1. Mở đầu.
1.1. Lí do chọn đề tài.
“Văn học là nhân học”. Vậy văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và
sự phát triển tư duy của con người.Nó là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội,
điều đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng,
tình cảm cho học sinh.bên cạnh đó nó còn giúp cho con người phát triển hoàn
thiện về: “Đức-Trí-Thể-Mĩ.”.
Môn Ngữ văn trong nhà trường bậc THCS chia làm ba phân môn: Văn học,
Tiếng việt và Tập làm văn. Nhưng Tập làm văn là phân môn mang tính chất tổng
hợp, sáng tạo, thực hành từ các phân môn Văn học, Tiếng việt. Đồng thời, nó
còn gắn bó mật thiết với tất cả các môn học khác trong chương trình THCS và
thể hiện đậm nét dấu ấn của cá nhân.Như vậy, chúng ta dạy Tập làm văn cho học
sinh theo hướng đổi mới là nhằm rèn luyện cho học sinh kỹ năng xây dựng đoạn
văn thông thường và biết hình thành văn bản dưới cả hai hình thức nói, viết về
một số nội dung nào đó hay một đề tài cụ thể.Thông qua bài làm văn của mình,
các em bộc lộ những tri thức, vốn sống ,tư tưởng, tình cảm của cá nhân, biết yêu
thương, quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết
hướng tới những tình cảm cao đẹp như long nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải,
sự công bằng.căm ghét cái xấu, cái ác.Từ đó rèn cho các em tính tự lập, có tư
duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện ,mĩ trong
nghệ thuật. Vì thế , giáo viên giảng dạy phải biết nắm lấy ưu thế này để phát huy
những khả năng của các em, đồng thời qua việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn,
giáo viên có dịp uốn nắn điều chỉnh lệch lạc trong vốn sống, nhận thức, tư tưởng
tình cảm của các em. Bên cạnh đó người giáo viên cần phải kết hợp với việc
vân dụng các phương pháp và cách tổ chức dạy học linh hoạt để mỗi tiết dạy
Tập làm văn đều đạt được hiệu quả như mong muốn.
Trong chương trình Ngữ văn lớp 7 - Tập I, văn biểu cảm là một kiểu bài
quan trọng, có số lượng lớn trong phân phối chương trình về phân môn Tập làm
văn. Kiểu bài văn biểu cảm không phải là mới đối với học sinh lớp 7, nhưng qua
nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy mặc dù biểu lộ tình cảm, cảm xúc là một nhu
cầu thiết yếu của con người nhưng học sinh chưa biết cách bộc lộ cảm xúc của
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Như chúng ta đều biết: Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh THCS
là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết trong việc tạo lập văn bản. Vậy trước
tiên ta phải hiểu kĩ năng là gì? Gần đây ta nghe nói rất nhiều về thuật ngữ “kĩ
năng” như kĩ năng sống, kĩ năng mềm, kĩ năng chuyên môn , trung tâm huấn
luyện kĩ năng . Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng. Theo từ điển
Tiếng Việt: Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong
lĩnh vực nào đó vào thực tế.
Đối với môn Ngữ Văn, rèn kĩ năng làm văn cho học sinh tức là hướng dẫn
học sinh biết vận dụng những kiến thức đã học để dựng đoạn văn trong quá trình
tạo lập văn bản.Từ đó, giúp học sinh hình thành ý thức và nhân cách cũng như
trình độ học vấn cho các em ngay khi đang học bậc học THCS và trưởng thành
sau này. Qua việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn, ta rèn cho học sinh ý thức tự
tu dưỡng, biết yêu thương, quí trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ
nghĩa xã hội, biết hướng tới những tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần
tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác và cũng từ đó rèn
cho các em tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá
trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật. Trước hết là trong văn học có năng lực thực
hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp.
Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên phải hướng dẫn
cho các em cách thức viết đoạn văn. Vậy trước hết ta phải hiểu đoạn văn là gì?
Đoạn văn là một đơn vị trức tiếp cấu thành nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa
lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý
tương đối hoàn chỉnh. Văn bản là một chỉnh thể thống nhất, thường bao gồm
nhiều đoạn văn. Các đoạn văn trong một văn bản vừa cần được tách ra một cách
rõ rệt, vừa cần có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Bên trong mỗi đoạn văn cũng
cần có sự liên kết của các câu. Hơn nữa, các câu bên trong một đoạn văn cần có
2
Các em cảm nhận và viết văn như nghĩa vụ, làm qua loa cho xong rồi đem nộp.
Kể cả học sinh khá, dù cảm và hiểu được yêu cầu của đề, xác định đúng hướng
làm bài nhưng kể vẫn nhiều hơn biểu cảm.
2. Chưa biết cách tìm ý cho bài văn biểu cảm. Vì thế bài làm của các em
thường thiếu ý hoặc thừa ý.
3. Chưa biết tách đoạn, dựng đoạn theo kết cấu. Có đoạn dung lượng quá
lớn, chất chứa nhiều nội dung vượt quá “sức chứa” của một đoạn; có đoạn lại
chưa đầy đủ ý được tách riêng ra không có dụng ý nhấn mạnh hoặc không sử
dụng biện pháp tu từ nào.
Ví dụ 1:
Ca dao có nhiều câu ca ngợi cảnh đẹp đất nước. Nếu Lạng Sơn – nơi biên
giới phía Bắc – hấp dẫn người ta bởi “có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị, có chùa
3
Tam Thanh” thì kinh thành Thăng Long – nơi phồn hoa đô thị - lại có sức lôi
cuốn bởi “phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ”.
Ca dao đưa chúng ta vô xứ Nghệ quanh quanh với “non xanh nước biếc
như tranh họa đồ”. Rồi đến với xứ Huế đẹp và thơ, đắm mình trong đêm “lờ đờ
bóng ngả trăng chênh” với “ giọng hò xa vọng thắm tình nước non”.
(Bài làm của học sinh)
Hai đoạn văn trên cùng đang liệt kê những câu ca dao ca ngợi cảnh đẹp đất
nước nhưng lại tách ra thành 2 đoạn.
Ví dụ 2:
Trong lịch sử chống ngoại xâm, chúng ta thấy dân tộc ta anh hùng hào kiệt
thời nào cũng có. Hai Bà Trưng phất ngọn cờ hồng khởi nghĩa đánh tan quân
Thái thú Tô Định, buộc hắn phải chốn vào đám loạn quân rút chạy về nước. Đất
nước sau hơn hai thế kỷ bị quân phong kiến nước ngoài đô hộ đã giành được
thắng lợi hoàn toàn.
(Bài làm của học sinh)
số
SL %
SL %
SL %
SL %
SL %
20142015 7A
32 0
0
6
18,8 16 50 8
25 2
6,2
4
20152016 7A 30 0
0
7
23,3 14 46,7 7
23,3 2
6,7
Nguyên nhân của thực trạng:
Nguyên nhân của thực trạng trên có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng
theo cá nhân tôi nó bắt nguồn từ một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Thứ nhất, phân môn tập làm văn là một phân môn học khó, nó mang tính
chất thực hành tổng hợp, nó đòi hỏi giáo viên vừa phải cung cấp kiến thức lý
thuyết vừa phải rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh. Trong khi đó, thời
gian học chính khoá còn quá ít so với lượng kiến thức mà giáo viên phải truyền
đạt cho học sinh theo PPCT và SGK yêu cầu (VD trong PPCT Ngữ văn 7 tiết
5
Văn biểu cảm còn gọi là văn trữ tình, bao gồm các thể loại văn học như thơ
trữ tình, ca dao trữ tình, tuỳ bút.
Tình cảm trong văn biểu cảm thường là những tình cảm đẹp thấm nhuần tư
tưởng nhân văn sâu sắc.
Ngoài biểu cảm trực tiếp như tiếng kêu, lời than, đoạn văn biểu cảm còn sử
dụng các biện pháp tự sự, miêu tả để khơi gợi tình cảm.
( Sách giáo khoa – Ngữ Văn – 7 / Tập I – Trang 73)
b. Đặc điểm của văn bản biểu cảm:
- Mỗi bài văn biểu cảm tập trung biểu đạt một tình cảm chủ yếu như yêu
thiên nhiên, yêu loài vật, yêu con người, yêu thương trường lớp, bạn hữu, yêu
gia đình, yêu quê hương đất nước, ghét thói tầm thường, độc ác…
- Để biểu đạt tình cảm ấy, người viết có thể chọn hình ảnh có ý nghĩa ẩn dụ,
tượng trưng (một đồ vật, một loài cây cỏ, một danh lam thắng cảnh hay một hiện
tượng nào đó) để gửi gắm tình cảm, tư tưởng, hoặc biểu đạt bằng cách thổ lộ
trực tiếp những nỗi niềm, cảm xúc trong lòng.
- Cũng như đoạn văn thuộc các thể loại khác, đoạn văn biểu cảm cũng có bố
cục ba phần (Mở đoạn; Thân thân; Kết đoạn).
- Đoạn văn biểu cảm chỉ thực sự có giá trị khi tình cảm và tư tưởng hoà
quện với nhau chặt chẽ. Cảm xúc phải chân thật, trong sáng, tư tưởng phải tiến
bộ, đúng đắn. Câu văn, lời văn, giọng văn phải có giá trị biểu cảm.
- Trong văn biểu cảm, tình cảm con người đã qua suy nghĩ, khác với trạng
thái, cảm xúc ( biểu hiện ra nét mặt, cử chỉ).
- Có hai cách (lối) biểu cảm:
Biểu cảm trực tiếp: Thông qua cách sử dụng các từ cảm : ôi, hỡi, tôi, ta…
Tác dụng bộc lộ, biểu hiện tình cảm, thái độ đối với sự việc có liên quan. Điều
này thấy rõ nhất trong thơ trữ tình, trong tuỳ bút, trong đối thoại nội tâm của
Trên đây là những yêu cầu cơ bản nhất để giáo viên hướng dẫn học sinh
vận dụng vào các tiết thực hành viết bài văn biểu cảm.
2.3.2. Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn biểu cảm cho học sinh:
2.3.2.1. Xác định câu chủ đề.
Từ những ý đã xác định được ở phần Lập dàn bài, giáo viên hướng dẫn cho
học sinh tập viết các câu chủ đề. Đây là khâu quan trọng trong việc tạo lập đoạn
văn. Vì có viết được câu chủ đề thì mới có thể triển khai ý của đoạn văn và lựa
chọn nội dung trình bày của đoạn văn.
Để học sinh viết được câu chủ đề, giáo viên cần nêu để học sinh nắm được
thế nào được gọi là câu chủ đề: Câu chủ đề của đoạn văn là câu chứa đựng nội
dung chính, khái quát, là hạt nhân ý nghĩa của cả đoạn, lời lẽ câu chủ đề ngắn
gọn, hàm xúc và thường đủ hai thành phần chính của câu: Chủ ngữ và vị ngữ.
Câu chủ đề có thể đứng ở đầu đoạn văn đối với đoạn văn viết theo kết cấu diễn
dịch, có thể đứng ở cuối đoạn đối với đoạn văn viết theo kết cấu quy nạp.
Việc viết câu chủ đề đúng với ý chính đã tìm được ở phần lập dàn bài sẽ
giúp học sinh định hướng cách lựa chọn nội dung trình bày theo cấu trúc diễn
dịch, qui nạp hay các kiểu cấu trúc khác. Đồng thời cũng định hướng cho các em
lựa chọn các phép liên kết, phương tiện liên kết, cách dùng từ ngữ cho phù hợp
với cảm xúc trong bài viết của mình.
Ví dụ: Với đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Đứng bên ni đồng,
ngó bên tê đồng…”, sau khi giáo viên hướng dẫn học sinh lập được dàn bài như
đã nêu ở Phần 1.3, Bước 2: Lập dàn bài.
Giáo viên yêu cầu học sinh: Từ những ý đã xác định được ở phần Lập dàn
bài, em hãy viết các câu chủ đề tương ứng?
Trước hết, giáo viên hướng dẫn học sinh xác định câu chủ đề mang tính khái
quát cho toàn bài văn bằng câu hỏi: Nội dung chính bài ca dao là gì? Từ đó học sinh
có thể viết như sau:
7
riêng mình về những khía cạnh của đối tượng biểu cảm. Không lan man, dàn đều
mà nên xoáy sâu vào các trọng tâm, trọng điểm.
Đoạn kết bài: Nêu lên những cảm nghĩ chung, có thể đánh giá và liên hệ.
Tránh dài dòng, trùng lặp, đơn điệu.
Thao tác cơ bản: Phát biểu cảm nghĩ không thể nói chung chung mà rất cụ
thể. Phải chỉ ra được yêu thích, thú vị… ở chỗ nào, tại sao lại yêu thích, thú vị?
Nghĩa là phải phân tích, trích dẫn.
Có lúc phải khen, chê. Khen, chê chính là viết lời bình. Giáo viên qua
những bài giảng cụ thể, qua việc hướng dẫn đọc sách sẽ giúp các em làm quen
dần cách bình văn, biến thành kĩ năng, kĩ xảo. Lúc nào viết được lời bình hay,
sâu sắc thì bài cảm nghĩ mới thực sự mang vẻ đẹp trí tuệ.
8
Có lúc phải biết liên tưởng so sánh. Từ hiện tượng này mà nghĩ, mà nhớ đến
hiện tượng khác tức là liên tưởng.
Viết lời bình, so sánh, liên tưởng là thao tác cơ bản trong văn biểu cảm.
a. Cách viết đoạn mở bài trong văn biểu cảm.
Trước hết giáo viên cho học sinh nắm được: Mở bài hay nhất, biểu cảm hay
nhất là đạt hai yêu cầu sau:
1. Tính khái quát.
2. Tính định hướng.
Từ đó, giáo viên có thể trình bày một đoạn văn mẫu (đoạn mở bài) để học
sinh học tập, bắt chước (bắt chước nhưng không ghi chép nguyên mẫu), rồi vận
dụng cách mở bài ấy cho bài của mình.
Chẳng hạn, khi viết đoạn văn mở bài cho đề bài:Phát biểu cảm nghĩ về bài
ca dao “Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng…” Giáo viên có thể cho học sinh
tham khảo cách mở bài như sau: (Những đoạn văn tham khảo tôi đều sử dụng đồ
dùng dạy học trực quan như máy chiếu hoặc bảng phụ để vừa gây húng thú cho
học sinh, vừa để học sinh được đọc, được quan sát, được ngẫm nghĩ. Như vậy
Các cách dựng đoạn văn:
- Viết đoạn văn cảm nghĩ theo lối diễn dịch (Là đoạn văn có câu chủ đề
đứng ở đầu đoạn)
- Viết đoạn văn cảm nghĩ theo lối quy nạp (Là đoạn văn có câu chủ đề đứng
ở cuối đoạn)
- Viết đoạn văn cảm nghĩ theo lối song hành (Là đoạn văn không có câu chủ
đề. Các câu được liệt kê nối tiếp nhau nhờ mối quan hệ liên tưởng, nhờ sự sắp
xếp tuyến tính của các câu)
- Viết đoạn văn cảm nghĩ theo lối móc xích (Là cách trình bày ý nọ nối tiếp
ý kia, ý của câu đi sau móc vào ý của câu đi ngay trước nó, và cứ như vậy nối
tiếp nhau cho tới khi kết thúc đoạn văn).
- Viết đoạn văn cảm nghĩ theo kết cấu tổng – phân - hợp (Là đoạn văn có
câu đầu đoạn nêu một ý tổng quát, sau đó các câu tiếp theo (ở giữa đoạn) phân
tích, cụ thể hoá ý đó. Cuối cùng, câu kết đoạn lại tổng hợp, khái quát hoá ở mức
độ cao hơn. Do đó, ở loại đoạn văn này cả câu đầu và câu cuối đều quan trọng,
đều có thể được coi là câu chủ đề).
Tuy nhiên, mô hình cơ bản của đoạn văn biểu cảm là diễn dịch, quy nạp và
tổng-phân-hợp. Nó phù hợp với mạch cảm xúc, tình cảm của người viết. Để viết
được đoạn văn theo các cách trên, thì người viết phải bám sát các ý của bài, rồi
luyện viết với từng ý chính đã được xác định và các câu chủ đề đã được xác lập
ban đầu.
Ví dụ: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Đứng bên ni đồng, ngó bên tê
đồng…” , giáo viên hướng dẫn học sinh viết các đoạn văn thân bài theo kết cấu
nêu trên (lưu ý mỗi đoạn văn được viết ra phải xuất phát từ các ý, các câu chủ đề
đã tìm được ở phần trên).
Giáo viên có thể cho học sinh tham khảo 2 đoạn văn sau:
Đoạn văn 1: (Đoạn văn viết theo lối diễn dịch)
Hai câu đầu bài ca dao, hình ảnh cánh đồng quê hương hiện lên không
chỉ rộng lớn mà còn đẹp đẽ, trù phú và đầy sức sống:
“Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
cong xuống, hạt lúa non sắp mẩy căng. “Phất phơ” nghĩa là nhẹ nhàng đung đưa,
uốn lượn… Chẽn lúa đòng đòng “phất phơ” bay nhẹ trước làn gió trên đồng nội
một buổi sớm mai hồng thật thơ mộng. Thiếu nữ hân hoan sung sướng thấy hồn
mình phơi phới hướng về một ngày mai hạnh phúc như “chẽn lúa đòng đòng”
đang “phất phơ” dưới ánh bình minh kia. So sánh thật hay và đầy ý nghĩa. Hình
ảnh cô thôn nữ hiện lên thật xinh đẹp, thật tươi trẻ và đầy sức xuân.
Đến đoạn văn này câu chủ đề được đặt ở đầu đoạn và cuối đoạn để thể hiện
“vẻ đẹp của cô thôn nữ” mang tính khái quát nhất, hàm xúc nhất.
Theo cách như vậy giáo viên hướng dẫn học sinh viết các đoạn theo các câu
chủ đề đã xác lập được ở trên.
c. Cách viết đoạn văn kết bài.
Đoạn văn kết bài nêu lên cảm nghĩ chung, có thể đánh giá và liên hệ. Vì
vậy, để có được một bài văn hoàn chỉnh không thể không viết đoạn kết bài.
Đoạn văn tham khảo:
Bài ca dao nói về mùa xuân, đồng xanh và thôn nữ. Cảnh và người rất
thân thuộc, đáng yêu. Cảnh vừa có diện vừa có điểm, câu ca đồng hiện không
gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật “đơn sơ mà lộng lẫy”. Thơ lục bát biến
thể sống động, lối so sánh ví von đậm đà, ý vị. “Thơ ca là sự chắt lọc tâm hồn,
là tình yêu và mơ ước…”. Đọc bài ca dao “Đứng bên ni đồng, ngó bên tê
đồng…”, ta cảm thấy như thế, hương quê và tình quê làm vương vấn tâm hồn
ta, đem đến cho ta “tình yêu và mơ ước”…
Tóm lại, rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn trong bài văn biểu cảm là thực
hiện các thao tác tìm hiểu đề, tìm ý, xây dựng câu chủ đề để từ đó định hướng
cho việc xây đựng từng đoạn văn. Cứ tập đi tập lại như thế học sinh sẽ thành
11
thạo. Không phải chỉ thành thạo dựng đoạn độc lập mà thành thạo và nhạy cảm
trong dựng đoạn của bài văn biểu cảm.
2.3.3. Cung cấp các dạng bài tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn biểu
bên bà. Em tự nhủ lòng mình: Phải học thật giỏi để báo đáp công ơn của bà.”
2.3.3.3. Dạng bài tập thứ 3: Viết đoạn văn biểu cảm đan xen yếu tố miêu tả.
Ví dụ: Cho đề văn: Cảm nghĩ của em về một người thân.
Em hãy viết một đoạn văn biểu cảm đan xen yếu tố miêu tả để thực hiện đề
văn trên.
Đoạn văn tham khảo:
12
“Tôi không nhớ đã quen chị như thế nào, nhưng tôi luôn nhớ rõ ấn tượng
đầu tiên của mình về chị. Chẳng phải nụ cười tươi tắn như nắng mai đã trở
thành nét duyên, chẳng phải bộ quần áo hoa tuyết lung linh như những hạt ngọc
mà chính là đôi mắt. Còn hạt sương nào long lanh hơn đôi mắt ấy? Còn nụ hoa
nào dịu dàng như thế không? Còn vật gì to lớn mà lại chứa đựng nhiều yêu
thương, nhiều tình cảm như hai hạt ngọc nhỏ nhắn ấy? Có lẽ là không. Bởi mỗi
khi tôi buồn, ánh mắt ấy lại toả ra những ngọn lửa dịu dàng, ấm áp. Còn mỗi
khi tôi vui, ánh mắt ấy lại tràn đầy niềm tin yêu, trìu mến. Chị chăm lo cho tôi
như một đứa em ruột của mình vặy. chị dạy dỗ tôi nhiều điều. Có lễ vì vậy mà
không gì đo được tình cảm của tôi đối với chị.”
2.3.3.4. Dạng bài tập thứ 4: Cho đề văn yêu cầu học sinh tìm ý, viết câu
chủ đề, xây dựng đoạn văn theo kết cấu.
Ví dụ: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ “Cảnh khuya” của chủ tịch Hồ Chí
Minh.
Yêu cầu:
a. Lập dàn bài cho đề bài trên.
b. Từ các ý trong phần thân bài, chọn viết một câu chủ đề, sau đó viết đoạn
văn theo kết cấu diễn dịch hoặc quy nạp với câu chủ đề đó.
Với bài tập này giúp học sinh rèn luyện kỹ năng lập ý trước khi viết bài và
rèn kỹ năng viết đoạn văn có câu chủ đề.
học
số
Giỏi
SL
Khá
%
SL
%
Trung
bình
SL %
Yếu
SL
Kém
%
SL
%
20162017 7A 32 06 18,8 8
25 16
50 02 6,2 0
kinh nghiệm giữa các đồng nghiệp trong tổ với nhau.
14
3.2.3. Đối với Phòng GD& ĐT huyện:
Hàng năm tổ chức hội thảo chuyên đề cho giáo viên bộ môn Ngữ văn để
giáo viên có dịp trao đổi kinh nghiệm, bàn luận tìm ra giải pháp tối ưu, tích cực
nâng cao chất lượng dạy học.
Trên đây là toàn bộ SKKN: “Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng viết
đoạn văn biểu cảm cho học sinh lớp 7, Trường THCS DTNT, Thường
Xuân” mà tôi đã áp dụng trong hai năm học 2016-2017; 2017-2018 tại trường
THCS DTNT, Thường Xuân. Đây chỉ là sáng kiến kinh nghiệm của cá nhân tôi
nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN
Thường Xuân, ngày 05 tháng 03 năm 2019
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT
Bùi Thị Phương
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 7, Tập I – Nhà xuất bản Giáo dục.
1
2
2
2
5
5
11
16
18
19
19
19
19
20
20
17