ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHAN THỊ BÍCH HUỆ
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN
CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lí Giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
Mã số: 6
0 14
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đặng Văn Cúc
Hà Nội – 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu
là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Phan Thị Bích Huệ
i
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới
Công nghệ thông tin
CSVC
Cơ sở vật chất
GD & ĐT
Giáo dục và Đào tạo
GV
Giáo viên
HĐ
Hoạt động
HS
Học sinh
HĐGDNGLL
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
NVSP
Nghiệp vụ sư phạm.
Sách giáo khoa
TĐCM
Trình độ chuyên môn
THCN
Trung học chuyên nghiệp
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
iii
1.5.3. Đối tượng tuyển sinh. ..........................................................................................30
1.5.4. CSVC và phương tiện dạy học. ...........................................................................31
iv
1.5.5. Môi trường quản lí hoạt động dạy học Ngữ văn. ................................................31
Tổng kết chương 1 .........................................................................................................32
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ
VĂN CÁC TRƢỜNG THCS THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, QUẢNG NINH .............33
2.1. Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội, giáo dục đào tạo ở địa phương. ...................33
2.1.1. Khái quát về kinh tế - xã hội Thành phố Uông Bí. .............................................33
2.1.2. Khái quát về giáo dục đào tạo (GDĐT) Thành phố Uông Bí. ............................34
2.2. Thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn các trường Trung học cơ sở Thành
phố Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh. ...................................................................................35
2.2.1. Thực trạng về hoạt động giảng dạy của giáo viên. ..............................................36
2.2.2. Thực trạng về hoạt động học tập của học sinh. ...................................................42
2.3. Thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ Văn. ...........................................48
2.3.1. Thực trạng quản lí hoạt động giảng dạy của giáo viên. ......................................49
2.3.2. Thực trạng quản lí hoạt động học tập của học sinh. ............................................60
2.3.3. Thực trạng quản lí CSVC và phương tiện dạy học Ngữ văn. .............................62
2.3.4. Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho hiệu quả quản lí hoạt động dạy học môn
Văn.................................................................................................................................65
2.4. Đánh giá chung thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Văn các trường THCS
thành phố Uông Bí, Quảng Ninh. ..................................................................................66
2.4.1. Ưu điểm ...............................................................................................................66
2.4.2. Tồn tại ..................................................................................................................67
Tiểu kết chương 2 ..........................................................................................................68
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN
CÁC TRƢỜNG THCS THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, QUẢNG NINH ........................69
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp. .........................................................................69
3.4.4. Nội dung và kết quả khảo nghiệm. ......................................................................90
Tiểu kết chương 3 ..........................................................................................................95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .............................................................................96
1. Kết luận......................................................................................................................96
2. Khuyến nghị. .............................................................................................................97
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................99
PHỤ LỤC ...................................................................................................................101
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đội ngũ GV Ngữ văn ở các trường THCS thành phố Uông Bí. ...................35
Bảng 2.2: Cơ cấu theo độ tuổi và thâm niên giảng dạy của đội ngũ giáo viên Ngữ văn
ở các trường THCS thành phố Uông Bí năm học 2015-2016. ......................................35
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát thực trạng về TĐCM, NVSP của giáo viên đáp ứng yêu
cầu hiện nay của hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn. ...................................................36
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát thực trạng mức độ giáo viên thực hiện các nội dung hoạt
động giảng dạy...............................................................................................................38
Bảng 2.5: Kết quả khảo sát thực trạng về sử dụng các PPDH và PTDH Ngữ Văn trong
hoạt động giảng dạy của giáo viên ................................................................................40
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát thực trạng về mức độ học sinh thực hiện các nội dung hoạt
động học tập...................................................................................................................43
Bảng 2.7a: Kết quả khảo sát thực trạng kết quả thi học kỳ II môn Ngữ văn năm học
2013-2014 (các trường THCS thành phố Uông Bí). .....................................................46
Bảng 2.7b: Kết quả khảo sát thực trạng kết quả thi học kỳ II môn Ngữ văn năm học
2014-2015 (các trường THCS thành phố Uông Bí). .....................................................46
Bảng 2.8: Kết quả khảo sát chất lượng kiểm tra học kỳ II năm học 2014 – 2015, môn
Ngữ văn lớp 9, các trường THCS Trần Quốc Toản, THCS Nguyễn Trãi, THCS Trưng
Vương, THCS Lý Tự Trọng, TH&THCS Điền Công. ..................................................47
Biểu đồ 2.3: So sánh số liệu kết quả khảo sát Bảng 2.8 (chất lượng kiểm tra học kỳ II
năm học 2014 – 2015, môn Ngữ văn lớp 9, các trường THCS Trần Quốc Toản, THCS
Nguyễn Trãi, THCS Trưng Vương, THCS Lý Tự Trọng, TH&THCS Điền Công). ....48
Biểu đồ 3.1: Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn. ......................................................................93
ix
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), lần thứ IX (2001), lần thứ
X (2006) đều khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” “Phát triển
giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản
để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII khóa XI (Tháng 11/2013) về Đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng chỉ rõ “Giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu,... Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề
lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương
pháp, cơ chế, chính sách,...vv”
Đặc biệt, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng diễn ra từ ngày
20-28/1/2016, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã thẳng
thắn nhìn nhận “Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo
dục... được cải thiện và có bước hiện đại hóa. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo
dục có bước phát triển .... Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh...vv. Tuy nhiên, giáo
dục và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển.
Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại
học, giáo dục nghề nghiệp. Giáo dục và đào tạo .... còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành,
chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương
vượt chỉ tiêu đề ra. Song ở một số trường khác, kết quả thanh tra hoặc kiểm tra hoạt
động sư phạm của giáo viên cho thấy chất lượng giờ dạy môn Ngữ văn chưa cao, giáo
viên chưa phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo, năng lực tự học của học
sinh; điểm bài kiểm tra định kỳ, bài kiểm tra cuối kỳ của học sinh còn thấp.
2.3. Trong chương trình giáo dục Phổ thông Việt Nam, môn Ngữ văn giữ một
vai trò quan trọng, góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, bồi dưỡng hoàn thiện nhân
cách học sinh. Song, một thực tế không thể phủ nhận là những năm gần đây, hiện
tượng học sinh xem nhẹ môn Ngữ văn ngày càng trở nên phổ biến. Nhiều học sinh khi
được hỏi về “hứng thú” khi học môn Ngữ văn thì đều “lắc đầu” cho rằng: “Đó là môn
học nhàm chán, dài dòng, giáo điều, thiếu hấp dẫn vv...”. Không ít giáo viên thấy
“nản” khi học sinh ít hứng thú, không hợp tác trong quá trình dạy – học.
Tuy nhiên trong cuộc sống, một người dù theo ngành nghề nào thì vẫn cần có
khả năng ngôn ngữ và giao tiếp, để khi cần cũng phải biết trình bày một vấn đề (nói
hoặc viết) một cách rõ ràng, mạch lạc. Nếu một người có trình độ văn hóa cao hay giữ
vị trí xã hội quan trọng mà diễn đạt dài dòng, lủng củng khiến người đọc người nghe
không thể hiểu, thì uy tín của người đó chắc chắn sẽ bị giảm đi rõ rệt. Vì vậy, là một
môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn Văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục
2
quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Đồng thời là môn học thuộc nhóm công
cụ, môn Văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với cuộc sống và các môn học khác. Hơn tất
cả, môn Ngữ văn chính là con đường ngắn nhất, nhanh nhất đưa học sinh hòa nhập
cuộc sống “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình".
Từ những lí do trên, với vai trò là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ
văn và làm công tác quản lí ở trường THCS Trưng Vương, thành phố Uông Bí, tỉnh
Quảng Ninh, tác giả nhận thức rõ: Quản lí tốt hoạt động dạy học và hoạt động dạy học
môn Ngữ văn sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy – học tập của GV và HS ở
giáo dục phổ thông, đặc biệt là góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của
Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS trên địa bàn thành phố
Uông Bí còn có một số bất cập, trong đó có nguyên nhân từ công tác quản lí. Nếu biện
pháp quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn được áp dụng một cách tích cực, phù
hợp sẽ nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn THCS tại thành phố Uông Bí, Tỉnh
Quảng Ninh.
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau:
7.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lí, quản lí hoạt động dạy học, quản lí hoạt động
dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS
7.2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động quản lí dạy học môn Ngữ
văn ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
7.3. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lí hoạt động dạy học môn
Ngữ văn các trường THCS thành phố Uông Bí - Quảng Ninh trong bối cảnh hiện nay
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về quản lí các
hoạt động chuyên môn nhà trường.
- Phân tích, phân loại, xác định các khái niệm cơ bản.
- Đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành cơ
sở lý luận cho đề tài.
- So sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa những vấn đề lý luận có liên
quan đến đề tài.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, điều tra thu thập thông tin; phân tích số liệu, dữ liệu; dự giờ khảo sát
thực tế. Nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng.
- Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.
8.3. Các phương pháp bổ trợ
- Phương pháp thăm dò bằng phiếu: Sử dụng phiếu gồm các câu hỏi kín và các
câu hỏi mở về công tác quản lí hoạt động giảng dạy của GV và HĐ học của học sinh.
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ những thập niên cuối của thế kỉ XX, quản lí giáo dục từ chỗ là một lĩnh vực
nghiên cứu mới mẻ, phụ thuộc vào các bộ môn khoa học khác đã trở thành một lĩnh
vực có lý luận riêng. Bước sang thế kỷ XXI, khoa học QLGD đạt được những thành
tựu đáng kể với sự ra đời của Kinh tế học giáo dục, Xã hội học giáo dục, Lý luận quản
lí nhà trường. Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù khoa học QLGD còn non trẻ nhưng đã có
bước phát triển nhanh chóng về cả cơ sở lý luận và thực tiễn với nhiều công trình
nghiên cứu có giá trị về QLGD, quản lí nhà trường như: "Một số vấn đề về giáo dục và
khoa học giáo dục" của tác giả Phạm Minh Hạc; "Tâm lý học giáo dục", "Quản lí lãnh
đạo nhà trường thế kỷ 21", "Quản lí giáo dục: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của
tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc; "Quản lí sự thay đổi vận dụng cho QLGD và nhà trường"
tác giả Đặng Xuân Hải...vv.
Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục của đất nước, khoa học nghiên cứu về QLGD,
quản lí nhà trường càng phát huy vai trò đặc biệt quan trọng. Nghiên cứu về QLGD, cụ
thể là quản lí hoạt động dạy học đã thực sự trở thành mối quan tâm của nhiều nhà giáo
dục. Bởi qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, các nhà giáo dục mới có thể quản lí
tốt nhà trường, nâng cao chất lượng dạy và học. Nếu trước đây, các công trình nghiên
cứu thường đi sâu vào lý luận QLGD nói chung. Thì hiện nay, lý luận về QLGD đã
chú ý đến phương diện QL HĐDH một bộ môn cụ thể ở trường phổ thông.
Trong nhà trường phổ thông, Ngữ văn là môn học có tính đặc thù riêng. Nhiều
chuyên gia giáo dục đã nghiên cứu về hoạt động dạy học môn Ngữ văn như: “Phương
pháp dạy học Ngữ văn ở THCS” của tác giả Nguyễn Thanh Hùng - NXB Đại học Sư
phạm Hà Nội, năm 2007; “Lý luận văn học - Tập 1” do giáo sư Trần Đình Sử chủ
biên, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2008; “Một số vấn đề đổi mới phương pháp
hòa những HĐ cá nhân và thực hiện những chức năng chung... Một người độc tấu vĩ
cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng”.
F.W. Taylor (1856 – 1915), người sáng lập thuyết quản lí khoa học (Scientific
Management) cho rằng: “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và cái
đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [16, tr12].
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan điểm: QL là HĐ “Tác động có định
hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ
chức”[28, tr1]. Hiện nay, khái niệm về “quản lí” được cụ thể như sau: QL là quá trình
đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch
hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.
7
Từ các quan niệm trên, ta thấy bản chất chung của khái niệm QL là một quá
trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể QL đến khách thể
QL (đối tượng QL) nhằm đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Đề cập đến
khái niệm QL, ta cần chú ý các yếu tố sau:
- Chủ thể QL: là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức tạo ra những
tác động QL, trả lời câu hỏi: Ai QL?
- Khách thể QL: là những đối tượng tiếp nhận các tác động QL.
+ Khách thể QL có thể người, trả lời câu hỏi: QL ai?
+ Khách thể QL có thể là vật, trả lời câu hỏi: QL cái gì?
+ Khách thể thể QL là việc, trả lời câu hỏi: QL việc gì?
- Mục tiêu QL: là căn cứ để chủ thể tạo ra tác động QL lên đối tượng QL.
Trong xã hội hiện đại, vai trò của quản lí đã được thừa nhận là nhân tố then
chốt đảm bảo cho sự thành công và phát triển. Tuy nhiên, nội dung của hoạt động QL
ngày càng đa dạng phong phú, quá trình QL mang tính tổng hợp, không tuân theo
những quy định cứng nhắc mà phải mềm dẻo, linh hoạt. Vì vậy, QL vừa là một khoa
học, vừa là một nghệ thuật.
1.2.1.3. Biện pháp quản lí
Biện pháp QL là tổng thể cách thức tác động của chủ thể QL lên đối
tượng QL trong quá trình tiến hành các HĐ nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Biện pháp
QL là yếu tố động, thường được thay đổi theo đối tượng và tình huống.
Căn cứ vào tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL, có thể chia thành nhóm
biện pháp cơ bản sau:
- Biện pháp thuyết phục: là cách tác động và nhận thức của con người bằng lí
lẽ cho con người có nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận những yêu cầu của
QL và từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu đó.
- Biện pháp tổ chức - hành chính: là cách tác động trực tiếp của hệ QL đến hệ
bị QL trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính bằng mệnh lệnh, chỉ thị,
quyết định; thể hiện sức mạnh của tổ chức, xác lập trật tự kỷ cương của bộ máy, giúp
các quyết định QL được thi hành nhanh chóng và chính xác, tăng hiệu quả HĐ QL.
- Biện pháp kinh tế: là cách tác động của chủ thể QL tới đối tượng QL thông
qua lợi ích kinh tế, tạo động lực thúc đẩy con người tích cực HĐ.
- Biện pháp tâm lý - giáo dục: là cách tác động của chủ thể QL tới đối tượng
QL thông qua hệ tư tưởng, tâm tư tình cảm, nguyện vọng của họ (dựa trên cơ sở các
quy luật tâm lý của con người, dựa vào uy tín của người QL) để lôi cuốn các thành
viên trong tổ chức hăng hái, tích cực tham gia công việc.
Các nhà QL cần biết phối hợp các biện pháp QL một cách linh hoạt
nhằm khai thác mặt mạnh, hạn chế mặt nhược điểm của từng biện pháp, bởi không có
một biện pháp nào là hoàn toàn tối ưu hay hoàn toàn hạn chế.
9
1.2.2. Quản lí nhà trường
Nhà trường trong bối cảnh hiện nay không chỉ là thiết chế sư phạm đơn thuần
mà còn hiện thực hóa sứ mệnh của nền GD trong đời sống kinh tế - xã hội. Theo
GS.Đặng Quốc Bảo: “nhà trường là vầng trán của cộng đồng” và đến lượt mình “cộng
1.2.3. Hoạt động dạy học, quản lí hoạt động dạy học
1.2.3.1. Dạy học và hoạt động dạy học
Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm với một nội dung khoa học,
được thực hiện theo một phương pháp sư phạm đặc biệt, do nhà trường tổ chức, thầy
giáo thực hiện nhằm giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức khoa học và hình
hành hệ thống kỹ năng hoạt động, nâng cao trình độ học vấn, phát triển trí tuệ và hoàn
thiện nhân cách.
Có nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau về dạy học, tùy theo góc độ tiếp cận
của người nghiên cứu. Song tiêu biểu là ba nhóm ý kiến chính sau:
Nhóm thứ nhất, xem xét dạy học từ góc độ người dạy: dạy học là sự truyền
đạt, cung cấp thông tin cho học sinh; thầy có kiến thức gì thì cung cấp cho học sinh
kiến thức đó; người thầy là trung tâm của quá trình dạy học.
Nhóm thứ hai, xuất phát từ góc độ người học: dạy học là giúp người học lĩnh
hội được những gì cần thiết theo nhu cầu của người học; học sinh cần gì thì thầy dạy
cái đó; thầy chỉ đóng vai trò hướng dẫn, làm bộc lộ khả năng, nhu cầu, năng lực nhận
thức của người học, người học là trung tâm.
Nhóm thứ ba, có cái nhìn dung hòa hơn: dạy học là công việc chuyên biệt của
người thầy, nhằm giúp học sinh từng bước chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu
biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được; dạy học không chỉ là
dạy kiến thức khoa học mà cả những kỹ năng xã hội, ý chí, nhu cầu, động cơ, cảm xúc
và khát vọng, phương pháp học tập, đáp ứng yêu cầu của xã hội và nhu cầu phát triển
của cá nhân người học.
Từ xưa tới nay, khi nghiên cứu về hoạt động dạy học, các nhà giáo dục luôn
quan tâm đến mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, đặc biệt nhấn mạnh
tính tích cực, độc lập của người học. Khổng Tử (551 – 479 Tr.CN) cho rằng, thầy giáo
chỉ giúp học trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác học trò phải từ đó mà tìm ra:
“Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không
bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì
động đặc trưng nhằm tổ chức, điều khiển, tạo ra nhiều điều kiện và cơ hội cho quá
trình học diễn ra một cách thuận lợi và đạt mục đích”. Hoạt động dạy không có nghĩa
là người dạy rót những kiến thức sẵn có của mình vào đầu người học, mà phải tổ chức,
sắp xếp các điều kiện, tạo ra các cơ hội thuận lợi và điều khiển, kiểm soát quá trình
học nhằm làm tăng thêm lượng kiến thức, kỹ năng, kích thích năng lực tư duy sáng tạo
và thay đổi thái độ, cách đánh giá hiện có của người học. Dạy là quá trình tổ chức,
điều khiển hoạt động học nhằm hình thành cho người học có thái độ, năng lực, PP học
tập và ý chí học tập để họ tự khai phá những tri thức phong phú của nhân loại. Điều đó
cũng có nghĩa: dạy là dạy cách học, cách tiếp nhận và xử lý thông tin, vận dụng chúng
vào việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.
12
Vậy, còn “học”? Các chuyên gia GD phương Tây cho rằng: “Học là một sự
thay đổi trong hành vi của người học mà hành vi này có được là do việc nhận thức
những thông tin, kiến thức mới và vận dụng chúng vào trong thực tiễn cuộc sống của
mình”. Và, để quá trình học diễn ra, người học cần phải tham gia một cách tích cực
vào quá trình xử lý và nhận thức thông tin. Quá trình ở đây được hiểu là một loạt các
hoạt động liên tục nhằm tạo ra những kết quả nhất định.
Theo K. Barry và L. King, “Học tập là một quá trình thay đổi lâu dài về mặt
nhân cách, hay về dung lượng những cách ứng xử theo một khuôn mẫu sẵn có. Nó là
kết quả của quá trình luyện tập, tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử – xã hội”.
Đứng trên quan điểm tiếp cận thông tin thì “Học là quá trình tự biến đổi mình
và làm phong phú giá trị con người mình bằng cách thu nhận và xử lý thông tin lấy từ
môi trường thông tin”. Định nghĩa này hàm nghĩa rất rộng, gồm nhiều yếu tố: thu thập,
ghi nhớ, tích luỹ, và xử lý thông tin (từ môi trường xung quanh), khả năng giải quyết
vấn đề để tự biến đổi bản thân. Học, theo định nghĩa này có cốt lõi là tự học, là quá
trình phát triển nội tại bản thân người học.
Có thể hiểu: “Học là một hoạt động tích cực, tự lực và sáng tạo của người học
đạo, hoạt động học của học sinh có vai trò tự giác, chủ động, tích cực. Như vậy việc
dạy và học mới mang lại kết quả, bổ ích, đáp ứng yêu cầu xã hội. Trong quá trình dạy
học, nếu thiếu một trong hai hoạt động “dạy” hoặc “học” thì QTDH không diễn ra.
1.2.3.2. Quản lí hoạt động dạy học
Trong nhà trường, hoạt động dạy học là hoạt động đặc thù, chiếm hầu hết thời
gian, khối lượng công việc của thầy và trò suốt năm học; quyết định kết quả đào tạo,
làm nền tảng quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà
trường. Vì vậy, quản lí hoạt động dạy học đóng vai trò quyết định trong quản lí nhà
trường. Quản lí hoạt động dạy học thực chất là những tác động của chủ thể quản lí
vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ
trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn
diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Quản lí hoạt động dạy học vừa phải phù hợp với quản lí giáo dục nói chung,
vừa phải mang tính đặc thù của hoạt động dạy học nói riêng. Mục tiêu quản lí hoạt
14
động dạy học là cở sở, là nền tảng cho việc xác định các mục tiêu quản lí khác trong
nhà trường. Người làm quản lí phải nhận thức đúng tính chất đặc thù của công tác
quản lí nhà trường nói chung và quản lí hoạt động dạy học nói riêng để có những biện
pháp quản lí khoa học, sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
Quản lí hoạt động dạy học có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, quản lí hoạt động dạy học mang tính chất quản lí hành chính sư
phạm. Nghĩa là quản lí theo pháp luật, theo những nội qui, qui chế có tính bắt buộc
trong hoạt động dạy học. Đồng thời phải tuân thủ các qui luật của quá trình dạy học,
lấy hoạt động và quan hệ dạy - học của thầy và trò làm đối tượng quản lí.
- Thứ hai, quản lí hoạt động dạy học mang tính đặc trưng của khoa học quản
lí, bởi nó phải vận dụng có hiệu quả các chức năng quản lí kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh
đạo, kiểm tra đánh giá trong việc điều khiển quá trình dạy học.