
cách dùng từ, diễn đạt và bày tỏ ý kiến của mình.
Ví dụ: Khi lần đầu tiên tiếp xúc với các em Mầm non bước vào lớp 1,

- Luyện nói trong môn Đạo đức bài tập 1 (Bài 14: Bảo vệ hoa và cây
nơi công cộng- VBT Đạo đức trang 45)
- Con quan sát tranh và cho biết:
- Các bạn nhỏ đang làm gì?
- Những việc làm đó có lợi gì?
- Con có thể làm được như các bạn không?
Giáo viên chỉ dừng lại mức độ “Thầy hỏi - trò đáp hoặc bạn này hỏi
và bạn khác trả lời”
Trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ một số em còn vụng về, nói còn
lấp lửng, chưa đủ câu, nói nhát gừng, thiếu chủ ngữ, cử chỉ thể hiện chưa đúng với
hoàn cảnh… là do giáo viên ít có thời gian sửa sai, uốn nắn kịp thời cho các em.
Ví dụ: Khi giao tiếp với bạn bè trong và ngoài lớp (Trong giờ ra chơi,
hoặc trao đổi trong giờ học…)
- Học sinh A giao tiếp với học sinh B


- Mầy làm bài xong chưa? (Chưa xong)
- Cho tao bắn bi với? …(Không)
Ví dụ: Giao tiếp với thầy cô, người lớn.
Em đó không làm bài tập ở nhà, cô giáo hỏi: Tại sao cô giao bài tập
về nhà em không làm? Em đó chỉ trả lời: Dạ…Dạ… rồi đứng im. Hay khi
gặp người khách vào nhà, em chỉ nhìn người khách nở nụ cười rồi bẻn lẽn bỏ
đi chơi, không biết dùng câu nói nào cho phù hợp để chào khách và tạm biệt
người khách để đi chơi…
Cũng còn một số ít giáo viên khi trao đổi, trò chuyện với đồng nghiệp,
bạn bè ít chú ý, quan tâm để ý từng lời nói, hành động của mình.
Hoặc khi tổ chức các hoạt động ngoại khoá, ban tổ chức, anh, chị phụ
trách… thường chú ý đến nội dung cần truyền đạt, ít chú ý đến việc rèn nói
của các em.
Quá trình hình thành bồi dưỡng kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 chưa

đọc.
2. Dạy luyện nói trong kể chuyện.
3. Dạy luyện nói kết hợp với các môn học khác.
4. Dạy luyện nói trong giao tiếp.
5. Giáo viên là tấm gương thể hiện hành vi giao tiếp để học sinh noi
theo.
6. Dạy luyện nói khi tổ chức các hoạt động ngoại khóa.
7. Kết hợp các mối quan hệ: Nhà trường, gia đình, xã hội.
Cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp.
1. Rèn kỹ năng nói theo từng chủ đề trong phân môn Học vần và Tập đọc.
* Bước 1:
Trước hết chúng ta thấy nội dung luyện nói ở lớp 1 được xây dựng
trên các chủ đề gần gũi với các em bằng tranh ảnh minh họa.
Chính vì vậy, muốn dạy luyện nói có hiệu quả thì hoạt động đầu tiên
giáo viên cần tiến hành là cho học sinh đọc tên chủ đề nhằm gây hứng thú và
tập trung cho học sinh, bằng cách sử dụng tranh ảnh đẹp, chứa nội dung cần
luyện nói để tạo tính tò mò muốn khám phá.
Tập cho học sinh đọc đúng tên chủ đề phần luyện nói trong bài. Bởi vì
phát âm đúng, chính xác sẽ giúp cho học sinh nói rõ ràng hơn dẫn đến nói
liền mạch, lưu loát cả câu, cả đoạn, cả bài. Từ đó hoc sinh khắc phục được
những lỗi sai khi phát âm.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status