SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRUNG TÂM GDNN - GDTX NGỌC LẶC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN
BẢN MÔN NGỮ VĂN CHO HỌC SINH LỚP 10, 11
TRUNG TÂM GDNN - GDTX NGỌC LẶC
Người thực hiện: Trịnh Thị Nga
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HÓA, NĂM 2018
0
MỤC LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU ………………………………………………..
Trang 2
1.1.
Lý do chọn đề tài…………………………………………………
2
2.2.
Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
4
2.3
Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề ………………….
5
2.3.1 Thay đổi nhận thức người học.
6
2.3.2 Ôn luyện lí thuyết đọc hiểu.
6
2.3.3 Rèn luyện kỹ năng đọc, phân loại văn bản
7
Rèn kỹ năng nhận diện và phân biệt các phong cách ngôn ngữ,
2.3.4 phương thức biểu đạt, thao tác lập luận.
8
2.3.5 Rèn kỹ năng xác định các loại lỗi sai trong văn bản.
chú trọng rèn luyện nhiều kỹ năng, trong đó có kỹ năng đọc hiểu văn bản. Đọc hiểu
văn bản là quá trình xâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ động. Đây là là
một năng lực rất cần thiết mà người học cần quan tâm và đạt tới. Tuy nhiên nhiều
giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn ngữ văn chưa thực sự coi trọng việc rèn
luyện kỹ năng này cho các em. Trong tiết dạy, người giáo viên còn nặng về truyền
thụ kiến thức một chiều, chưa phát huy được vai trò chủ động, tích cực của người
học. Trong khi đó học sinh thì quá thụ động trong việc học: quen nghe, quen chép,
ghi nhớ và tái hiện một cách máy móc, rập khuôn những gì giáo viên đã giảng,
chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học. Những điều này dẫn đến
kết quả học tập bộ môn ngữ văn chưa được như mong muốn.
Đề thi, đề kiểm tra trong nhà trường phổ thông hiện nay được ra theo hướng
mở. Cấu trúc đề thi gồm có hai phần: Đọc hiểu và làm văn. Trong đó phần đọc hiểu
chiếm 30% số điểm toàn bài nhưng là một phần rất quan trọng, có khả năng quyết
định tới điểm thi toàn bài. Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy: với đối
tượng học sinh trung tâm giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên khi đứng
trước đề thi có dạng câu hỏi đọc hiểu các em thường rất lúng túng, không biết phải
giải đề thi đó như thế nào. Nguyên nhân sâu xa của tình trạng kể trên là do các em
thiếu hụt về kiến thức cơ bản, không có kỹ năng làm bài, khả năng lĩnh hội văn bản
và tạo lập văn bản đều rất kém. Vì vậy, việc rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản
cho học sinh như thế nào để đạt kết quả cao là điều mà bất cứ giáo viên dạy môn
ngữ văn nào cũng phải quan tâm.
Nhiều năm gắn bó với nghề giáo, lại là người trực tiếp giảng dạy, ôn thi tốt
nghiệp, cao đẳng, đại học tôi nhận thấy một thực tế rằng: Chỉ vào năm lớp 12, nhà
trường, thầy cô và các em học sinh mới dành nhiều thời gian ôn tập, củng cố kiến
thức, rèn luyện kỹ năng nhằm mục đích đạt kết quả cao nhất trong các kì thi. Việc
ôn luyện này lẽ ra nên được tiến hành sớm hơn, nghĩa là từ khi các em đang còn là
học sinh lớp 10, 11. Bởi xét cho cùng, thành tích học tập của học sinh là kết quả
của một qúa trình dài phấn đấu, nỗ lực không ngừng. Hơn nữa, những kiến thức
trong dạng câu hỏi đọc hiểu rất phong phú, học sinh phải biết huy động những kiến
thức đã học ở lớp dưới để trả lời những câu hỏi trong đề thi. Trong thực tế giảng
nhằm truyền thụ một chiều cho học sinh những cảm nhận của giáo viên về văn bản
được học mà hướng đến việc cung cấp cho học sinh cách đọc,cách tiếp cận khám
phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của văn bản ,từ đó hình thành cho học
sinh năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động, có sắc thái cá nhân…". Và cũng
từ năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa phần đọc hiểu vào đề thi môn ngữ
văn, đã đổi mới kiểm tra, đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh. Để đáp ứng yêu
cầu đổi mới của môn học đòi hỏi cả người dạy lẫn người học những thay đổi trong
cách tiếp cận và chiếm lĩnh văn bản văn học .
- Việc giảng dạy môn ngữ văn ở trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục
thường xuyên Ngọc Lặc hiện nay gặp rất nhiều khó khăn không chỉ bởi môn ngữ
văn là một môn học khó mà cái chính là do các em học sinh thiếu hụt quá nhiều
kiến thức (hổng kiến thức), năng lực đọc hiểu văn bản còn yếu, khả năng làm bài
còn hạn chế… Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ cả phía người học lẫn
người dạy. Người học thụ động, lười tư duy, chưa chưa phát huy được khả năng
chiếm lĩnh và tạo lập văn bản. Người dạy chưa chú ý dạy phương pháp đọc hiểu
văn bản, chưa hình thành được cho học sinh năng lực tự mình đọc và hiểu một văn
bản. Vì vậy việc cung cấp cho học sinh những phương pháp cụ thể để có thể làm
tốt những yêu cầu của phần đọc hiểu văn bản là vô cùng cần thiết.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Người viết đã tiến hành khảo sát về năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh
hai lớp 10A1 và 11A1 bằng cách đưa ra một hệ thống các câu hỏi để kiểm tra kiến
thức và khả năng viết văn bản của các em. Các câu hỏi như sau:
Câu 1: Em hãy cho biết như thế nào là từ đơn, từ láy, từ ghép, từ đồng nghĩa,
từ trái nghĩa, từ đồng âm; như thế nào là danh từ, tính từ, động từ, đại từ, số từ?
Câu 2: Như thế nào là câu đơn, câu ghép, câu tỉnh lược thành phần ?
Câu 3. Kể tên một số biện pháp tu từ mà em đã học. Cho biết văn bản dưới
đây người viết đã sử dụng biện pháp tu từ nào ?
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
(Hoàng Trung Thông)
"xả láng", không cần giữ gì hết! Nhưng đó đó là nhầm lẫn lớn của một tầm mắt hạn
hẹp.
Các nhà khoa học đã cho biết nước ngọt trên Trái Đất này có hạn. Tổng số
nước ngọt trên Trái Đất ước tính chỉ có chưa đến một tỉ ki - lô - mét khối. Số nước
ngọt đó được coi là đủ cho đến năm 1990 khi nhân loại có ba tỉ người. Dự kiến đến
năm 2015 nhân loại sẽ thêm 3 tỉ người nữa, thành sáu tỉ người thì nguồn nước lấy
đâu cho đủ?
Trên thế giới không phải nước nào cũng may mắn được trời cho đủ nước ngọt
để dùng. Nước Xinh-ga-po hoàn toàn không có nước ngọt, phải mua của Ma-laixi-a về chế biến. Một số nước Cận Đông cũng xảy ra tranh chấp về nguồn nước.
Trong khi đó, công nghiệp càng phát triển thì lượng nước dùng trong công nghiệp
càng nhiều, làm giảm lượng nước ăn, chăn nuôi, trồng trọt.
Liên hợp quốc đã ra lời kêu gọi bảo vệ nguồn nước ngọt, chống ô nhiễm,
chúng ta hãy tiết kiệm nước, giữ gìn nước cho chúng ta vầ mai sau.
(Theo Thanh Ba, báo Nhân dân Chủ nhật)
a) Xác định vấn đề nghị luận.
b) Tìm các luận điểm trong văn bản.
c) Tóm tắt văn bản bằng 3 câu.
Câu 8: Viết một đoạn văn với câu chủ đề: cây xanh có vai trò vô cùng quan
trọng trong đời sống của con người .
Qua khảo sát cho thấy: số em học sinh trả lời đúng câu hỏi là không nhiều.
Kết quả khảo sát này chính là một minh chứng sống động giúp cho người giáo viên
đánh giá được về kiến thức tiếng việt, năng lực tiếp nhận văn bản, khả năng tạo lập
văn bản và kỹ năng giải quyết các dạng bài tập cụ thể là rất kém. Thực trạng đó đòi
hỏi giáo viên bộ môn phải tìm cách giải quyết, khắc phục .
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Kết quả khảo sát chất lượng học sinh như đã nêu ở trên đã làm cho tôi băn
khoăn, trăn trở rất nhiều: làm thế nào để nâng cao chất lượng môn ngữ văn tại đơn
vị mà mình đang công tác, làm thế nào để có thể lấp những lỗ hổng kiến thức cho
các em,phải rèn luyện kỹ năng ra sao để các em có thể tự mình tiếp cận văn bản, tự
tin để có thể giải đáp các câu hỏi trong mỗi bài thi có dạng câu hỏi này. Bằng kinh
- Kiến thức về câu: người học cần nắm vững.
+ Các thành phần câu: thành phần chính, thành phần phụ
+ Phân loại câu:
Các loại câu phân loại theo mục đích nói: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu
cầu khiến, câu cảm thán
Các loại câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp: câu đơn, câu ghép…
- Kiến thức về các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết
minh, nghị luận, hành chính - công vụ.
- Kiến thức về các biện pháp tu từ:
+ Các biện pháp tu từ ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh, tạo âm hưởng
và nhịp điệu cho câu …
+ Các biện pháp tu từ từ vựng: so sánh,nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nói quá, nói
giảm,nói tránh, điệp từ, điệp ngữ…..
+ Các biện pháp tu từ cú pháp: đảo ngữ, lặp cấu trúc, câu hỏi tu từ…
+ Kiến thức về các phong cách ngôn ngữ: phong cách ngôn ngữ sinh hoạt,
phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ báo chí, phong cách
6
ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ khoa học và phong cách ngôn ngữ
hành chính.
(Lưu ý: do ở lớp 10 các em mới được học 2 phong cách là phong cách ngôn
ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, lớp 11 học thêm hai phong cách
ngôn ngữ báo chí và phong cách ngôn ngữ chính luận nên giáo viên chỉ ôn tập cho
các em bốn phong cách ngôn ngữ này, lên lớp 12 sẽ bổ sung thêm 2 phong cách là
phong cách ngôn ngữ khoa học và phong cách ngôn ngữ hành chính)
- Kiến thức về văn bản
+ Nắm khái niệm văn bản
+ Các đặc điểm cơ bản
+ Nhận xét cách vào đề của văn bản.
+Trả lời được các câu hỏi vì sao.
7
* Lưu ý:
- Đối với những văn bản là một tác phẩm hoàn chỉnh, giáo viên yêu cầu học
sinh xác định chủ đề bằng cách tìm ra những từ ngữ, hình ảnh, những câu văn được
sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần. Đây có thể là những từ khóa chứa đựng nội dung
của văn bản.
- Đối với những văn bản là một hoặc một vài đoạn văn, giáo viên yêu cầu học
sinh xác định đoạn văn được trình bày theo cách nào: diễn dịch, quy nạp, móc
xích, song hành hay tổng - phân - hợp.Tác dụng của việc xác định này nằm ở chỗ:
học sinh sẽ phát hiện được câu chủ đề của đoạn văn nằm ở đâu.
2.3.4. Rèn kỹ năng nhận diện và phân biệt các phong cách ngôn ngữ,
phương thức biểu đạt, thao tác lập luận.
Nhận diện các phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt là những nội dung
quen thuộc, thường gặp trong các đề thi đọc hiểu. Tuy nhiên qua thực tế giảng dạy,
người viết nhận thấy đây là những nội dung kiến thức mà người học rất hay nhầm
lẫn khi giải đáp các câu hỏi ở phần đọc hiểu. Để học sinh có thể nhận diện đúng
giáo viên cần:
* Nhận diện các phương thức biểu đạt trong văn bản
Để trả lời được câu hỏi ở nội dung này học sinh cần cũng cố lại kiến thức về 6
phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và hành
chính - công vụ. Mỗi một hình thức biểu đạt đều hướng tới một mục đích giao tiếp
nhất định.
Ở phần nhận diện phương thức biểu đạt, giáo viên cần lưu ý học sinh: Không
phải mỗi văn bản chỉ có một hình thức biểu đạt duy nhất, mà thường kết hợp các
hình thức biểu đạt khác nhau nhưng bao giờ cũng có một phương thức là chủ đạo.
câu, sai về dấu câu); lỗi chính tả.
- Sau khi chỉ ra những lỗi sai cơ bản mà người viết mắc phải giáo viên hướng
dẫn các em kỹ năng phát hiện lỗi bằng cách:
+ Yêu cầu học sinh đọc kỹ văn bản, xác định nội dung, thể loại, phong cách
văn bản.
+ Phân tích cấu tạo câu
+ Phân tích sự liên kết câu trong văn bản
+ Chú ý lỗi chính tả và cách sử dụng từ ngữ.
2.3.6 Hướng dẫn viết đoạn văn ngắn
Các bài tập đọc hiểu thường có yêu cầu học sinh viết một đoạn văn ngắn
(khoảng 5-7 dòng) để bày tỏ cảm nhận của bản thân về một vấn đề nào đó. Để rèn
luyện cho học sinh kỹ năng này giáo viên cần:
- Cung cấp kiến thức: Yêu cầu các em trả lời các câu hỏi: đoạn văn là gì ? các
câu trong đoạn văn có mối quan hệ với nhau như thế nào ? các câu trong đoạn có
hướng đến việc thể hiện đến một chủ đề nhất định hay không? Đoạn văn thường
được trình bày theo những cách nào?
- Rèn kỹ năng:
+ Xác định chủ đề cần viết (viết cái gì)
+ Viết trong bao nhiêu dòng (dung lượng)
+ Tìm ý chính cho đoạn văn (Xác định sẽ viết những gì)
+ Sau khi tìm được ý chính cho đoạn văn tiến hành viết câu chủ đề. Câu chủ
đề có nhiệm vụ dẫn dắt vấn đề.
+ Viết đoạn văn: Người viết có thể trình bày theo phương pháp diễn dịch, quy
nạp, tổng phân hợp những cách trình bày đơn giản nhất là theo kiểu diễn dịch, giáo
viên khi dạy nên hướng các em viết đoạn văn theo kiểu này.
Ví dụ:
- Yêu cầu của đề bài: Bày tỏ suy nghĩ của em về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối
với đất nước.
- Đoạn văn có các ý sau:
+ Thế hệ trẻ phải xây dựng cho mình một lý tưởng sống cao đẹp, vun đắp tình
- Hai biện pháp tu từ: So sánh "Thân em như tấm lụa đào", câu hỏi tu từ "Phất
phơ giữa chợ biết vào tay ai".
- Hiệu quả biểu đạt:
+ So sánh: làm cho lời nói giàu hình ảnh, góp phần miêu tả một cách hình
tượng vẻ đẹp của người phụ nữ.
+ Câu hỏi tu từ: Góp phần tăng sắc thái biểu cảm cho lời than thân.
d) Từ nội dung bài ca dao trên em có liên hệ gì về cuộc sống của người phụ
nữ trong xã hội ngày nay. (Trình bày bằng một đoạn văn khoảng 5- 7 dòng)
- Học sinh nêu ra những suy nghĩ của mình về cuộc sống của người phụ nữ
trong xã hội hiện đại (Khả năng tự quyết định cuộc sống, không phụ thuộc)
Bài 3: Đọc đoạn thơ sau:
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con !
(Hồ Xuân Hương, Tự tình II)
a) Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
- Thể thơ thất ngôn bát cú đường luật
b) Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu đề của bài thơ? Nêu
hiệu quả nghệ thuật cảu biện pháp tu từ đó?
10
- Biện pháp: đảo trật tự cú pháp.
- Tác dụng: Làm rõ sự cô đơn, trơ trọi, bẽ bàng của nhân vật trữ tình.
c) Từ "xuân''trong hai câu kết có ý nghĩa gì?
hàng hóa, đoàn gánh đã xỏ sẵn vào quang rồi, họ còn đứng nói chuyện với nhau ít
câu nữa.
Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi.
Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre, hay bất cứ cái gì có thể dùng được của các
người bán hàng để lại, Liên trông thấy động lòng thương nhưng chính chị cũng
không có tiền để mà cho chúng nó.
(Trích Hai đứa trẻ - Thạch Lam,
Ngữ văn 11, tập 11,, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr. 95-96)
a) Nội dung chính của văn bản trên là gì ?
- Nội dung chính của văn bản: Tâm hồn đôn hậu, tinh tế, giàu lòng trắc ẩn của
nhân vật Liên trước bức tranh thiên nhiên nơi phố huyện trong thời khắc ngày tàn.
11
b) Văn bản trên có sự kết hợp giữa những phương thức biểu đạt nào ? Tác dụng
của việc kết hợp những phương thức đó là gì ?
- Văn bản trên có sự kết hợp các phương thức biểu đạt: miêu tả, biểu cảm, tự sự.
Tác dụng: khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên quen thuộc, thơ mộng, gợi cảm
nơi làng quê và tâm trạng buồn man mác, thấm thía của nhân vật Liên.Qua sự hòa hợp
giữa con người và thiên nhiên,tác giả ít nhiều gợi được ở người đọc những tình cảm đối
với quê hương.
c) Văn bản đã giúp anh (chị) cảm nhận được nét đặc sắc gì trong phong cách nghệ
thuật của Thạch Lam?
- Nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Thạch Lam: Tâm hồn đôn hậu, tinh
tế, nhạy cảm vừa đậm đà yếu tố hiện thực vừa phảng phất chất thơ, chất lãng mạn
Bài 5: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
"… Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố
quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện
giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng
phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng
- Đoạn văn nêu lên sự gắn bó và giá trị sử dụng của cây dừa đối với đời sống
của con người, đặc biệt là người dân Bình Định .
b) Đoạn văn trên sử dụng những biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của những
biên pháp tu từ đó.
- Các biện pháp tu từ : liệt kê,so sánh
- Tác dụng:
+ Liệt kê: Liệt kê các giá trị sử dụng phong phú của cây dừa trong đời sống
con người.
+ So sánh : Cho thấy sự gần gũi, thân thiết của cây dừa với đời sống của
người dân Bình Định giống như cây tre với người dân miền Bắc .
c) Đoạn văn trên diễn đạt theo cách nào ?
- Đây là đoạn văn diễn dịch.
d) Hãy đặt tên cho đoạn văn.
- Có thể đặt tên cho đoạn văn: cây dừa Bình Định .
Bài 3: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
13
Vị của Tổ quốc
Nếu Tổ quốc tôi có một hương vị, nếu tôi có thể nâng niu bằng hai bàn tay và
đặt môi hôn, tôi nghĩ rằng nó sẽ có vị mặn .
Vị mặn của biển bởi khi ông nội tôi xa quê chọn món cá khô.
Vị mặn trong không khí của những miền duyên hải lộng gió làm tâm hồn
người đằm lại.
Vị mặn của sữa mẹ khi em bé vội vàng bập vào đầu vú còn đẫm mồ hôi của
buổi làm đồng .
Vị mặn của bát nước mắm chấm chung trong mâm cơm đại gia đình .
Vị mặn của hạt muối miền xuôi cần cù gửi lên miền ngược .
Vị mặn của máu những người trai trẻ năm xưa đổ xuống cho một dải đất sau
hai mươi năm chia cắt được nối liền. Vị mặn của nước mắt bà tôi trong những năm