SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HOẰNG HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIỎI LÀM TỐT BÀI VĂN
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Người thực hiện : Nguyễn Thị Huyền
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường THCS Nhữ Bá Sỹ
Thị trấn Bút Sơn
SKKN thuộc môn : Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
1
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
13
1. Kết luận
13
2. Kiến nghị
13
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Nó có tầm quan trọng
rất lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, nhận thức cho học sinh. Đây cũng là
môn học góp phần hình thành nhân cách cho các em. Vì vậy khi dạy học môn Ngữ
văn là chúng ta đang trang bị cho học sinh những kiến thức, kĩ năng sống làm hành
trang để học lên những bậc học cao hơn hoặc bước vào đời. Đó cũng chính là chiếc
chìa khóa mở cánh cửa tương lai cho các em. Trong dạy học môn Ngữ văn, công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết nhằm phát
hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng lực, năng khiếu thực sự về bộ môn Văn.
Quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi Văn phải tiến hành song song 2 nhiệm vụ: Bồi
dưỡng kiến thức và hướng dẫn học sinh bộc lộ năng lực, thể hiện quan điểm, ý kiến
về các tác phẩm văn học và các vấn đề trong đời sống xã hội.
Nghị luận xã hội là kiểu bài đưa học sinh về gần hơn với cuộc sống, đồng thời
đòi hỏi ở người học khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo. Kiểu bài này khiến
người viết phát huy năng lực bản thân từ tư duy, suy nghĩ, huy động vốn hiểu biết
đến năng lực trình bày một vấn đề xã hội nào đó sao cho giàu sức thuyết phục.
Chúng ta biết rằng nếu thiếu năng lực thuyết phục thì khó thành đạt trong cuộc sống.
Đây là thực tế cũng là yêu cầu khá cao, các em học sinh giỏi vừa thích thú song cũng
Tỉnh của lớp 8, lớp 9 huyện Hoằng Hóa. Từ đó, đưa ra những cách thức, phương
pháp về vấn đề hướng dẫn cho đối tượng học sinh giỏi làm tốt bài văn nghị luận xã
hội, góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi văn của huyện nhà.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tra cứu tài liệu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
- Phương pháp tổng hợp
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận:
1.1. Văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn ở trường THCS.
Văn nghị luận mục đích chính là dùng lý lẽ và chứng cứ để làm sáng tỏ vấn
đề được đưa ra bàn bạc nhằm thuyết phục người đọc, người nghe[2]. Bằng cách
nào để đạt được mục đích đó? Điều này suy đến cùng tùy thuộc vào từng người
viết, nội dung và hoàn cảnh, đối tượng cần thuyết phục. Hình như chúng ta chưa
chú ý đến quan hệ giữa người viết và người nghe, người đọc. Cùng một nội dung
nhưng hai người viết khác nhau sẽ phải có hai cách viết khác nhau. Tuy vậy, để xây
dựng một bài văn nghị luận, người viết nào cũng cần phải vận dụng một số thao tác
nhất định
1.2. Nghị luận xã hội.
Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về xã hội, chính trị, đời sống. Đề tài
của dạng bài nghị luận xã hội cũng hết sức đa dạng, phong phú. Nó gồm tất cả
những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, một lối sống đẹp, một hiện tượng tích cực hoặc
tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, vấn đề thiên nhiên, môi trường, vấn đề hội
nhập, toàn cầu hoá… Như vậy có thể hiểu nghị luận xã hội là thể văn hướng tới
phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người
trong đời sống xã hội. Mục đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực
đến con người và những mối quan hệ giữa con người trong xã hội[1].
thì bài làm sẽ hời hợt, thiếu sâu sắc, ít thuyết phục. Làm văn nghị luận xã hội rất
cần tư duy khoa học, lôgic, lập luận, phản biện, thêm nữa học sinh rất cần thể hiện
niềm say mê qua tích lũy kiến thức. Đối với học sinh giỏi văn tích lũy kiến thức
văn học là việc làm thường xuyên nhưng việc tích lũy, bồi đắp kiến thức cuộc sống,
những hiểu biết xã hội còn bị xem nhẹ. Vì vậy, hướng dẫn của người thầy là hết sức
quan trọng.
Vấn đề tích lũy kiến thức, các lĩnh vực xã hội làm đề tài cho bài văn nghị
luận xã hội rất đa dạng, nên kiến thức phục vụ cho bài làm của học sinh là rất
phong phú. nhưng điều quan trọng là các em phải có ý thức quan sát, tìm hiểu, ghi
chép, để vận dụng (giáo viên cần hướng dẫn để học sinh biết để ý, để tâm những
vấn đề của đời sống, xã hội). Giáo viên định hướng cho các em huy động kiến thức
từ các nguồn: Kiến thức từ sách vở: chủ yếu từ báo chí, các loại sách tham khảo
về các lĩnh vực của cuộc sống từ văn học, lịch sử, khoa học, tôn giáo, sách về
gương người tốt việc tốt …" Hạt giống tâm hồn", "Hạt giống hạnh phúc", "Suy
nghĩ của những người trẻ",….điều quan trọng cùng các em tìm và lựa chọn sách
cần thiết để học, biết cách đọc, hệ thống hóa kiến thức.
Kiến thức từ đời sống: Hiểu biết, tích lũy hoặc từ đời sống hàng ngày của
bản thân người viết, yêu cầu các em có thói quen quan sát cuộc sống, những hoạt
động, sự việc, những vấn đề từ cuộc sống xung quanh quan trọng hơn là biết suy
nghĩ, suy xét những gì mình nghe được, quan sát được. Trên cơ sở đó, biết lựa
chọn, nắm bắt lấy bản chất vấn đề. Kiến thức từ trải nghiệm bản thân, đây sẽ là ví
dụ minh họa sinh động, có sức thuyết phục nếu nó được vận dụng vào bài văn một
cách tự nhiên, chân thành.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.1.Về giáo viên.
Trong thực tế giảng dạy, hiện nay giáo viên đã dành nhiều thời gian, tâm
huyết bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn. Nhiều thầy cô đã thực sự say mê,
gắn bó với công việc thầm lặng mà ý nghĩa. Tuy nhiên, trong việc ôn luyện cho học
người giáo viên phải không học hỏi, trau dồi để nâng cao chất lượng dạy và học.Từ
những yêu cầu trên, bản thân tôi xác định một vài giải pháp nhằm giúp các em học
sinh giỏi làm tốt bài văn nghị luận xã hội, góp phần nâng cao chất lượng đội tuyển
học sinh giỏi môn Ngữ văn. Các giải pháp mang tính chất thực tế giảng dạy trực
tiếp, dựa trên những lí thuyết cơ bản và sự giúp đỡ của đồng nghiệp trong tổ
chuyên môn, chuyên viên của phòng giáo dục.
3.1. Phân biệt các kiểu bài nghị luận xã hội:
Học sinh phải nắm vững và phân biệt được ba kiểu bài nghị luận xã hội trong
chương trình Ngữ văn THCS:
Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí: là bàn về một vấn đề thuộc về
lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống,…có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của
con người[3]. . Các vấn đề tiêu biểu thường gặp là:
- Nhận thức: Lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập,…
- Tâm hồn, tính cách, đức tính: Lòng yêu nước, yêu quê hương, lòng nhân ái,
tính trung thực, tính dũng cảm, tính khiêm tốn,…
- Quan hệ gia đình: Tình mẫu tử, tình anh em.
- Quan hệ xã hội: Tình nghĩa đồng bào, tình thầy trò, tình bạn.
Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống: là bàn về một sự việc,
hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đáng suy
nghĩ[3]. Các đề tài để bàn bạc gần gũi với đời sống và phù hợp với trình độ nhận
biết xã hội của học sinh như: tấm gương người tốt, việc tốt, thói hư tật xấu, an toàn
giao thông, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội, …
Nghị luận về một vấn đề xã hội được phản ánh trong tác phẩm văn học:
Đây là dạng đề tổng hợp, đòi hỏi học sinh kiến thức về cả hai mảng văn học
và
đời sống xã hội, cũng đòi hỏi cả kĩ năng phân tích văn học và kĩ năng phân tích,
đánh giá các vấn đề xã hội. Nghĩa là có thể kiểm tra được người viết về cả kiến
thức văn học và kiến thức đời sống. Đề thường xuất phát từ một vấn đề xã hội giàu
quan tâm. Thực chất nó không nằm ngoài các vấn đề thuộc phạm trù : đạo đức, các
mối quan hệ, ứng xử, quan niệm về giá trị, nhân cách, lí tưởng tuổi trẻ… Nếu có
hiểu biết sâu về những phạm trù này thì khi bàn luận sẽ rất dễ dàng. Nghĩa là nếu
có hiểu biết sâu sắc, vốn sống phong phú ( nhớ nhiều những câu danh ngôn, triết lí,
câu chuyện ngụ ngôn, bài học từ cuộc sống đời thường, phim ảnh … để vận dụng
thì bài làm sẽ có sức thuyết phục cao). Một điều quan trọng nữa của nghị luận xã
hội là người viết có thể hiểu biết chưa sâu, chưa chín về vấn đề đang nghị luận,
điều này là khó tránh khỏi nhưng khi viết nghị luận phải chân thực, viết bằng chính
suy nghĩ, cảm xúc của mình, thể hiện được cái “tôi” của mình chứ không vay
mượn, nói hộ ai. Nghĩa là làm sao để người đọc khi đọc bài viết nhận thấy người
làm bài là một công dân có suy nghĩ độc lập, đã có sự trưởng thành nhất định về
nhận thức, tư duy…
Trong 10 em học sinh đội tuyển văn, mỗi em đều có một thói quen tốt là tích
lũy kiến thức và cập nhật những thông tin mới mẻ về xã hội.
c. Tìm dẫn chứng:
Một trong những thành công của bài văn nghị luận xã hội là tìm dẫn chứng .
Dẫn chứng để minh hoạ cho vấn đề nghị luận (dẫn chứng có thể lấy ở nhiều lĩnh
vực: sách vở, đời sống…nhưng dù lấy ở đâu cũng cần đảm bảo yêu cầu : tiêu biểu,
độc đáo và toàn diện). Đây cũng là một khâu rất quan trọng để bài văn nghị luận xã
hội mang đúng đặc trưng của nó. Thiếu dẫn chứng bài văn chỉ mang tính lí thuyết
suông, thiếu tính thuyết phục. Thông thường giáo viên chỉ quen lấy một số dẫn
chứng đã trở thành xưa cũ, mang tính lối mòn như: Bác Hồ, Nguyễn Ngọc Kí. Điều
đó khiến bài văn có phần tẻ nhạt, không có dấu ấn riêng của học sinh giỏi. Trong
quá trình trực tiếp giảng dạy, tôi đã yêu cầu học sinh phải tìm hiểu các dẫn chứng
tiêu biểu trên mạng in-tơ-nét, trên một số chương trình của truyền hình như: Việc tử
tế, Điều ước thứ bảy, Hôm nay ai đến, Quà tặng cuộc sống…Qua đó các em đã biết
được nhiều tấm gương sáng về nghị lực, ý chí; nhiều mảnh đời, con người đáng
được được trân trọng, đáng được quan tâm và ngợi ca. Từ đó mà các em có những
Nhằm mục đích tạo sự tin tưởng cho bài viết, người viết cần đưa ra được
những dẫn chứng và lí lẽ thuyết phục. Xác định chính xác điều cần chứng minh,
phạm vi cần chứng minh. Lựa chọn những dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để
minh họa nhằm làm sáng tỏ điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh
c. Thao tác bình luận:
Dùng lí lẽ và dẫn chứng (chủ yếu là lí lẽ) để khẳng định giá trị của vấn đề
hoặc hiện tượng (giá trị đúng hoặc sai). Làm tốt phần này chính là đã bước đầu
đánh giá được vấn đề (hiện tượng) cần bình luận. Bàn rộng và nhìn vấn đề ( hiện
tượng) cần bình luận dưới nhiều góc độ (thậm chí từ góc độ ngược lại, mặt trái của
vấn đề còn gọi là phản đề) để có cái nhìn đầy đủ hơn. Khẳng định tác dụng, ý nghĩa
của vấn đề trong cuộc sống hiện tại.
d. Thao tác rút ra bài học nhận thức và hành động:
Đây chính là điểm khác biệt của bài văn nghị luận xã hội với nghị luận văn
học. Sau khi giải thích, chứng minh, bình luận, học sinh phải tự mình rút ra được
bài học cho bản thân và mọi người từ vấn đề nghị luận. Từ đó các em có những suy
nghĩ, hành động đúng trong giao tiếp cũng như trong cuộc sống.
3.4. Hướng dẫn viết đoạn văn mở bài và kết bài hay:
a. Đoạn văn mở bài:
Mục đích của mở bài ai cũng biết rõ là nhằm giới thiệu vấn đề mà mình sẽ
viết, sẽ trao đổi bàn bạc trong bài. Vì thế khi viết mở bài, thực chất là trả lời câu
hỏi: Em định viết, định bàn bạc vấn đề gì? Trả lời thẳng vào câu hỏi ấy người ta gọi
là mở đề trực tiếp (còn gọi là trực khởi). Nêu vấn đề sẽ bàn trong bài, sau khi dẫn ra
một ý khác có liên quan gần gũi với vấn đề, gọi là mở bài gián tiếp (còn gọi là lung
khởi)[4]. Với các em học sinh giỏi rèn luyện cách viết mở bài gián tiếp là cách viết
độc đáo, tạo sự mới mẻ trong bài viết của mình. Một mở bài hay cần phải đảm bào
các yêu cầu: ngắn gọn, đầy đủ và độc đáo nhằm tạo được ấn tượng đầu tiên cho
người đọc. Với bài văn nghị luận xã hội, tôi yêu cầu các em viết mở bài phải mang
Trong năm học 2016 – 2017, thành tích bồi dưỡng học sinh giỏi của huyện
Hoằng Hóa đã đứng ở vị trí thứ nhất toàn tỉnh. Thành tích của đội tuyển học sinh giỏi
Ngữ văn của huyện nhà đã thực sự được giữ vững và đạt được thành tích xuất sắc,
đáng ghi nhận. Đồng đội môn Ngữ văn xếp thứ nhất với 9 giải, trong đó 02 giải Nhất;
02 giải Nhì; 03 giải Ba và 02 giải Khuyến khích.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng sáng kiến này vào thực tế giảng dạy và
trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn, tôi nhận thấy đã thực sự có hiệu
quả. Để có sáng kiến “Hướng dẫn học sinh giỏi làm tốt bài văn nghị luận xã hội” là cả
một quá trình dày công, kiên trì của giáo viên, không thể nôn nóng, vội vàng, luyện
cho các em mỗi ngày có thêm tư duy và kĩ năng viết văn. Bởi vì điều đó sẽ đem đến
cho các em một niềm thích thú đặc biệt có thể gọi là hạnh phúc của sự sáng tạo.
Việc dạy học môn Ngữ văn đặc biệt phương pháp dạy học sinh giỏi thực sự là
nỗi niềm trăn trở của không ít thầy cô giáo. Tuy nhiên, ngoài việc bồi dưỡng kiến thức
cho các em thì yếu tố kĩ năng viết một bài văn nghị luận xã hội hay là một phương
pháp mà học sinh của chúng ta đang còn “non” và “thiếu”.
Thiết nghĩ, mỗi thầy cô cần dành nhiều thời gian, tâm huyết của mình cho công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn nhiều hơn nữa. Đó là công việc mà ở đó
niềm vui và nỗi buồn luôn đan xen. Nhưng văn chương có tiếng nói riêng của tâm hồn
và lay động mỗi trái tim chúng ta, để rồi ngày mỗi ngày vẫn yêu, vẫn say với từng tác
phẩm, từng bài văn của các em học sinh.
2. Kiến nghị:
Trong các năm qua Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã tổ
chức được nhiều chuyên đề về đổi mới phương pháp, đặc biệt là công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi. Tại chuyên đề hội thảo đó chúng tôi đã được lắng nghe, trao đổi những
kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi. Điều đó, thực sự có ý nghĩa và bổ ích.
Năm học 2016-2017 và các năm tiếp theo đề nghị Phòng Giáo dục và Đào tạo
TT
Tên đề tài SKKN
1 Hướng dẫn học sinh lớp 7 làm tốt
bài văn nghị luận chứng minh
2 Vẻ đẹp của các yếu tố tưởng
tượng, kì ảo trong truyện truyền
thuyết - Ngữ văn 6 (Tập I)
3 Vận dụng kiến thức liên môn
trong dạy học văn bản nhật dụng
Ngữ văn 8 THCS
Cấp đánh giá
xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Phòng
GD&ĐT
Hoằng Hóa
Phòng
GD&ĐT
Hoằng Hóa
Phòng
GD&ĐT
Hoằng Hóa
Kết quả
đánh giá Năm học
xếp loại đánh giá