SKKN phương pháp dạy giờ học sáng tạo trong môn ngữ văn ở trường THCS nhằm gây hứng thú cho học sinh trong giờ học - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NÔNG CỐNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHƯƠNG PHÁP DẠY " GIỜ HỌC SÁNG TẠO" TRONG MÔN
NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS NHẰM GÂY HỨNG THÚ CHO
HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC

Người thực hiện: Ngô Thị Thanh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Vạn Hòa
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn

NÔNG CỐNG, NĂM 2018
1


MỤC LỤC
TT
I
1
2
3
4
II
1
2
3
3.1


3-6
Các giải pháp giải quyết vấn đề.
7-12
Hãy tạo cho học sinh sự hứng thú trước khi vào giờ học văn
là kể một câu chuyện nhỏ liên quan đến việc giới thiệu bài
mới hoặc câu chuyện mang tính nhân văn giáo dục học sinh.
Hãy bỏ qua phương pháp học truyền thống nhàm chán mà
thay vào đó là một cách dạy mới như cho học sinh xem một
số trich đoạn phim hoặc phim tư liệu liên quan đến tác phẩm
mình cần truyền đạt ( giải pháp này chỉ áp dụng cho một số
tiết dạy mà mọi người cho là phù hợp).
Trong quá trình giáo dục, dạy học cần tạo điều kiện cho học
sinh tham gia hoạt động ngoại khóa, tổ chức các hoạt động
tập thể, vui chơi giải trí và các hoạt động xã hội khác của
cộng đồng mà liên quan đến kiến thức học môn Ngữ văn.
Tổ chức thuyết trình theo nhóm:
Tổ chức giờ dạy – học theo mô hình “ Chương trình phỏng
vấn chuyên gia”.
Tổ chức tranh luận:
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
12
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
13-14
Kết luận.
Kiến nghị.

I- PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.

2

ra biện pháp thiết thực, khả thi nhất giải quyết triệt để tình trạng học sinh không
hứng thú học môn Ngữ văn như trong giai đoạn hiện nay. Mục đích cuối cùng
3


của tôi là đưa ra sáng kiến này để giúp giáo viên có thêm kinh nghiệm trong việc
giảng dạy môn Ngữ văn, làm cho giờ dạy văn có những điểm mới, tạo hứng thú
học tập cho học sinh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này áp dụng đối với học sinh các khối lớp đặc biệt là học giờ Ngữ
văn. Học sinh sẽ có hứng thú khi học môn Ngữ văn và giờ học văn chương sẽ
gây được sự chú ý đối với người học.
b. Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu về các phương pháp đổi mới khi dạy môn Ngữ văn để tạo hứng thú
cho học sinh Trung học cơ sở trong việc học văn .
4. Phương pháp nghiên cứu :
Trong quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm tôi đã sử dụng phương pháp
nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Tìm hiểu các vấn đề liên quan đến đề tài
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Trong thời gian giảng dạy tôi đã tổng kết
được một số kinh nghiệm áp dụng vào việc giảng dạy.
- Phương pháp thực nghiệm: Tôi sử dụng phương pháp này đối với các khối lớp
có hiệu quả tốt.

II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ
quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng

văn học của các học giả, như cách học của sinh viên văn học. Đó là cách phân
tích sâu về tâm lí, về kĩ thuật ngôn từ, về phương pháp sáng tác….. Trong khi đố
đối với học sinh môn Ngữ văn chỉ cần dạy cho học sinh đọc hiểu, tiếp nhận tác
phẩm như một độc giả bình thường là đủ, nghĩa là chỉ cần nắm bắt đúng ý nghĩa,
tư tưởng của tác phẩm, một vài nét đặc sắc về nghệ thuật đủ để thưởng thức và
gây hứng thú.
Tương ứng với cách dạy học như trên học sinh tất nhiên chỉ tiếp thu một cách
thụ động mà thôi. Tính chất thụ động thể hiện ở việc học thiếu hứng thú, học đối
phó, và về nhà chỉ còn biết học thuộc để trả bài và làm bài. Cách học đó tất
nhiên cũng không có điều kiện tìm tòi, suy nghĩ, sáng tạo, cũng không được
khuyến khích sáng tạo. Cách học thụ động chứng tỏ học sinh không biết tự học,
không có nhu cầu tự tìm hiểu, nghiên cứu, không biết cách chủ động tự đọc
SGK để tìm hiểu kiến thức, không biết cách phân biệt cái chính và cái phụ,
5


không biết tìm kiến thức trọng tâm để học, không biết từ cái đã biết mà suy nghĩ
ra cái chưa biết. Nói tóm lại là chưa biết cách tự học.
Có nhiều nguyên nhân tạo nên tình trạng học tập trì trệ, thụ động, thiếu hào
hứng của học sinh. Xét về xã hội, thời đại chúng ta đang sống là thòi đại khoa
học công nghệ, dể hiểu là đại đa số học sinh chỉ muốn học các ngành khoa học
tự nhiên, kĩ thuật, kinh tế…ít có học sinh hứng thú học văn, bởi phần đông học
sinh nghĩ rằng năng lực văn là năng lực tự nhiên của con người xã hội, không
học vẫn biết đọc, biết nói; học văn không thiết thực. Văn có kém một chút, ra
đời vẫn không sao, vẫn nói và viết được, còn không học ngoại ngữ, không học
khoa học, kĩ thuật thì coi như chịu phép. Có thể đó là lí do làm cho đa số học
sinh không cố gắng học ngữ văn. Thực tế học sinh một số trường chuyên khoa
học tự nhiên coi nhẹ học văn vẫn được lên lớp. Rõ ràng tâm lí cá nhân, môi
trường học tập, nếp sống, quan niệm sống của đông đảo dân cư đã có nhiều thay
đổi. Đó là một vấn đề rộng lớn, ngoài tầm kiểm soát của nhà trường và bộ môn

nghiệp trước đây và của Bộ Giáo dục và Đào tạo sau này cũng như phần lớn
cách ra đề trong các kì thi tuyển sinh Đại học và Cao đẳng có vai trò tiêu cực
trong việc tạo ra một lối làm văn thiên về học thuộc, sao chép và thiếu sức sáng
tạo của hoc sinh. Đó cũng là lối dạy làm văn sai tận gốc.
Thứ hai là phương pháp dạy học theo lối cung cấp kiến thức áp đặt, hoc sinh
phải học thuộc kiến giải của thầy. Đây cũng là phương pháp phản sư phạm, bởi
vì bản chất học tập không phải là tiếp nhận những gì được đưa trực tiếp từ ngoài
vào, mà là sự kiến tạo tri thức mới dựa trên cơ sở nhào nặn các dữ liệu mới và
kinh nghiệm đã được tích luỹ. Học tập thực chất không phải là học thuộc mà là
tự biến đổi tri thức của mình trên cơ sở các tác động của bên ngoài và của hoạt
động của người học. Do đó việc áp đặt kiến thức chỉ có tác dụng tạm thời, học
xong là quên ngay, không để lại dấu ấn trong tâm khảm người học, không trở
thành kiến thức hữu cơ của một bộ óc biết suy nghĩ và phát triển.
Thứ ba, chưa xem hoc sinh là chủ thể của hoạt động học văn, chưa trao cho
các em tính chủ động trong học tập. Coi hoc sinh là chủ thể của hoạt động học
tập của mình thì hoc sinh phải là người chủ thể trong các hoạt động học tập, là
người chủ động kiến tạo các kiến thức của mình mà giao viên chỉ là người tổ
chức các hoạt động học tập cho hoc sinh. Giáo án của giao viên phải là kế hoạch
hoạt động của hoc sinh để tự kiến tạo kiến thức, chứ không phải là giáo án để
giao viên giảng và bình ở trên lớp.
Thứ tư, chưa xem dạy học tác phẩm văn học là là dạy học đọc văn, một hoạt
động có quy luật riêng của nó. Nhiều tài liệu thường nói dạy học văn là dạy cảm
thụ văn học. Nói như vậy là chưa thật chính xác, bởi vì hoc sinh không phải cảm
thụ các dòng chữ in, mà trước hết phải đọc để biến các kí hiệu chữ thành nghĩa,
thành thế giới hình tượng, trên cơ sở đó mới cảm thụ thế giới nghệ thuật bằng
ngôn từ. Cảm thụ văn học khác hẳn cảm thụ âm nhạc hay hội hoạ, là cảm thụ
trực tiếp âm thanh và màu sắc, bố cục bức tranh. Trong văn học chính người đọc
phải tự kiến tạo bức tranh mà mình sẽ thưởng thức. Đọc không hiểu thì không có
gì để cảm thụ cả. Vì thế không thể bỏ qua hoạt động đọc và khái niệm đọc. Có
người nói dạy văn là dạy học sinh lặp lại, đi trở lại con đường của người sáng

9A
30
50 %
9B
31
60 %
+ Kết quả năm học 2016-2017: Khi tôi giảng dạy tại Trường THCS Vạn Hòa.
Lớp
6A
9B

Tổng số học sinh
25
30

Kết quả hứng thú học môn Văn (%)
40 %
45 %

Đa số các em nhận thức được việc học môn Ngữ văn là không cần thiết.
Các em học sinh cho rằng việc học môn Ngữ văn không giúp ích gì cho việc thi
cử sau này. Các em học môn Ngữ văn chỉ là để đối phó cho việc thi vào 10 mà
thôi.
8


Do đó muốn đổi mới phương pháp dạy học văn, thật sự vấn đề không chỉ là
gợi ra một vài phương pháp, một vài biện pháp kĩ thuật, mà phải xây dựng lại
một cách cơ bản quan niệm dạy học mới, vũ trang các khái niệm mới mới mong
có sự đổi mới đích thực về phương pháp dạy học ngữ văn.



thành. Quy trình dạy học này đảm bảo sự kĩ lưỡng, chỉn chu cho tiết dạy. Nhưng
vô hình trung nó làm giảm khả năng sáng tạo, hạn chế sự thăng hoa của người
thầy.
Có những thầy cô khi dạy đến chỗ tâm đắc, muốn nói thêm nhưng lại sợ
không kịp giờ, không đảm bảo quy trình nên không dám nói. Lại có những kiến
thức học sinh đã biết cả rồi, đã được ghi rất rõ trong sách giáo khoa, nói lại đâm
ra thừa. Vậy mà vẫn không dám bỏ qua để nói cái khác. Đa số thầy cô giáo của
chúng ta lên lớp thường mong một tiết dạy chu đáo, suôn sẻ từ đầu đến cuối
theo công thức nhất định. Thành ra tiết nào cũng như tiết nào, thường là đều đều
trôi qua theo một kịch bản định sẵn. Ít khi thấy sự bứt phá, vượt rào, phá cách
trong giờ dạy.
Tôi nghĩ, thầy cô giáo cũng như nghệ sĩ. Đặc biệt thầy cô giáo dạy Văn càng
phải như những nghệ sĩ bởi ngoài việc giảng dạy tri thức, họ còn mang thiên
chức bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, cảm xúc và những rung động thẩm mĩ cho
học sinh. Tài năng của họ không thể thăng hoa nếu cứ phải chịu sự bó buộc
trong những khuôn khổ, những quy định quá chặt chẽ, giáo điều.
Thầy cô nào chỉ chăm chăm vào những điều được ghi trong sách giáo khoa và
sách giáo viên, học thuộc lòng để rồi lên lớp rồi "diễn" lại theo một quy trình
định sẵn, không sai một bước, không trừ một khâu, thì bất quá cũng chỉ là "thợ
dạy" chứ không thể là thầy cô giáo – nghệ sĩ thực thụ được.
Do đó cần tạo ra những khả năng mở, những cơ chế thông thoáng để thầy và
trò tự do sáng tạo. Đôi khi trong một tiết dạy, thầy giáo chỉ cần hướng dẫn học
sinh tìm hiểu thật sâu một hay hai vấn đề quan trọng thôi, phần còn lại có thể để
các em tự tìm hiểu. Thậm chí có thể bỏ qua những kiến thức trong sách giáo
khoa, để dành thời gian cho những kiến thức nâng cao hơn.
Người thầy phải tùy cơ ứng biến trước những đối tượng học sinh khác nhau.
Phải linh hoạt sáng tạo, bỏ qua những gì là hình thức không cần thiết thì mới có
thể tạo ra được sức hấp dẫn, sự lôi cuốn trong giờ dạy. Những giờ học không câu

"Giờ học sáng tạo" trong môn Ngữ văn nhằm gây hứng thú cho học sinh trong
giờ học như sau:
3.1 Hãy tạo cho học sinh sự hứng thú trước khi vào giờ học văn là kể một
câu chuyện nhỏ liên quan đến việc giới thiệu bài mới hoặc câu chuyện mang
tính nhân văn giáo dục học sinh.
Đây là một kinh nghiệm đắt giá mà chúng ta có thể làm để khơi niềm hứng
thú của các em trước khi bước vào tiết học. Kể chuyện cho học sinh nghe.
Những câu chuyện đó có thể là lấy từ cuộc sống hay tác phẩm trong những trang
sách, học sinh nào cũng thích nghe kể chuyện cả, từ đó dẫn dắt vào bài học đảm
bảo các em sẽ say sưa học. Chúng ta có thể dành năm phút kể một câu chuyện
ngắn, đừng nghĩ rằng làm như vậy là chiếm thời gian của tiết dạy vì nếu dạy cả
tiết học mà học sinh không có hứng thú ngay từ đầu giờ học thì kết quả giờ dạy
đó sẽ không đạt hiệu quả. Thay bằng việc ổn định trật tự lớp đầu giờ bằng một
mẫu chuyện ngắn sẽ cắt đi sự ồn ào không chú ý của học sinh đồng thời tạo sự
thu hút trong giờ dạy và học.
11


3.2 Hãy bỏ qua phương pháp học truyền thống nhàm chán mà thay vào đó
là một cách dạy mới như cho học sinh xem một số trich đoạn phim hoặc
phim tư liệu liên quan đến tác phẩm mình cần truyền đạt ( giải pháp này
chỉ áp dụng cho một số tiết dạy mà mọi người cho là phù hợp).
Dạy văn là đòi hỏi phải có năng khiếu, năng khiếu đó chính là phương pháp
truyền thụ dễ hiểu. Giáo viên chúng ta từ xưa đến nay vẫn còn dạy học theo kiểu
truyền thống với sự truyền thụ kiến thức một chiều. Có nghĩa là thầy giáo giảng,
học sinh lắng nghe, ghi nhớ và khi giáo viên kiểm tra bài, học sinh chỉ việc nhắc
lại y nguyên lời của thầy cô giáo là đạt điểm tối đa. Học sinh chỉ tiếp thu tác
phẩm một cách thụ động còn người chủ động chính là giáo viên, họ áp đặt
những kinh nghiệm, những hiểu biết, những cách cảm, cách nghĩ của mình tới
học sinh buộc học sinh phải nghe theo họ hoàn toàn chứ không hề có những

các hoạt động xã hội khác của cộng đồng. Từ đó phát huy tính năng động sáng
tạo của học sinh đồng thời kích thích sự hứng thú khi học môn văn ở học sinh.
Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh vẽ tranh theo chủ đề văn học, thi kể
chuyện. làm thơ....
3.4 .Tổ chức thuyết trình theo nhóm:
Tổ chức lớp thành những nhóm học tập. Giao cho mỗi nhóm một hoặc một
số vấn đề (thuộc kiến thức trọng tâm của bài học), yêu cầu mỗi nhóm tổ chức
bàn bạc, thảo luận ở nhà sau đó thống nhất viết thành bài thuyết trình chung cho
cả nhóm. Giờ học trên lớp, mỗi nhóm cử một đại diện trình bày bài thuyết trình
trước lớp. Thầy cô giáo tổ chức cho lớp thảo luận, tranh luận xung quanh vấn đề
được trình bày và chốt lại những kiến thức cơ bản nhất. Đây là một hình thức
dạy học giúp học sinh tự nghiên cứu tìm hiểu chủ động kiến thức để trình bày
trước tập thể. Tránh được cách tiếp thu bài thụ động ở học sinh.
3.5. Tổ chức giờ dạy – học theo mô hình “ Chương trình phỏng vấn chuyên
gia”:
Giao vấn đề (thuộc kiến thức trọng tâm của bài học), yêu cầu học sinh chuẩn
bị kĩ lưỡng ở nhà. Giờ học trên lớp, thầy cô giáo tổ chức lớp thành một diễn đàn
đối thoại, cử ra một học sinh làm phóng viên, một học sinh khác làm chuyên gia
(hoặc thầy/cô giáo làm chuyên gia) để phỏng vấn chuyên gia về những vấn đề
xoay quanh bài học. Tất cả những học sinh khác tham gia với tư cách là người
đối thoại với chuyên gia. Theo đó, giờ học sẽ trở thành một môi trường để thầy
và trò tham gia thảo luận về bài học. Đây cũng là phương pháp dạy học vừa
kiểm tra được việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh đồng thời cũng giúp học sinh
chủ động tìm hiểu bài mới.
3.6. Tổ chức tranh luận:
Đối với một số tiết, đặc biệt là những tiết dạy kĩ năng làm văn, chúng ta có thể
áp dụng hình thức tổ chức này. Thầy/cô giáo đưa ra những đề văn mở có thể tạo
ra các hướng lựa chọn khác nhau, ví dụ như phần Tập làm văn lố 9 có một số đề
mở như sau: “ Trang phục học đường”, “ Thành phố hay nông thôn”, “ Nữ sinh
nên mặc áo dài truyền thống hay trang phục hiện đại đến trường”, “ Giả sử bạn

Kết quả hứng thú học môn Văn(%)
9A
30
90 %
9B
31
92 %
+ Kết quả năm học 2016-2017: Khi tôi giảng dạy tại Trường THCS Vạn Hòa.
Lớp
Tổng số học sinh
Kết quả hứng thú học môn Văn (%)
6A
25
95%
9B
30
90 %
Đa số các em nhận thức được việc học môn Ngữ văn là rất cần thiết. Kết
quả thực nghiệm cho thấy nếu đem đề tài này thực nghiệm trong phạm vi rộng
hơn thì sẽ thu được kết quả tốt hơn.
14


III. PHN KT LUN V KIN NGH
1. Kt lun:
Ngay t bõy gi, nu mun lm mt gia s gii, bn phi nờn thay i t duy
v phng phỏp ging dy. Hóy bt u ngay t bõy gi, to c mt cm giỏc
cc kỡ thoi mỏi cho hc sinh, hóy dn dt hc sinh tip cn bi ging mt cỏch
t nhiờn, khụng ỏp t, cựng hc sinh hi thoi v hc sinh nm c thụng ip
ca tỏc gi mun gi gm qua tỏc phm. Hóy lm cho tit dy c thc hin

viờn phi thc s nghiờm tỳc trong thi c, xõy dng bi trờn lp phi tuõn th
quy nh . Giỏo viờn phi nhit tỡnh, hc sinh c lp sỏng to trong hc tp.
Giỏo viờn chm tr bi c th, chớnh xỏc, ch rừ c th li cho hc sinh. Chớnh
vỡ vy tụi cú mt kin ngh nho nh:
- Riờng i vi dy hc mụn Ng vn khụng nht thit l gũ bú cỏch dy
v hc nh cỏc mụn khỏc . Bi vỡ õy l mụn hc khụng ch kớch thớch t duy
sỏng tp m cũn khi gi cm xỳc trong tõm hn con ngi. Sỏch giỏo khoa
cng nh sỏch giỏo viờn nờn a ra nh hng m cho vic dy v hc.
- Các tổ chức, đoàn thể cần quan tâm hơn, đầu t hơn
vào công tác dy v hc mụn Ng vn trong nh trng để xoá đi mặc
cảm của những học sinh ang cú t tng ngi hc mụn Ng vn.
Trờn õy l mt s kinh nghim qua thc t ging dy v kt qu ó t
c ca cụ v trũ chỳng tụi trong nhng nm hc qua. Cui cựng tụi xin phộp
c dng bi vit ti õy. Kớnh mong s úng gúp ý kin xõy dng chõn thnh
nht ca quý ng nghip bi vit t kt qu cao hn .
Tụi xin chõn thnh cm n!
XC NHN CA NH TRNG

Nụng cng, ngy 20 thỏng 3 nm 2018
Tụi xin cam oan õy l SKKN ca
mỡnh vit, khụng sao chộp ni dung ca
ngi khỏc.
(Ký v ghi rừ h tờn)

Ngụ Th Thanh
TI LIU THAM KHO
1. Phng phỏp dy hc hiu qu mụn Ng vn
( Thc s Lờ Th Ngc Anh- i hc s phm Hu)
2. i mi phng phỏp dy hc Ng vn
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status