Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học một số truyện ngắn việt nam hiện đại ở trung tâm GDTX - Pdf 57

A.ĐẶT VẤN ĐỀ.
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Giáo dục đang tích cực hướng con người phát triển toàn diện nhưng công tác
giáo dục đang đứng trước bao thử thách, khó khăn. Đó là tình trạng học sinh phổ
thông đã bỏ học, sống lang thang có xu hướng tăng.Theo thống kê của cơ quan an
ninh, hiện có khoảng 20.000 thanh thiếu niên bỏ học, sống lang thang, bụi đời. Đặc
biệt là hàng loạt những vụ học sinh tự tử vì những lí do “ không đâu”, những vụ án
giết người, bạo lực học đường có xu hướng gia tăng. Hiện tượng học sinh hút thuốc,
uống rượu, tiêm chích ma tuý, quan hệ tình dục sớm … đã trở thành những vấn nạn
gây nhức nhối cho toàn xã hội.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên nhưng theo các chuyên gia giáo
dục, nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu kĩ năng sống, các em chưa từng đối diện
với khó khăn, thử thách, chưa biết cách xử lý để đối phó với những thách thức trong
cuộc sống như cha mẹ ly hôn, gia đình phá sản, kết quả học tập kém. Các em không
được dạy để hiểu về giá trị của cuộc sống. Nhiều em học giỏi, nhưng ngoài điểm số
cao, khả năng tự chủ và kĩ năng giao tiếp lại rất kém. Các em sẵn sàng đánh nhau, sa
đà vào các tệ nạn xã hội, thậm chí liều lĩnh từ bỏ cả mạng sống.
Trong khi đó, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở nước ta còn rất hạn chế,
chưa đồng bộ, nhà trường vẫn quan tâm đến việc cung cấp kiến thức “ dạy chữ” mà
chưa quan tâm đúng mức tới việc “ dạy người”, chưa dạy các em thái độ, kĩ năng
ứng xử trong các mối quan hệ (với con người, với môi trường thiên nhiên…), không
dành thời gian giáo dục kĩ năng sống cho các em. Giáo viên chủ nhiệm cả tuần chỉ
có 1 tiết sinh hoạt lớp nên đôi khi không có thời gian để nắm tình hình từng em.
Trước tình hình đó, Bộ GD và ĐT đã chỉ đạo các trường THPT nói chung các
Trung tâm GDTX nói riêng kể từ năm học 2011-2012 trở đi phải rèn luyện kĩ năng
sống cho học sinh. Xem đây là một trong những nội dung cơ bản của phong trào thi
đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” . Đây là dịp các thầy cô
cùng nhìn lại để có sự kết hợp giữa giảng dạy và giáo dục đạt hiệu quả. Mặt khác
môn Ngữ văn ở trường phổ thông có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện
mục tiêu giáo duc kĩ năng sống cho học sinh. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn
Ngữ văn của Trung tâm GDTX tôi luôn trăn trở làm thế nào để giáo dục kĩ năng

1. Cơ sở pháp lí:
Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển xã hội. Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, ta cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện, do vậy cần
phải đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng. Nhiệm
vụ đổi mới giáo dục đã được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Đảng và Quốc
hội, trong Luật Giáo dục năm 2005.
Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã
khẳng định mục tiêu là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục,
sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ
trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù
hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở
các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IX(4/2001) đã đề ra nhiệm vụ: Tiếp
tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học.
Luật giáo dục năm 2005, Điều 2 đã xác định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông
là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe,
thẩm mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hoàn thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến
thức cho học sinh sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là
năng lực hành động, năng lực thực tiễn. Đó chính là kĩ năng sống. Và phương pháp
giáo dục phổ thông cũng đã được đổi mới theo hướng “Phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng người học năng lực tự
học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.” ( Luật giáo dục
năm 2005, Điều 5)
2. Cơ sở lí luận:
2.1. Quan niệm về kĩ năng sống:
Có rất nhiều khái niệm về kĩ năng sống và mỗi quan niệm lại được diễn đạt

Theo UNESCO, WHO và UNICEF, có thể xem kĩ năng sống gồm các kĩ năng
cốt lõi sau:
+ Kĩ năng giải quyết vấn đề ( problem solving)
+ Kĩ năng suy nghĩ / tư duy phê phán ( critical thinking)
+ Kĩ năng giao tiếp hiệu quả ( effective communication skills)
+ Kĩ năng ra quyết định ( decision making)
+ Kĩ năng tư duy sáng tạo ( creative thinking)
+ Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân ( interpersonal relationship skills)
+ Kĩ năng tự nhận thức / tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị
(selfawareness building skills, incl, self-awareness, self-esteem and selfconfidence, and values analysis)
+ Kĩ năng thể hiện sự cảm thông ( empathy)
+ Kĩ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc ( coping with stress and
emotions)
Trong giáo dục ở nước ta những năm vừa qua, kĩ năng sống thường được phân
loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:
3


+ Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các kĩ năng
sống cụ thể sau: tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự
hổ trợ, tự trọng, tự tin.
+ Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác,bao gồm các kĩ năng
sống cụ thể như: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ
chối, bày tỏ sự cảm thông hợp tác.
+ Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả bao gồm các kĩ năng sống
cụ thể sau: tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết
định, giải quyết vấn đề.
Trên thực tế, các kĩ năng sống thường không hoàn toàn tách rời nhau mà có liên
quan chặt chẽ nhau. Ví dụ: khi cần ra quyết định một cách phù hợp thì các kĩ năng
tự nhận thức, kĩ năng tìm kiếm và tự xử lí thông tin, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ

( Lewis L.Dunnington).
4


Theo triết lí của Edgar Morlin thì mục tiêu của giáo dục là cần tạo nên những
cái đầu được rèn luyện tốt để tự nó chiếm lĩnh và làm chủ thế giới dẫu biến động
đến đâu. Cần phải giảng dạy các nguyên tắc chiến lược cho con người đương đầu
với những bất ngờ, đột biến, bất định. Trang bị giáo dục kĩ năng sống cho con
người cũng nhằm mục tiêu này.
+ Nếu con người có kiến thức, thái độ tích cực mới đảm bảo 50% sự thành
công, 50% còn lại là những kĩ năng cần cho cuộc sống mà ta thường gọi là kĩ năng
sống.
Chúng ta xây dựng cầu nối từ thông tin đến thay đổi hành vi như thế nào?
Kĩ năng sống giúp biến kiến thức thành những hành động cụ thể, những thói
quen lành mạnh. Những người có kĩ năng sống là những người biết làm cho mình
và người khác cùng hạnh phúc. Họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn
yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính họ.
Đặc biệt đối với sức khỏe của con người: việc nâng cao các kĩ năng cá nhân và
các kĩ năng xã hội của mỗi người là một phần quan trọng của chương trình can
thiệp nâng cao sức khỏe cho chính mình và cho mọi người trong cộng đồng.
Thực tế cho thấy, có khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của con người, có
nhận thức đúng chưa chắc đã có hành vi đúng. Ví dụ: nhiều người biết hút thuốc lá
là có hại cho sức khỏe, có thể dẫn đến ung thư vòm họng, ung thư phổi,…nhưng họ
vẫn hút thuốc; Có những người là luật sư, công an, thẩm phán…có những hiểu biết
rất rõ về pháp luật nhưng vẫn vi phạm về pháp luật. Đó chính là họ đã thiếu kĩ
năng sống.
Có thể nói kĩ năng sống chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức
thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có kĩ năng sống phù
hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết
vấn đề một cách tích cực và phù hợp. Họ thường thành công hơn trong cuộc sống,

quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan
xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực luôn đặt vào những hoàn cảnh phải lựa
chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn , thách thức, những áp lực
tiêu cực. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, nếu thiếu kĩ năng sống, các em dễ
bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng
dễ phát triển lệch lạc về nhân cách. Một trong các nguyên nhân dẫn đấn các hiện
tượng tiêu cực của một bộ phận học sinh phổ thông trong thời gian vừa qua như :
nghiện hút, bạo lực học đường, đua xe máy, ăn chơi sa đọa,… chính là do các em
thiếu những kĩ năng sống cấn thiết như: kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng từ chối, kĩ
năng kiên định, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng thương lượng, kĩ năng giao
tiếp…
Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ là giúp các em rèn luyện hành
vi có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em có
khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan
hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài
hòa và lành mạnh.
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trung tâm GDTX với bản chất là hình
thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù
hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình
huống của cuộc sống rõ ràng là phù hợp, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ
thông.
Phương pháp giáo dục kĩ năng sống, với các phương pháp và kĩ thuật tích cực
như hoạt động nhóm, giải quyết vấn đề, tranh luận động não, viết tích cực…cũng là
phù hợp với định hướng về đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông.
Tóm lại, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trung tâm GDTX là rất cần
thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Với những đặc điểm trên thì
học sinh ở trung tâm GDTX rất cần được trang bị những kĩ năng cần thiết, phù hợp
để học tập tốt hơn và quan trọng là để thích ứng với những đổi thay của xã hội và
giải quyết tốt những vấn đề đặt ra trong thực tiễn cuộc sống.
Trước tình hình đó, việc sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học để giáo dục

Việc giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường thông qua dạy học các môn học và
tổ chức các hoạt động giáo dục nhưng không phải là lồng ghép, tích hợp thêm kĩ
năng sống vào nội dung các môn học và hoạt động giáo dục mà theo cách tiếp cận
mới, đó là sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện
cơ hội cho người học được thực hành, trải nghiệm kĩ năng sống trong quá trình học
tập, cách tiếp cận này sẽ không gây quá tải, không làm nặng nề thêm nội dung các
môn học và các hoạt động giáo dục, mà ngược lại còn làm cho các giờ học và hoạt
động giáo dục trở nên nhẹ nhàng hơn, thiết thực và bổ ích hơn với người học
nhưng cần phải tuân thủ chặt chẽ những nguyên tắc cơ bản sau:
Tương tác: Kĩ năng sống không thể được hình thành qua việc nghe giảng và tự
đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác. Thông qua
các hoạt động có tính tương tác, học sinh có dịp thể hiện các ý tưởng của mình,
xem xét các ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh
nghiệm sống của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác.
Trải nghiệm: Kĩ năng sống chỉ được hình thành khi người học được trải nghiệm
qua các tình huống thực tế. Học sinh chỉ có kĩ năng khi các em tự làm việc đó, chứ
không chỉ nói về việc đó.
Tiến trình: Giáo dục kĩ năng sống không thể hình thành trong “ngày một, ngày
hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức- hình thành thái độ - thay đổi hành
7


vi. Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu trình mới.
Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất kì mắt xích nào trong chu trình trên:
thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành động hoặc hành vi
thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ.
+Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục kĩ năng sống là giúp người
học thay đổi hành vi theo hướng tích cực. Giáo dục kĩ năng sống thúc đẩy thay đổi
hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình.
+Thời gian- môi trường giáo dục: Giáo dục kĩ năng sống cần thực hiện ở mọi

sống cho học sinh chứ không phải tích hợp vào nội dung bài dạy, rèn kĩ năng sống
cho học sinh qua giờ học bộ môn.
4.3. Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống qua môn học Ngữ văn ở trường THPT.
*Về kiến thức: Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng
như các giá trị tốt đẹp của nhân loại, góp phần củng cố, mở rộng và bổ sung, khắc
8


sâu kiến thức đã học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà
trường và xã hội, định hướng tương lai và nghề nghiệp cho các em. Nhận thức
được sự cần thiết của các kĩ năng sống giúp cho bản thân sống tự tin, lành mạnh,
phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất và tinh
thần của bản thân và người khác. Nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền
tảng cho kĩ năng sống .
*Về kĩ năng : Có kĩ năng làm chủ bản thân, kĩ năng sống có trách nhiệm, kĩ năng
ứng xử linh hoạt, hiệu quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hàng ngày. Có
suy nghĩ và hành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng đắn trong cuộc
sống. Có kĩ năng quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác
trước những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn và lành mạnh của cuộc sống ( Bảo vệ
bản thân trước các tệ nạn xã hội, trước bạo lực và các nguy cơ khác trong xã hội
hiện đại ); giúp học sinh phòng ngừa những hành vi, nguy cơ có hại cho sự phát
triển của cá nhân.
*Về thái độ: Học sinh cảm thấy hứng thú và có nhu cầu được thể hiện các kĩ
năng sống mà bản thân đã rèn luyện được đồng thời biết động viên người khác
cùng thực hiện. Hình thành và thay đổi hành vi theo hướng tích cực, nhất là các
hành vi liên quan đến lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với bản thân, bè bạn, gia
đình và cộng đồng. Có ý thức về quyền và trách nhiệm với các giá trị truyền thống,
với gia đình, quê hương và dân tộc mình, có ý thức định hướng cho tương lai, định
hướng cho nghề nghiệp.
II.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ.

Về phía học sinh: Hiện nay, việc học văn của các em chủ yếu là đọc và học
thuộc văn bản, ghi nhớ lời dạy của thầy cô. Đặc biệt là học sinh lớp 12ở trung tâm
GDTX chất lượng đầu vào thấp, kĩ năng cảm thụ văn bản, kĩ năng tạo lập văn bản
hạn chế , thâm chí các em không biết cách tìm hiểu một văn bản hay đọc xong văn
bản mà không thâu tóm được nội dung văn bản đề cập đến vấn đề gì,chứ chưa nói
đến kĩ năng vận dụng,liên hệ từ cuộc sống.Nói tóm lại đa phần học sinh rất hạn chế
nên không dành thời gian đầu tư nhiều cho môn văn, một số ít các em còn quay
lưng với môn học dẫn đến các em không tự bồi dưỡng cho mình kĩ năng sống.
Thực tế, việc đổi mới phương pháp dạy và học đã đặt ra vấn đề không chỉ là
phương pháp chung chung mà chính là đi vào các thao tác giảng dạy cụ thể để đem
lại hiệu quả thực sự, không phải chạy theo thành tích mà là đào tạo những con
người có tư duy và năng lực nhạy bén, thông minh. Hơn nữa, những năm gần đây,
việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở các trung tâm GDTX đang được các cấp
quan tâm.
Chất lượng thu được sau khi tiến hành khảo sát thực tế vòng 1:
LỚP

THỜI
GIAN
KHẢO
SÁT

TỔNG
SỐ
HSKS

12A1

02-012016


34,21

17/38

44,73

18/37

54,54

Khả năng ứng xử phù hợp
16/37
48,48
người khác
Khả năng ứng phó tích cực trước
37
19/37
57,57
các tình huống của cuộc sống
Thực hiện đổi mới trong giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế
hệ trẻ, trong đề thi tốt nghiệp THPT,và BTTHPT Bộ GD-ĐT đã đưa giáo dục kĩ
năng sống vào phần chung, đề Nghị luận xã hội. Ví dụ đề thi tốt nghiệp năm 20092010 “ Hãy viết một bài văn ngắn ( khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh / chị
về lòng yêu thương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay”. Hoặc đề thi tốt
nghiệp của năm 2013-2014 hệ GDTX, cũng qua việc đọc hiểu một đoạn văn bản

12A2

37

10

*Giáo viên sử dụng phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực để lồng ghép các
kĩ năng sống cơ bản vào bài học cụ thể như:
Giáo viên dùng phương pháp dạy học nêu vấn đề, giúp học sinh động não:
Mị là một cô gái Hmông xinh đẹp đầy sức sống trở thành con dâu gạt nợ - Vợ A Sử
trong nhà thống lí Pá tra. Giáo viên đặt câu hỏi: Em hiểu nghĩa khái niệm “ con dâu
gạt nợ” như thế nào? Từ đó có thể hiểu dễ dàng cuộc sống của Mị trong vai trò vợ
A Sử trong nhà thống lí ra sao? Qua đây, tác giả muốn phản ánh hiện thực xã hội là
gì? Học sinh sẽ tìm ra các đơn vị kiến thức: Các em nhận thức được Mị là con dâu
gạt nợ nhà thống lí, nghĩa là đem thân thay cha mẹ trả món nợ tiền vay khi cưới
của cha mẹ mình. Như vậy, hình thức bên ngoài là con dâu, nhưng thực chất là con
nợ. Cuộc sống của Mị trong nhà thống lí Pá Tra là cuộc sống của kẻ đầy tớ không
công, bị đày đoạ về thể xác lẫn tinh thần. Thời gian đã biến Mị thành cái máy, cái
bóng câm lặng, cô đơn “ như con rùa trong xó cửa” cứ thế, cứ thế…cho đến già,
đến chết! Qua đoạn đời và số phận của Mị, tác giả đã phản ánh trung thực một hiện
thực tăm tối, tàn bạo và bất công trong xã hội miền núi phía Bắc nước ta thời thuộc
Pháp trước cách mạng. Số phận cay đắng và đáng thương của Mị cũng là của bao
11


phụ nữ các dân tộc ít người khác dưới ách thống trị của bọn thực dân Pháp và
thống lí tay sai. Sau đó giáo viên đặt câu hỏi: Nhưng những cuộc đời tàn lụi và
buồn thảm như Mị có chịu mãi cảnh địa ngục trần gian cho đến chết hay không?
Với hình thức này, giáo viên và học sinh cùng tìm hiểu diễn biến tâm trạng và hành
động nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân và trong đêm cứu A Phủ.
Với nội dung diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cứu
A Phủ, giáo viên nêu vấn đề cho học sinh thảo luận nhóm 2 học sinh:
+ Chi tiết nào đã khiến Mị bừng tỉnh, không còn thờ ơ, mặc kệ như trước nữa? Vì
sao Mị quyết định cứu A Phủ? Vì sao Mị không thấy sợ nữa? Vì sao Mị từ chỗ “
đứng lặng trong bóng tối” rồi lại lập tức đuổi theo A Phủ?
+ Học sinh sẽ tìm ra được các đơn vị kiến thức sau:

+ Tự nhận thức về tấm lòng đồng cảm, trân trọng trước số phận con người của nhà
văn, qua đó xác định các giá trị trong cuộc sống mà con người cần hướng tới.
12


+ Suy nghĩ sáng tạo: Phân tích bình luận về cá tính sắc nét, về nghệ thuật tả cảnh,
tả tình, cách kể chuyện tự nhiên, về cách xây dựng nhân vật trong tác phẩm.
*Giáo viên sử dụng phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực để lồng ghép các
kĩ năng sống cơ bản vào bài học cụ thể như:
Giáo viên đã đặt câu hỏi cho học sinh động não tìm hiểu nhân vật Tràng, người
vợ nhặt, bà cụ Tứ. Sau đó, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh tìm ra giá trị hiện thực
và giá trị nhân đạo của truyện ngắn. Rèn cho học sinh kĩ năng tự nhận thức: Học
sinh nhận thức được thảm cảnh mà người dân ở xóm ngụ cư phải gánh chịu là
nạn đói năm 1945. Chỉ trong vòng vài tháng từ Quảng Trị đến Bắc kì hơn 2
triệu đồng bào ta bị chết đói “ Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người
trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên
đường. Không khí vẩn mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Trước
tình cảnh đó, thân phận, giá trị của con người rẻ rúng. Anh Tràng chỉ qua 2 lần đùa
cợt vu vơ và 4 bát bánh đúc đã có vợ. Còn người vợ nhặt lại chấp nhận theo không
về làm vợ anh Tràng.
Bên cạnh đó, giáo viên nên rèn thêm cho học sinh kĩ năng thể hiện sự cảm
thông. Thông qua việc tìm hiểu giá trị nhân đạo của tác phẩm, tác giả cảm
thông cho số phận của người dân xóm ngụ cư phải chịu thảm cảnh nạn đói.
Trong cuộc sống chúng ta nên đồng cảm, cảm thông hay sẻ chia với những
người có hoàn cảnh bất hạnh, không may.
Tiếp theo giáo viên đặt câu hỏi: Điều gì khiến cho những người dân ở xóm ngụ
cư vượt qua nạn đói? Học sinh tìm ra đơn vị kiến thức: Tình yêu thương , sự đùm
bọc, cưu mang của anh Tràng và bà cụ Tứ đối với người vợ nhặt sẽ giúp cho cả gia
đình họ vượt qua nạn đói.
Giáo viên giáo dục kĩ năng sống cho học sinh: Như vậy tình yêu thương, nó

tư tưởng của tác phẩm, về cách thể hiện tư tưởng của tác phẩm thông qua cốt
truyện, hệ thống nhân vật, giọng điệu văn chương của Nguyên Ngọc).
*Giáo viên sử dụng phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực để lồng ghép các
kĩ năng sống cơ bản vào bài học cụ thể như:
Giáo viên đặt câu hỏi, nêu vấn đề để học sinh tìm hiểu: Hiện thực mà tác giả đề
cập trong truyện ngắn là gì? -> Học sinh tìm ra đơn vị kiến thức:
+ Đó là cuộc chiến đấu kiên cường của dân làng Xô Man nói riêng và nhân dân
Tây Nguyên nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Qua đó, giáo viên rèn kĩ năng tự nhận thức cho học sinh.
Tiếp theo, giáo viên đặt câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu hai hình tượng
trong tác phẩm đó là hình tượng cây xà nu và hình tượng nhân vật Tnú.
+ Khi phân tích nhân vật Tnú, giáo viên lưu ý kiến thức: Vợ con anh bị giặc bắt
đánh đập cho đến chết. Anh bị giặc bắt, bị đốt mười đầu ngón tay bằng nhựa xà nu.
Mỗi ngón tay anh còn 2 đốt nhưng anh vẫn tham gia lực lượng vũ trang. Anh đã
vượt qua bi kịch cá nhân để cầm súng tiêu diệt kẻ thù bảo vệ quê hương.
Giáo viên giáo dục cho học sinh: Đứng trước lợi ích cá nhân và lợi ích dân tộc
chúng ta phải biết hi sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích cộng đồng, đất nước.
Tiếp theo, khi phân tích nhân vật cụ Mết, giáo viên đặt câu hỏi: Em có suy nghĩ
gì về lời nói của cụ Mết “ Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”.
+ Học sinh sẽ tìm ra đơn vị kiến thức: Chứng kiến cái chết thảm thương của Mai
và sự bất lực của Tnú trước sự tra tấn dã man tàn bạo của bọn thằng Dục, cụ Mết
càng thấm hiểu là đối với kẻ thù chỉ có 2 bàn tay trắng, chỉ có 2 bàn tay không thì
không thể nào đối đầu với chúng được, phải cầm vũ khí đứng lên!
Từ đó, giáo viên giáo dục cho học sinh: Trong cuộc sống, khi kẻ thù gây rối,
chống phá, xâm lược, chúng ta phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực
phản cách mạng.
3.4. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu:
* Những kĩ năng sống cơ bản:
+ Tự nhận thức về cách tiếp cận và thể hiện hiện thực trong tác phẩm, về cảm
hứng thể sự và tấm lòng đầy ưu tư, trăn trở của nhà văn trước cuộc sống hiện tại,

yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong. Nhưng nếu nhìn vấn đề một cách thấu suốt
sẽ thấy suy nghĩ và xử sự của bà là không thể khác được. Trong đau khổ triền
miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi: “ Vui
nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”, “…trên chiếc thuyền cũng
có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”; “ Ông trời sinh ra người
đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn…” . Qua câu chuyện của
người đàn bà, ta càng thấy rõ: Không thể dễ dãi , đơn giản trong việc nhìn nhận
mọi sự việc, hiện tượng của đời sống. Từ đó Giáo viên giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh như sau: Phải nhìn cuộc sống đa dạng nhiều chiều; bởi vì nó ẩn chứa
nhiều nghịch lí, mâu thuẩn, éo le, ngang trái.
Tiếp theo, giáo viên cho học sinh tìm hiểu về người đàn bà hàng chài: Trình bày
ấn tượng của em về người đàn bà hàng chài?
Học sinh tìm ra các đơn vị kiến thức: Tác giả chỉ gọi là “ người đàn bà” một
cách phiếm định. Tuy không có tên tuổi cụ thể, một người vô danh như biết bao
người đàn bà vùng biển khác, nhưng số phận con người ấy lại được tác giả tập
trung thể hiện và được người đọc quan tâm nhất trong truyện ngắn này. Trạc ngoài
40, thô kệch, rỗ mặt, lúc nào cũng xuất hiện với “ khuôn mặt mệt mỏi”, người đàn
bà ấy gợi ấn tượng về một cuộc đởi nhọc nhằn lam lũ. Bà thầm lặng chịu đựng
mọi đớn đau, khi bị chồng đánh “ không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng
15


không tìm cách chạy trốn”, bà coi đó là lẽ đương nhiên, chỉ đơn giản bởi trong
cuộc mưu sinh đầy cam go, trên chiếc thuyền kiếm sống ngoài biển xa cần có một
người đàn ông khỏe mạnh và biết nghề, chỉ vì những đứa con của bà cần được sống
và lớn lên. “ tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự thâm trầm trong
việc hiểu thấu các lẽ đời hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bên ngoài” –
một sự cam chịu nhẫn nhục như thế thật đáng để chia sẻ, cảm thông. Thấp thoáng
trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu,
bao dung, giàu lòng vị tha, đức hi sinh.

SÁT

TỔNG
SỐ
HSKS

12A1

22-032016

38
38
38

12A2

22-03201

37
37
37

NỘI DUNG
KHẢO SÁT

Khả năng làm chủ bản thân
Khả năng ứng xử phù hợp
người khác
Khả năng ứng phó tích cực trước
các tình huống của cuộc sống


78.37

32/37

86.48
16


So sánh kết quả thống kê giữa 2 lượt khảo sát bản thân thấy học sinh có sự
chuyển biến rõ rệt; các em có hành vi ứng xử đúng đắn, tích cực hơn. Qua đấy tôi
nhận thấy việc lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh muốn đạt hiệu quả
cần thực hiện tốt các nội dung:
Cung cấp kiến thức đầy đủ, chính xác, lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh nhẹ nhàng nhưng hiệu quả, không áp đặt.
Phát huy được sự tích cực chủ động, tạo hứng thú cho học sinh.
Góp phần hoàn thiện nhân cách của học sinh và thấy được môn Văn rất cần thiết
và hữu ích với các em trong cuộc sống.
Rèn luyện cho HS năng lực làm việc theo nhóm, vận dụng kiến thức lí thuyết,
năng lực thiết kế, khả năng tổ chức, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết
những vấn đề phức hợp, năng lực đánh giá, kĩ năng ứng dụng CNTT,… Đồng thời
còn rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn,… cho các em.
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Qua lí luận và thực tiễn kiểm chứng cho thấy muốn hình thành nhân cách con
người hiện đại, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua môn Ngữ văn ở trung tâm
GDTX là việc làm cần thiết. Tôi nghĩ rằng tất cả giáo viên nên tiến hành đồng bộ
lên lớp không những cung cấp kiến thức mà còn dạy các em thái độ kĩ năng ứng xử
trong các mối quan hệ (với con người, với môi trường thiên nhiên,…) để góp phần
đào tạo thế hệ trẻ - Những chủ nhân tương lai của đất nước - năng động, sáng tạo.
Mặt khác, trong quá trình giảng dạy, tùy theo từng đối tượng cụ thể, mỗi thầy cô

tưởng rằng đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót tuy nhiên qua đề tài này tôi
mong muốn chất lượng giáo dục thế hệ trẻ phần nào được nâng lên góp phần đưa các
em sẽ trở thành con người mới đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, tôi rất mong được sự góp ý của các quý thầy cô để đề
tài được hoàn thiện hơn để tôi áp dụng vào giảng dạy đạt hiệu quả tốt hơn ở những
năm học tiếp theo.
XÁC NHẬN CỦA GIÁM ĐỐC

Thanh Hoá, ngày 25 tháng 05 năm 2016.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết.
Lê Thị Len

MỤC LỤC
18


NỘI DUNG
A.ĐẶT VẤN ĐỀ.
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
II. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ KĨ NĂNG SỐNG:

1. Cơ sở pháp lí:
2. Cơ sở lí luận:
2.1. Quan niệm về kĩ năng sống:

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TRANG
01
01
02
02
02
02
02
03
03
03
04
06
07
07
08
08
09
09
09
10
10
10
12
12
12
12
12





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status