SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH THCS TÌM CÁCH GIẢI NHANH BÀI
TẬP HÓA HỌC LỚP 9 BẰNG CÁCH PHÁT HIỆN VÀ GIẢI
QUYẾT VẤN ĐỀ
Người thực hiện: Phạm Thị Hương
Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường THCS Nga Nhân
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Hóa học
THANH HOÁ NĂM 2018
0
MỤC LỤC
T
T
1
2
3
MỤC LỤC
Phần I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
9
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
4
10
11
12
13
Nội dung
3. Các giải pháp thực hiện
Các bài tập hóa vô cơ
Các bài tập hóa hữu cơ
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Trang
5
6
11
15
14 III. PHẦN KẾT LUẬN , ĐỀ XUẤT
15 1. Kết luận
16
16
gay gắt thì phát hiện sớm, giải quyết nhanh, sáng tạo và hợp lý những vấn đề nảy
sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành đạt trong học tập và cuộc
sống. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đưa ra và giải quyết các vấn đề
gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của các nhân, gia đình và cộng đồng,
không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà được đặt ra như một mục tiêu
giáo dục và đào tạo. Mặt khác, để thực hiện tốt việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của học sinh. Bộ giáo dục và đào tạo chủ trương áp dụng hình thức trắc
nghiệm khách quan trong kiểm tra và thi cử. Trắc nghiệm khách quan là phương
pháp kiểm tra kiến thức chính xác khách quan. Thông qua các câu hỏi và bài tập
trắc nghiệm các em học sinh có dịp củng cố khắc sâu các kiến thức đã học trong
sách giáo khoa, đồng thời nó giúp thầy và trò điều chỉnh việc dạy và học nhằm đạt
kết quả cao hơn.
Trong dạy học không thể thiếu bài tập, giải bài tập hóa học, nhằm củng cố
hoàn thiện, khắc sâu kiến thức lý thuyết, rèn luyện kĩ năng tính toán và các thao tác
tư duy và phát triển năng lực sáng tạo, vận dụng kiến thức đó vào sản xuất và đời
sống. Giải bài tập hóa học là một hoạt động trí tuệ, phát triển trí thông minh, kết
quả hoạt động này phụ thuộc vào năng lực tư duy và năng lực tổ chức hoạt động trí
tuệ một cách khoa học, đòi hỏi học sinh phải tư duy cao. Vì thế trong giảng dạy tôi
luôn hướng dẫn các em biết suy luận, biết phân tích, biết tổng hợp, biết phân dạng,
biết đưa bài tập phức tạp về dạng cơ bản để giải… biết vận dụng kiến thức toán học
nào cho phù hợp, biết dựa theo quy luật giải để có kết quả chính xác.
Với xu thế hiện nay thì việc học sinh chỉ giải bài tập cơ bản là chưa đủ, học
sinh phải làm quen dần với các bài tập biến dạng, nâng cao trong phạm vi có thể để
khi các em gặp các bài toán mới, bài toán biến dạng các em không khỏi lúng túng,
3
mò mẫm khi giải và đây chính là bước tạo hành trang kiến thức giúp các em phát
triển khả năng tư duy một cách hoàn thiện hơn.
Để giải một bài toán Hóa học có tính thuyết phục, chính xác thì các căn cứ
4
II. PHẦN NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luậncủa sáng kiến kinh nghiệm
- Dạy học nêu vấn đề là một hình thức có hiệu quả để nâng cao tính tích cực
tư duy của học sinh, đồng thời gắn liền hai mặt kiến thức và tư duy. Tư duy của học
sinh thường bắt đầu từ vấn đề mới lạ, đòi hỏi phải được giải quyết, nghĩa là tư duy
của học sinh bắt đầu hoạt động, khi các em có thắc mắc về nhận thức, lúc đó tư duy
sẽ mang tính chất tích cực tìm tòi phát hiện và từ đó học sinh sẽ có hứng thú cao
với vấn đề nghiên cứu.
- Học tập sẽ không có kết quả cao, nếu không có sự hoạt động nhận thức tích
cực của học sinh, nếu các em không tập trung chú ý vào vấn đề nghiên cứu, nếu
không có lòng ham muốn, nhận thức điều chưa biềt.
- Dạy học nêu vấn đề góp phần đáng kể vào việc hình thành ở học sinh nhân
cách, có khả năng sáng tạo thực sự, góp phần vào việc rèn luyện trí thông minh cho
học sinh. Muốn phát triển được trí thông minh, cần cho các em luyện tập, tiếp thu
kiến thức, vận dụng kiến thức một cách sâu sắc và có hệ thống.
- Dạy học nêu vấn đề giúp cho học sinh không chỉ nắm được tri thức, mà còn
nắm được cả phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng
tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời
và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.
- Dạy học nêu vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù phương pháp dạy học,
nó đòi hỏi đổi mới nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối
quan hệ thống nhất.
- Dạy học nêu vấn đề dùng “Vấn đề ” làm điểm kích thích và làm tiêu điểm
cho hoạt động học tập của học sinh, thường bắt đầu từ những vấn đề đặt ra, hơn là
từ sự trình bày kiến thức, nó tạo điều kiện để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, kỹ
năng, thông qua giải quyết những vấn đề đặt ra, được sắp xếp một cách logic và
2013 – 2014
2014 – 2015
Chất lượng bộ môn
80%
85%
81%
Các giải đạt được
Cấp Huyện
Cấp Tỉnh
2
0
1
0
1
0
2.3. Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
- Trong dạy học nêu vấn đề không chỉ coi trọng việc truyền thụ kiến thức mà
còn coi trọng cả việc hướng dẫn cho học sinh độc lập tìm ra con đường dẫn đến
kiến thức mới. Những vấn đề trong học tập, luôn tồn tại một cách khách quan,
nhưng không phải ai cũng nhận ra nó, không phải lúc nào học sinh cũng nhận ra nó,
vì khả năng nhận thấy vấn đề là một phẩm chất, một thành phần quan trọng của tư
duy sáng tạo. Ở đây bài tập có rất nhiều khả năng rèn luyện cho học sinh năng lực
phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề.
- Ở bất cứ công đoạn nào của quá trình dạy học đều có thể sử dụng bài tập. Khi
dạy bài mới có thể dùng bài tập để vào bài, để tạo tình huống có vấn đề, để chuyển
tiếp phần này sang phần kia, để củng cố bài, để hướng dẫn học sinh học bài ở nhà,
khi ôn tập củng cố, luyện tập và kiểm tra đánh giá thì nhất thiết phải dùng bài tập
4Fe(OH)2 + O2 + 2H2O 4Fe(OH)3
0,2mol
0,2mol
0
2Fe(OH)3 t Fe2O3 + 3H2O
0,4mol
0,2mol
Khối lượng chất rắn thu được : 160 . 0,2 = 32 gam
* Cách giải nhanh
Phát hiện vấn đề : Chỉ có 0,2 mol Fe là có biến đổi thành Fe2O3
Giải quyết vấn đề : Chỉ cần tính lượng Fe2O3 sinh ra từ Fe để cộng với lượng
Fe2O3 đã có từ đầu.
2Fe
Fe2O3
0,2mol
0,1mol
mFe2O3 = 160. (0,1 + 0,1) = 32 gam
Bài tập 2: Để khử hoàn toàn 17,6 gam hỗn hợp Fe, FeO, Fe 3O4, Fe2O3 cần vừa đủ
2,24 lít CO (đktc). Tính khối lượng Fe thu được ?
*Cách giải thông thường
Gọi x, y, z, t lần lượt là số mol Fe, FeO, Fe3O4, Fe2O3
Fe + CO /
0
FeO + CO t
y mol y mol
Fe + CO2
Giải quyết vấn đề : Tính khối lượng oxi trong oxit, lấy khối lượng hỗn hợp
trừ khối lượng oxi được khối lượng sắt
Khối lượng sắt (Fe) bằng 17,6 – (0,1 . 16) = 16 gam
Bài tập 3: Cho 20 gam hỗn hợp Mg và Fe tác dụng hết với dung dịch HCl thu được
1 gam khí hiđro. Tính khối lượng muối tạo ra trong dung dịch ?
* Cách giải thông thường
Gọi x, y lần lượt là số mol Mg và Fe
Mg + 2HCl
MgCl2 + H2
x mol
x mol
x mol
Fe + 2HCl FeCl2 + H2
y mol
y mol y mol
24x + 56y = 20 (a)
Hệ phương trình :
x + y = 0,5
(b)
Giải hệ phương trình : x = 0,25
y = 0,25
Khối lượng MgCl2 = 95 . 0,25 = 23,75 gam
Khối lượng FeCl2 = 127.0,25 = 31,75 gam
Tổng khối lượng muối thu được là 55,5 gam
*Cách giải nhanh
Phát hiện vấn đề :
Từ công thức HCl ta thấy cứ 1 mol nguyên tử H thoát ra thì cũng có 1 mol
nguyên tử Cl tạo muối
Giải quyết vấn đề :
Khi phản ứng CO lấy oxi của oxit sắt và chuyển thành CO2
0
FexOy + yCO
t
xFe + yCO2
- Giải quyết vấn đề :
nCaCO3 = nCO2 = nO của oxit sắt = 0,09 mol
mO = 0,09 . 16 = 1,44 gam
mFe = 5,92 – 1,44 = 4,48 gam
Bài tập 6: Để trung hoà dung dịch chứa 0,1 mol NaOH và 0,15 mol Ba(OH) 2 cần
bao nhiêu lít dung dịch hỗn hợp chứa HCl 0,1M và H2SO4 0,05M ?
- Phát hiện vấn đề :
Phản ứng giữa axit và bazơ là phản ứng trung hoà nên tổng số mol OH bằng
tổng số mol H
Giải quyết vấn đề :
0,1 mol NaOH cho 0,1 mol OH
Tổng số mol OH = 0,4 mol
số mol H cũng bằng 0,4 mol
0,15 mol Ba(OH)2 cho 0,3 mol OH
Trong 1 lít dung dịch hỗn hợp axit : 0,1 + 0.05 . 2 = 0,2 mol
Vhh axit =
0,4
Vì là 2 kim loại kiềm nên đặt công thức chung của 2 muối là :
M Cl + AgNO3 M NO3 + AgCl
0,3 mol
0,3 mol
- Giải quyết vấn đề:
nAgCl = nhh = 0,3 mol
-
19,05
Tính M hỗn hợp = 0,3 63,5 M = 28
Hai kim loại kiềm ở 2 chu kỳ liên tiếp chỉ có thể là kim loại Na và K
Bài tập 9: Nhúng lá nhôm vào dung dịch CuSO4, sau một thời gian lấy lá nhôm ra
khỏi dung dịch thấy khối lượng dung dịch giảm 1,38 gam. Tính khối lượng nhôm
tham gia phản ứng ?
Phát hiện vấn đề:
Khối lượng dung dịch giảm nghĩa là khối lượng lá nhôm sau phản ứng tăng 1,38
gam
Giải quyết vấn đề:
Từ độ tăng của lá nhôm (do lượng Cu bám vào lớn hơn lượng Al mất đi)
mAl tham gia
2Al + 3CuSO4 Al2(SO4)3 + 3Cu
x mol
1,5x mol
1,5x . 64 – 27x = 1,38
x = 0,02 mAl = 0,54 gam
Bài tập 10: Cho hỗn hợp dung dịch axit gồm 0,1 mol H 2SO4 và 0,2 mol HCl vào
hỗn hợp kiềm lấy vừa đủ gồm 0,3 mol NaOH và 0,05 mol Ca(OH) 2. Tính khối
lượng muối tạo thành sau phản ứng ?
chuyển thành Fe2O3
Fe
Fe2O3 ; Fe3O4
Fe2O3
Giải quyết vấn đề:
Tính mFe trong 4 gam Fe2O3 =
4.112
2,8 gam
160
mO trong Fe3O4 : 3,44 – 2,8 = 0,64 gam
mFe3O4 =
0,64.232
2,32 gam
64
mFe = 3,44 – 2,32 = 1,12 gam
Bài tập 13: Nhúng một miếng nhôm nặng 10 gam vào 500 ml dung dịch CuSO4
0,4M. Sau một thời gian lấy miếng nhôm ra, rửa sạch, sấy khô, cân nặng 11,38
gam. Tính khối lượng đồng thoát ra bám vào miếng nhôm
Phát hiện vấn đề:
Al phản ứng thì khối lượng miếng Al bị giảm, còn Cu tạo thành bám vào
miếng Al nên khối lượng tăng lên
Giải quyết vấn đề:
2Al + 3CuSO4 Al2(SO4)3 + 3Cu
2x mol
x mol
2
x mol
nx
H 2 SO4 d
•Phần 2: C n H 2n +1 OH C n H 2n + H2O
3n
C n H 2n +
O2 n CO2 + n H2O
2
x mol
nx
nx
2,24
Từ (a): nCO2 = n x = 22,4 0,1
•Phần 1: C n H 2n +1 OH +
(a)
(b)
(c)
Từ (b): n của 2 anken = nhh rượu = x
Từ (c): nCO2 = nH2O = n x = 0,1
mH2O thu được: 18 . 0,1 = 1,8 gam
* Cách giải nhanh
Phát hiện vấn đề:
Tách nước thì số mol anken thu được bằng số mol rượu. Số nguyên tử
cacbon của anken vẫn bằng số nguyên tử C của rượu. Vậy đốt rượu và đốt anken
cho cùng số mol CO2, nhưng đốt anken lại cho số mol nước bằng số mol CO2
Giải quyết vấn đề:
3CO2 + 4H2O
Vì các khí đo ở cùng điều kiện nên ta so sánh số nguyên tử các nguyên tố ở 2
vế
x = 3 ; y = 8 ; z = 0 . Vậy công thức phân tử A: C3H8
Bài tập 4: X là este của glyxerol và axit hữu cơ Y. Đốt cháy hoàn toàn 0,1 mol X
rồi cho hấp thụ tất cả sản phẩm cháy vào dung dịch Ca(OH) 2 dư thu được 60 gam
kết tủa. Xác định công thức cấu tạo của X ?
Phát hiện vấn đề:
nCO2 = nCaCO3 = 0,6 mol
Đốt cháy hoàn toàn 0,1 mol X 0,6 mol CO2. Vậy X có 6 nguyên tử C
Giải quyết vấn đề:
Vì X là este của glyxerol và axit hữu cơ, riêng glyxerol có 3 nguyên tử C
còn 3 nguyên tử ở gốc axit Công thức cấu tạo của axit là HCOOH và công thức
cấu tạo của este X là (HCOO)3C3H5
Bài tập 5: Khi đốt cháy hoàn toàn một thể tích hiđrocacbon X thu được thể tích khí
CO2 bằng với thể tích hiđrocacbon X khi đem đốt (đo trong cùng điều kiện). Xác
định công thức phân tử hiđrocacbon ?
Phát hiện vấn đề:
Khi đốt cháy hoàn toàn thì số nguyên tử C trong CO 2 sinh ra luôn bằng số
nguyên tử C trong X
13
Giải quyết vấn đề:
Trong những hiđrocacbon chỉ có CH4 là khi đốt cháy cho
VCO2 = Vhiđrocacbon
CH4 + 2O2 CO2 + 2H2O
V lít
V lít
Bài tập 6: Một ankan X và một anken Y có tỉ lệ số mol (1:1). Số nguyên tử C của
2V M X 30
1V
30 16
MX = 58
1V MX
30 – 16
Với 12x + y = 58. Xét bảng chỉ có nghiệm x = 4 ; y =10
Công thức phân tử là C4H10
Bài tập 8: Đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp gồm CH 4, C3H6 và C4H10 thu được
17,6 gam CO2 và 10,8 gam nước. Tính m ?
Phát hiện vấn đề:
Khi đốt cháy hiđrocacbon thì cacbon tạo ra CO 2 và hiđro tạo ra H2O. Tổng
khối lượng C và H trong CO2 và H2O phải bằng khối lượng của hiđrocacbon
Giải quyết vấn đề:
mhỗn hợp = mC + mH =
17,6
10,8
.12
.2 6 gam
44
18
14
tác và nhiệt độ; giả sử hiệu suất phản ứng là 100%) thu được b gam este.
Tính b ?
Phát hiện vấn đề:
Đốt cháy 2 chất hữu cơ, phân tử có cùng số nguyên tử C, được cùng số mol
CO2 thì 2 chất hữu cơ đem đốt có cùng số mol
Giải quyết vấn đề:
1
nCO2 = 0,1 mol
2
nCH3COOC2H5 = 0,1 mol meste = b = 0,1 . 88 = 8,8 gam
nC2H5OH = nCH3COOH =
Bài tập 11: Hỗn hợp A gồm một axit no đơn chức và một este no đơn chức. Lấy a
gam hỗn hợp này thì phản ứng vừa đủ với 200 ml dung dịch NaOH 0,5M. Đốt cháy
a gam hỗn hợp này thì thu được 0,4 mol CO2. Tính số gam nước thu được ?
Phát hiện vấn đề:
Công thức chung của axit no đơn chức và este no đơn chức có dạng C nH2nO2
nên khi đốt cháy đều cho số mol CO2 bằng số mol H2O
Giải quyết vấn đề:
nCO2 = nH2O = 0,4 mol mH2O = 0,4 . 18 = 7,2 gam
*Trên đây là một số bài tập mang tính chất điển hình để hướng dẫn học sinh
phát hiện và giải quyết vấn đề. Vì vậy khi rèn luyện kĩ năng giải một dạng bài tập
nào đó, cần cho học sinh giải từ 2 đến 3 bài tập cùng dạng thì mới có thể hình
thành được kĩ năng. Mặt khác cần xây dựng bài tập theo mẫu có sẵn, để không lặp
lại nguyên si ta có thể thay đổi lượng chất, thay đổi chất, thay đổi cách hỏi...
Ví dụ 1: Bài tập có sẵn là:
Hoà tan hoàn toàn 4 gam hỗn hợp 2 kim loại A, B có cùng hoá trị (II) và có
tỉ lệ mol (1:1) bằng dung dịch HCl thu được 2,24 lít khí H 2 (đktc). Hỏi A, B là kim
loại nào trong số các kim loại sau: Mg, Ca, Fe, Zn
thông thường khác, thì đa số học sinh đã tự giải được nhiều bài tập, kể cả những bài
tập có độ khó với thời gian rất ngắn
Các em tỏ ra rất hứng thú và càng yêu thích bộ môn
Kết quả kiểm nghiệm qua các năm học: (Từ năm học 2015-2016 đến năm học
2017-2018 đã áp dụng sáng kiến)
Các giải đạt được
Năm học
Chất lượng bộ môn
Cấp Huyện
Cấp Tỉnh
16
2015 – 2016
2016 – 2017
2017 – 2018
90%
92%
97%
3
4
4
1
1
2
học “ Kém không nản, giỏi không chủ quan ”.
17
* Hướng dẫn học sinh giải nhẩm một số bài toán với những số tròn và những
đơn vị đo lường đơn giản.
* Cho học sinh tự thành lập những đề toán mới theo kiểu đã làm hoặc ngược lại
với dữ liệu bài toán đã cho.
* Đặc biệt với xu hướng đổi mới cách kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh
theo hình thức trắc nghiệm khách quan, thì việc sử dụng bài tập rèn luyện cho học
sinh năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, là dạng bài tập cần phải chú ý !
để rèn luyện sự sáng tạo cho học sinh, vì không có một khuôn mẫu nào, muốn xây
dựng bài tập này thì bản thân giáo viên, cần nghiên cứu tham khảo và giải rất nhiều
các bài tập thông thường để tìm những tình huống độc đáo hướng dẫn cho học sinh
* Giải các bài tập hoá học là biện pháp rất quan trọng, để củng cố và nắm vững
khái niệm, tính chất hoá học các chất. Căn cứ vào thực trạng học tập và khả năng
giải các bài tập hoá học của học sinh khối trung học cơ sở cũng như trong công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi hiện nay. Tôi thiết nghĩ với mỗi loại bài tập hoá học, dưới
sự hướng dẫn của giáo viên bộ môn cùng với trình độ tiếp thu kiến thức của học
sinh. Người giáo viên bộ môn hoá học cần nổ lực nghiên cứu, tham khảo tìm ra
biện pháp tối ưu nhất để giảng dạy, hướng dẫn học sinh học tập tích cực, chủ động
sáng tạo, rèn luyện cho học sinh tính chính xác khoa học nâng cao lòng yêu thích
bộ môn
* Trên đây là những suy nghĩ, kinh nghiệm mà tôi đã tích luỹ được, qua quá
trình làm công tác giảng dạy cũng như trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi và các
phưong tiện thông tin đại chúng. Tổng kết kinh ngiệm này thực hiện chắc chắn sẽ
có nhiều điều cần bổ sung, và khả năng người viết cũng có giới hạn. Rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp quý giá các cấp lãnh đạo và đồng nghiệp.
3.2. Kiến nghị
* Đối với phòng:
(Dương Tất Tốn - Trần Q Sơn)
Phương pháp dạy học hoá học
(Nguyễn Cương - Nguyễn Mạnh Duy)
Hoá học cơ bản và nâng cao 9
(Ngô Ngọc An)
400 bài tập hoá học
(Ngô Ngọc An)
27 đề kiểm tra trắc nghiệm 9
(Nguyễn Đình Bộ)
Một số vấn đề đổi mới PPDH ở trường THCS
(Cao Thị Thặng - Nguyễn Phú Tuấn)
Rèn luyện kỹ năng giải bài tập
(Ngô Ngọc An)
20
Mẫu 1 (2)
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Phạm Thị Hương
Chức vụ và đơn vị công tácTrường THCS Nga Nhân
Cấp đánh giá xếp
loại
TT
Tên đề tài SKKN
(Ngành GD cấp
xếp loại
(A, B, hoặc C)
Năm học
đánh giá
xếp loại
Ngành GD cấp
Tỉnh
B
2005-2006
Ngành GD cấp
Huyện
A
2009-2010
Ngành GD cấp
Tỉnh
B
2011-2012
Ngành GD cấp
Tỉnh