SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THẠCH THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT
ĐOẠN VĂN CHO HỌC SINH LỚP 8
Người thực hiện: LÊ THỊ HƯƠNG
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS THÀNH VINH
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): NGỮ VĂN.
1
THANH HOÁ NĂM 2018
MỤC LỤC
TÊN MỤC LỤC
Phần I : MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Phần II : NỘI DUNG
1.Cơ sở lý luận chung về đoạn văn
2.Thực trạng viết đoạn văn của học sinh Lớp 8
a. Thực trạng.
b. Kết quả của thực trạng.
16
17
18
2
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lí do viết đề tài.
Làm văn chiếm một vị trí quan trọng trong môn Ngữ Văn bậc Trung học cơ
sở. Nó thể hiện rõ qua thời lượng: Số tiết thực hành được bố trí khá nhiều, chưa
kể phần thực hành được bố trí xen kẽ trong các tiết tìm hiểu lí thuyết. Điều đó
cho thấy Bộ Giáo dục và Đào tạo rất chú trọng đến vấn đề rèn luyện các kĩ năng
cơ bản cho học sinh. Chính vì coi trọng thực hành nên Chương trình Ngữ Văn
nhấn mạnh : Trọng tâm của việc rèn luyện kĩ năng Ngữ văn cho học sinh là làm
cho học sinh có kĩ năng nghe, đọc, nói, viết Tiếng Việt khá thành thạo theo các
kiểu văn bản và có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có
năng lực cảm nhận và bình giá văn học.
Chương trình Tập làm văn đặt trọng tâm ở thực hành : xây dựng qua bài
thực hành, thực hành nhận biết và thực hành làm văn bản. Ngoài việc luyện kĩ
năng nghe, đọc, nói, chương trình còn rất chú trọng đến kĩ năng viết.
Như chúng ta đã biết : Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh là vấn
đề hết sức quan trọng và cần thiết trong việc tạo lập văn bản. Từ đó, giúp học
sinh hình thành ý thức và nhân cách cũng như trình độ học vấn cho các em ngay
khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường cũng như khi đã trưởng thành. Qua việc
rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh, ta rèn cho học sinh ý thức tự tu
dưỡng, biết yêu thương, quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng nhân ái, vị tha, tinh
thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác và cũng từ đó
rèn cho các em tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các
giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật. Biết vận dụng năng lực thực hành và
- Các yếu tố cơ bản trong tạo lập đoạn văn.
- Một số lưu ý cho giáo viên trong quá trình hướng dẫn HS tạo lập đoạn văn.
- Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 8.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp phân tích, chứng minh.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp thực nghiệm.
PHẦN II : NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐOẠN VĂN
Năm 1914 trong cuốn Tiếng Nga dưới ánh sáng khoa học của
A.M.Petskovkj đã nói đến sự tồn tại của một đơn vị ngữ pháp lớn hơn câu nằm
giữa hai chỗ lùi đầu dòng là đoạn văn. Sau đó nhiều nhà khoa học nghiên cứu
vấn đề này gọi đơn vị lớn hơn câu bằng nhiều cách diễn đạt khác nhau: Theo
ông Hà Thúc Loan“ Đoạn diễn đạt tương đối trọn vẹn một ý và được tạo thành
bởi nhiều câu liên kết. Trong bài văn đoạn được nhận biết bằng chỗ thụt đầu
dòng và dấu chấm xuống dòng”( “Tiếng Việt thực hành”, 1996, ĐHSPTP
HCM), còn theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết: “ Đoạn văn là cơ sở để tổ chức
văn bản, thường một số câu gắn với nhau trên cơ sở một chủ đề bộ phận, cùng
nhau phát triển chủ đề đó theo định hướng giao tiếp chung của văn bản”.
Như vậy, các cách hiểu trên tuy có chỗ khác nhau nhưng tất cả đều thống
nhất ở hai điểm:
Thứ nhất: Mỗi đoạn văn “diễn đạt một nội dung nhất định” hoặc “ diễn
đạt tương đối trọn vẹn một ý”.
Thứ hai: Mỗi đoạn văn có cấu trúc nhất định và được nhận diện về hình
thức: mở đầu bằng chỗ thụt đầu dòng và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng.
4
sinh không được chú trọng, có chăng chỉ là hình thức, áp đặt, máy móc.
+ Trong giờ dạy, giáo viên chưa truyền được ngọn lửa đam mê cho học sinh.
Chưa làm cho học sinh thích học và lựa chọn môn học của mình để ôn thi học
sinh giỏi. Một số thầy cô bi quan, buông xuôi trước thực trạng khó khăn trong
dạy học Ngữ Văn.
+ Một số giáo viên chưa có sự đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát
huy năng lực sáng tạo ở học sinh. Bài dạy nghiêng về hình thành kiến thức lí
thuyết, chưa dành thời gian phù hợp cho học sinh thực hành, rèn luyện kĩ năng
viết đoạn văn ở học sinh.
+ Một số giáo viên chưa thật sự có trách nhiệm trong khâu kiểm tra, đánh giá
học sinh. Hoạt động kiểm tra đánh giá của giáo viên còn nặng về kiến thức.
Nhiều thầy cô chưa có biện pháp cầm tay chỉ việc để sửa bài, rút kinh nghiệm
5
trong việc viết đoạn văn, bài văn cho các em. Nhận xét bài của giáo viên trong
quá trình chấm chữa bài kiểm tra của học sinh còn chung chung, chưa cụ thể,
chưa rõ ràng.
Ví dụ:
*. Về phía học sinh.
- Ưu điểm:
+ Đa số học sinh đã nắm được phương pháp viết đoạn văn, biết cách tạo lập
đoạn văn theo lối diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích theo yêu cầu của đề.
+ Một số em nắm vững hình thức trình bày đoạn văn, bài văn.
- Tồn tại:
+ Vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh còn hạn chế.
+ Thiếu sự quan tâm của phụ huynh. Định hướng của bản thân gia đình và học
sinh không theo các môn Khoa học Xã hội.
+ Tài liệu tham khảo của môn Ngữ văn nhiều, song chất lượng lại không cao,
lượng bài viết của học sinh lớp 8 năm học( 2016-2017), thu được kết quả như
sau:
Đề bài:
Cảm nhận vẻ đẹp của bức tranh làng quê trong bài thơ “Quê hương”( Tế
Hanh).
Điểm
Giỏi
Khá
TB
Yếu- Kém
Sĩ số
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Lớp
8A
34
1
2,9
7
20,7
18
52,9
8
23,5
dụng các cách: Diễn dịch, qui nạp, song hành, móc xích…Ở đối tượng học sinh
lớp 8, cơ bản tôi chỉ hướng dẫn cho các em một số cách lập luận phổ biến là diễn
dịch, qui nạp, song hành còn các cách còn lại tôi chỉ hướng dẫn qua cho các em
hiểu và vận dụng được khi cần thiết, khi ôn thi đối tượng học sinh giỏi mới tập
trung rèn viết.
* Trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch.
Là cách lập luận đi từ ý lớn, ý khái quát, đến ý nhỏ, ý bộ phận. Đoạn văn sẽ
có 2 phần:
- Phần mở đoạn ( Câu chủ đề đứng ở đầu đoạn).
- Phần phát triển đoạn: những câu kế tiếp triển khai các ý phụ để làm rõ ý chính
của câu chủ đề.
Ví dụ:
Trần Đăng Khoa rất biết yêu thương. Em thương bác đẩy xe bò “ mồ hôi
ướt lưng, căng sợi dây thừng” chở vôi cát về xây trường học, và mời bác về nhà
mình…Em thương thầy giáo một hôm trời mưa đường trơn bị ngã, cho nên dân
làng bèn đắp lại đường.
( Theo Xuân Diệu)
* Trình bày theo cách qui nạp:
Qui nạp là cách trình bày đi từ ý nhỏ, ý cụ thể, đến ý lớn, ý khái quát( là
cách trình bày ngược lại với diễn dịch). Đoạn văn sẽ có cấu trúc hai phần:
- Phần phát triển đoạn: Chứa ý phụ, ý cụ thể được triển khai đứng trước.
- Phần kết đoạn: là câu chủ đề đứng cuối đoạn.
Ví dụ:
Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm mà vẫn quanh năm đói rách. làng
xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ăn tập thể. Đâu đâu cũng có
trường học, nhà giữ trẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ, sân và kho của hợp tác xã, nhà
mới của xã viên…Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày
càng tiến bộ.
( Hồ Chí Minh)
* Trình bày theo cách song hành
- Phần mở đoạn: Nêu ý chính, khái quát.
- Phần phát triển: Các câu chứa ý phụ.
- Phần kết đoạn: Tổng hợp, khẳng định lại vấn đề.
Ví dụ:
Thế đấy, biển luôn thay đổi màu tùy theo sắc mây trời. Trời xanh thắm,
biển cũng thắm xanh, như dâng lên cao, chắc nịch. Trời rải mây trắng nhạt,
biển mơ màng dịu hơi sương. Trời âm u mây mưa, biển xám xịt nặng nề. Trời
ầm ầm, biển đục ngầu, giận dữ… Như một con người lúc buồn vui, biển lúc tẻ
nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng.
( Vũ Tú Nam)
c. Liên kết câu và liên kết đoạn văn.
Thực tế, kiến thức về liên kết câu và liên kết đoạn văn trong văn bản các
em đã được học từ các lớp dưới và sẽ được phát triển, mở rộng ở chương trình
lớp 9 với các khái niệm và cách thực hành, luyện tập cụ thể. Trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài Sáng kiến kinh nghiệm này tôi chỉ xin đề cập đến hai
phương diện liên kết câu và liên kết đoạn văn cần rèn luyện cho học sinh.
- Liên kết nội dung:
+ Liên kết chủ đề: Các câu trong đoạn, các đoạn trong văn bản phải liên kết với
nhau nhằm hướng đến chủ đề chung của đoạn, của văn bản.
+ Liên kết lo gic: Các câu trong đoạn văn và các đoạn văn phải được sắp xếp
theo một trình tự hợp lí, logic.
9
- Liên kết hình thức: Sử dụng các phép liên kết bằng từ ngữ có tác dụng liên kết
các câu văn, đoạn văn với nhau. các phép liên kết thường gặp là: phép thế, phép
lặp, phép nối, phép đồng nghĩa, trái nghĩa, liên tưởng…
3.2. Rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh.
a. Rèn kĩ năng viết đoạn văn theo chủ đề.
* Các chủ đề thường gặp trong quá trình viết đoạn văn
b. Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn theo một số mô hình cấu trúc thường
gặp.
* Rèn kĩ năng viết đoạn văn theo cách diễn dịch.
Mô hình đoạn văn:
10
Câu văn mang luận điểm
Luận cứ 1
Luận cứ 2
Luận cứ 3
Luận cứ…
* Rèn kĩ năng viết đoạn văn theo cách quy nạp.
Mô hình:
Luận cứ 1
Luận cứ 2
Luận cứ 3
Luận cứ …
Câu văn mang luận điểm
* Rèn kĩ năng viết đoạn văn theo cách song hành.
- Mô hình:
* Rèn kĩ năng viết đoạn văn theo kết cấu Tổng – phân – hợp
Là đoạn văn phối hợp diễn dịch với quy nạp. Câu chủ đề nằm ở đầu đoạn và
cuối đoạn. Câu mở đầu nêu ý khái quát bậc 1, các câu sau triển khai cụ thể cho ý
khái quát ở câu 1. Câu kết mang ý nghĩa khái quát bậc 2, có tính mở rộng, nâng
cao hơn. Các thao tác trong đoạn văn theo cấu trúc này là nhận xét, giảỉ thích,
phân tích…, sau đó đưa ra nhận định đối với chủ đề, tổng hợp, khẳng định, nâng
cao vấn đề.
Mô hình:
Câu chủ đề( luận điểm) Bậc 1
Luận cứ 1
Luận cứ 2
Luận cứ 3
Luận cứ …
Câu chủ đề( luận điểm) Bậc 2
Ví dụ :
Tiếng Việt của chúng ta giàu và đẹp. Chúng ta không chỉ có những cảm
xúc bồi hồi, xao xuyến, không chỉ cảm nhận được cái đẹp của hình ảnh, của
màu sắc trong những bức tranh được dệt nên bằng ngôn ngữ dân tộc mà chúng
ta còn thưởng thức cả nhạc điệu hài hòa, phong phú, gợi cảm của Tiếng Việt.
12
Nhiều người nước ngoài cho rằng tiếng nói của người Việt Nam nghe như tiếng
chim hót. Vốn từ phong phú, đa dạng, giàu hình ảnh giúp chúng ta nói, viết
được cụ thể, chính xác. Vì vậy chúng ta phải biết tôn trọng, yêu quý tiếng nói
người(2). Muốn hoàn thành tốt nghĩa vụ này thì mỗi chúng ta cần đặt ra mục
tiêu cho bản thân mình(3). Chúng ta đều biết để đi đến thành công có nhiều con
đường khác nhau, một trong những con đường quan trọng là học hành(4). Mục
tiêu là cơ sở để chúng ta cố gắng học tập thật tốt(5). Sự cố gắng nỗ lực học tập
thể hiện từ những việc nhỏ như xem lại bài, học trên lớp, làm bài tập về nhà đầy
đủ…(6). Những việc làm nhỏ thường xuyên đem lại cho chúng ta thói quen,
niềm vui, sự hăng say học hỏi để ta học tập tốt(7).
13
(Đoạn văn trong bài làm của học sinh Lại Sỹ Duy- lớp 8B trường THCS Thành
Vinh).
Như vậy đoạn văn trên tất cả các câu văn đều nói đến chủ đề: Tầm quan
trọng của học hành. Nhưng khi đọc ta có cảm giác đoạn văn lủng củng, không
thoát ý, rời rạc. Đó là do đoạn văn mắc lỗi về lo gic, sắp xếp không theo một
trình tự hợp lí Câu (4) là câu khái quát cần đứng ở vị trí đầu câu, câu (1) và câu
(7) đang cùng nói về một ý cần nối tiếp nhau…
Giáo viên yêu cầu học sinh sửa lại đoạn văn trên, đoạn văn sửa lại như sau:
Chúng ta đều biết để đi đến thành công có nhiều con đường khác nhau,
một trong những con đường quan trọng nhất chính là học tập(1). Học tập là
quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mỗi con người(2). Muốn hoàn thành tốt nghĩa
vụ này thì mỗi chúng ta cần đặt ra mục tiêu cho bản thân mình(3). Mục tiêu ấy
là cơ sở để chúng ta cố gắng học tập thật tốt (4) . Sự cố gắng nỗ lực học tập thể
hiện từ những việc nhỏ như xem lại bài, học trên lớp, làm bài tập về nhà đầy
đủ…(5).Những việc làm nhỏ thường xuyên đem lại cho chúng ta thói quen, niềm
vui, sự cần cù học hỏi…(6). Sự cần cù học hỏi là yếu tố rất quan trọng giúp ta
học tập thật tốt(7).
Đoạn văn sau khi sửa không chỉ có sự liên kết mạch lạc cả về nội dung và
hình thức mà còn được trình bày theo kiểu móc xính, tạo nên nét đặc sắc riêng
cho đoạn văn.
lập đoạn văn :
+ Về nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nào đó logic ngữ
nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng.
+ Về hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó thể hiện ở
những điểm sau: Một đoạn văn được bắt đầu từ chữ cái viết hoa lùi đầu dòng
đến chỗ chấm xuống dòng.
- Phải kiểm tra học sinh thường xuyên để tạo thói quen đến mức thành thạo kể
cả lý thuyết lẫn thực hành khi gặp từng dạng đề ngay trên lớp. Cho học sinh
nhắc lại các cách trình bày đoạn văn mà em đã biết (Đoạn diễn dịch, đoạn quy
nạp), sau đó giáo viên cung cấp thêm một số cách khác nữa như đoạn so sánh,
đoạn tương phản, đoạn nhân quả, đoạn móc xích... Từ đó học sinh hiểu đoạn văn
khác với bài văn ở điểm nào, tránh sự lan man thiếu trọng tâm. Nếu viết đoạn
văn rèn khả năng vận dụng kiến thức Tiếng Việt, Tập làm văn, đoạn văn hoàn
thành ngay trên lớp đã khó, thì những đoạn văn rèn khả năng vận dụng kiến thức
văn học, hoàn thành ở nhà lại càng khó khăn hơn. Sở dĩ tôi có suy nghĩ như vậy
bởi xét về mặt khách quan, tâm lí học sinh cấp THCS còn ham chơi, thiếu tính
tự giác học ở nhà. Đặc biệt là các em học sinh trung bình, yếu, kém, thường rất
nhanh quên thậm chí những kiến thức vừa học đã quên ngay. Ít quan tâm đến kết
quả kiểm tra. Còn xét về mặt chủ quan, đoạn văn rèn kĩ năng kiến thức Tiếng
Việt, Tập làm văn gần như có khuôn mẫu. Đoạn văn có kiến thức Văn học nó lại
gần như không khuôn mẫu, xét về mặt nội dung, nó không chỉ có nội dung cụ
thể trên bề mặt ngôn từ mà còn có giá trị nghệ thuật bên trong ngôn từ, trong khi
đó không phải học sinh nào cũng có cảm nhận như nhau. Đòi hỏi giáo viên
không những hướng dẫn cụ thể mà phải nhìn nhận, đánh giá bài làm của học
sinh một cách khách quan, không thể áp đặt, cũng không thể để cho học sinh tùy
tiện cảm nhận, lại không quên phát huy năng khiếu cá nhân của các em, tránh
trường hợp các em viết đoạn phân tích, cảm nhận một khổ thơ, một đoạn truyện
lại viết cả tác phẩm. Hoặc chỉ gạch đầu dòng, hoặc chỉ đơn phương nội dung
đoạn thơ, đoạn truyện đó với tác phẩm chứa nó. Quan sát các đề văn, ta thấy chủ
yếu thuộc về văn bản. Đây cũng chính là một kiến thức quan trọng thường được
câu hỏi tôi cũng dựa vào chủ đề, thể loại văn bản để đặt câu hỏi gợi ý mang tính
tích hợp khác nhau.
- Dặn dò, cách hướng dẫn về nhà sau bài học.
Phần hướng dẫn về nhà giáo viên thường dặn học sinh một cách chung
chung: “Về nhà học bài, làm bài tập trong sách giáo khoa và chuẩn bị bài
mới”. nhưng tôi thường dành thời gian hướng dẫn về nhà từ 5 đến 7 phút để
cung cấp câu hỏi gợi ý như trên và yêu cầu học sinh ghi chép cụ thể. Sau nhiều
lần cung cấp câu hỏi gợi ý cho học sinh như thế, tôi cũng trao đổi với các học
sinh trung bình, học sinh yếu: Khi có câu hỏi gợi ý của cô, cảm giác làm bài
tập viết đoạn văn của em như thế nào ? Vậy từ đây em rút ra kinh nghiệm gì để
viết đoạn văn đảm bảo yêu cầu? Như vậy tôi nghĩ rằng việc đưa ra những câu
hỏi gợi ý cho học sinh không chỉ giúp các em hoàn thành tốt đoạn văn cụ thể
mà còn tạo cho các em thói quen trước khi viết đoạn văn, bài văn phải biết xây
dựng ý, lập dàn ý cho đoạn.
4. HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
16
Qua thời gian dài kiên trì hướng dẫn cho học sinh, tôi đã nhận được kết quả
khả quan. Trước hết về thái độ học tập, các em đã thích làm các bài tập tạo đoạn
văn. Mỗi lần tôi thu vở chấm bài, học sinh háo hức chờ đợi lúc cô trả lại vở, các
em đọc từng lời nhận xét, rồi lại đề nghị cô ra đề thêm để về nhà làm. Tôi thấy
rất ấm lòng. Qua phiếu khảo sát cuối năm học các em đã dần tạo được những
đoạn văn đúng, dù chưa thật hay nhưng đã có cảm xúc, biết vận dụng cả về yêu
cầu nội dung và hình thức, thật là một tín hiệu đáng mừng. Cụ thể với tổng số 69
học sinh khối 8( năm học 2017- 2018) có :
- 48 em biết tạo đoạn văn theo đúng yêu cầu. ( tỉ lệ: 69,6 %)
- 21 em hoàn chỉnh về mặt hình thức nhưng nội dung thiếu liên kết, hoặc các ý
phụ còn trình bày lộn xộn. (tỉ lệ 30,4 %).
Kỹ năng viết của các em đã có sự tiến bộ. Đọc một số đoạn viết của các
Bun-ga-ri là vương quốc của hoa hồng. Hà Lan là xứ sở của hoa Tuy-lip.
Người Nhật lại chọn hoa Anh đào làm quốc hoa. Cũng là hoa, là lá, là cỏ cây
như bao loài thảo mộc khác, nhưng những loài hoa ấy mang trên mình sứ mệnh
của một đất nước, chuyển tải cái hồn của cả dân tộc. Chính vì lẽ đó hoa sen đã
trở thành quốc hoa của đất nước Việt Nam thân yêu .
( Đoạn văn trong bài làm của HS Nguyễn Thị Quỳnh Chi lớp 8A trường
THCS Thành Vinh)
Sau khi áp dụng một số kinh nghiệm nêu trên ở học sinh khối 8, ( năm học
: 2017-2018) chúng tôi đã tiến hành khảo sát học sinh. Kết quả cụ thể như sau:
Đề bài: Cảm nhận vẻ đẹp của bức tranh làng quê trong bài thơ “Quê
hương”( Tế Hanh).
Điểm
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Sĩ số
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Lớp
8A
34
4
11,8
đầu thấy hiệu quả của việc áp dụng những kinh nghiệm, kĩ năng ấy. Mặc dù
những kinh nghiệm, kĩ năng tôi đưa ra vẫn còn ít và mang tính chủ quan nhưng
tôi vẫn tin tưởng và chờ đợi ở sự hữu ích của sáng kiến. Qua một thời gian vận
dụng kinh nghiệm vào thực tế dạy học, bản thân tôi rút ra được một số vấn đề
sau:
a. Đối với học sinh.
Để cho học sinh có thói quen làm bài tập ở nhà ngay từ đầu năm giáo viên
phải yêu cầu học sinh:
- Có đầy đủ các loại vở, như soạn văn, vở làm bài tập Tiếng Việt, một quyển viết
đoạn văn riêng, giáo viên mới thuận lợi trong việc thu vở soạn, vở bài tập, hay
vở đoạn văn để chấm, không ảnh hưởng đến việc chuẩn bị bài của học sinh.
18
- Luôn có ý thức tự giác trong việc thực hành viết đoạn văn. Trao đổi, nhận xét
đoạn văn của bạn, sửa văn mình.
- Sưu tầm các đoạn văn hay của bạn, trong sách báo… để làm tư liệu cho mình.
b. Với giáo viên.
- Phải coi trọng vấn đề rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh.
- Dành thời gian thích đáng trong việc hướng dẫn về nhà cho học sinh.
- Đầu tư hệ thống câu hỏi thích hợp, giúp học sinh xây dựng khung, sườn, tìm ý
chính cho đoạn văn.
- Tăng cường khâu kiểm tra, kịp thời động viên, khích lệ các em cho dù sự cố
gắng của các em ở mức độ nhỏ.
- Không riêng gì học sinh mà ngay cả giáo viên cũng cần có ý thức sưu tầm
đoạn văn hay, độc dáo liên quan đến các đề bài. Đây sẽ là nguồn tư liệu quý, là
tài sản vô giá mà bất cứ giáo viên nào tâm huyết với nghề cũng đều mơ ước.
- Điều cốt yếu là giáo viên đừng bao giờ để tắt ngọn lửa đam mê, nhiệt huyết
của mình trong việc rèn luyện học sinh viết đoạn văn.
2. KIẾN NGHỊ
20
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 8, 9 ( Tập 1,2 - NXBGD – 2003)
2. Sách giáo viên Ngữ văn 8, 9 ( Tập 1, 2 - NXBGD – 2003)
3. Dạy học Ngữ văn 6,7,8,9 theo hướng tích hợp do GS.TS Lê A chủ biên.( nhà
xuất bản ĐHSP Hà Nội )
4. Tiếng Việt thực hành ( ĐHSP Huế - 1997)
5. Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ Văn tập 2( NXBGD
-2010)
DANH MỤC
21
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH XẾP
LOẠI.
Họ và tên tác giả: Lê Thị Hương.
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Thành Vinh- Thạch
Thành- Thanh Hóa.
TT
1
2
3
4
B
cấp huyện
Ngành GD
A
cấp huyện
Năm học
đánh giá
xếp loại
20042005
20072008
Ngành GD
cấp tỉnh
B
20072008
Ngành GD
cấp huyện
B
20092010
Ngành GD
cấp huyện
A