skkn khai thác lời văn trữ trình ngoại đề trong dạy học đọc hiểu truyện ngắn việt nam hiện đại ở chương trình ngữ văn THPT - Pdf 25





 !!"## $
%&'
()*+, /0*1-
2345).67+8)
9:;.

<()*=>*?)6@ABC@DE
FG
DHIJK-*1)LM><N.
Dạy học Ngữ văn đã và đang trải qua giai đoạn khó khăn, thử thách lớn
đối với giới khoa học, các nhà nghiên cứu, đặc biệt với giáo viên đang trực tiếp
đứng lớp. Trong những năm gần đây, xuất phát từ quan điểm dạy học tích cực
đã đặt ra yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học. Với môn Ngữ văn, đổi mới
phương pháp dạy học thực chất là chuyển từ hình thức dạy học giảng văn, bình
văn sang dạy học đọc hiểu theo đặc trưng thể loại và dạy học theo hướng tích
hợp. Đây là một hướng dạy học được kỳ vọng sẽ tạo ra những hiệu quả tích cực.
Tuy nhiên, đến nay việc đổi mới phương pháp dạy học vẫn chưa thể tạo được
những thay đổi mang tính chất căn bản. Chính vì thế, học sinh vẫn còn tình trạng
không hứng thú với việc học văn. Những bài làm văn của học sinh trong các kỳ
thi vẫn làm nhiều người đọc phải “cười ra nước mắt”. Điều đó xuất phát từ nhiều
nguyên nhân. Trong đó, việc vận dụng phương pháp dạy học còn cứng nhắc,
thiếu linh hoạt, chưa hiệu quả là nguyên nhân cốt yếu. Bản thân một bộ phận lớn
giáo viên còn gặp nhiều hạn chế, khó khăn trong việc nhận thức về thể loại, dạy
học theo đặc trưng thể loại và dạy học tích hợp giữa các phân môn.
Trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay có nhiều thay đổi về nội
dung và cấu trúc chương trình, nhưng truyện ngắn Việt Nam hiện đại vẫn là nội
dung quan trọng, với nhiều tác phẩm, chiếm một thời lượng lớn. Đặc điểm nổi

- Xây dựng định hướng khai thác lời văn trữ tình ngoại đề trong dạy học
đọc hiểu truyện ngắn Chí Phèo.
EH'*TU)6V*?V)6*NW)-XY
Chúng tôi kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp khảo sát - phân loại
- Phương pháp so sánh - đối chiếu.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp.
AHNZN*/)V*/4+NLM><N
Với đề tài Khai thác lời văn trữ trình ngoại đề trong dạy học đọc hiểu
truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở chương trình Ngữ văn THPT, chúng tôi chỉ tập
trung vào một số truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở chương trình Ngữ văn THPT,
vận dụng khai thác giá trị lời văn trữ tình ngoại đề truyện ngắn Chí Phèo của
Nam Cao trong chương trình Ngữ văn lớp 11.
[H\)66\V-QRLM><N.
Đề tài được thử nghiệm vận dụng vào dạy học đọc hiểu truyện ngắn Chí
Phèo của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn lớp 11. Đề tài đã tạo ra hứng
thú học tập tích cực cho học sinh, nâng cao chất lượng giờ dạy học đọc hiểu
truyện ngắn Việt Nam hiện đại. Từ kết quả đạt được của đề tài này, chúng tôi sẽ
tiếp tục vận dụng vào dạy học các văn bản truyện ngắn Việt Nam hiện đại khác
có sử dụng lời văn trữ tình ngoại đề được đưa vào dạy học trong chương trình
Ngữ văn THPT.
]^# G
HU:_`*KR*1--QRLM><N.
DHU:_aIaYb).
a. Trữ tình ngoại đề là một thuật ngữ văn học dùng để chỉ một hình thức
của ngôn từ nghệ thuật của tác giả. Trữ tình ngoại đề là ngôn từ của tác giả bày
tỏ một cách trực tiếp tư tưởng, tình cảm, cách nhìn, cách đánh giá của mình về
một vấn đề của hiện thực đời sống. Lời văn trữ tình ngoại đề nằm ở ngoài việc
miêu tả các sự kiện trong cốt truyện. Lời văn trữ tình ngoại đề chủ yếu là những
bình luận, đánh giá của tác giả về những khía cạnh khác nhau của đời sống.

hiện tích hợp kiến thức giữa các phân môn (trong đó có tiếng Việt). Dạy học văn
bản truyện ngắn khai thác được lời văn trữ tình ngoại đề sẽ là một hướng dạy
học đảm bảo cả nguyên tắc dạy học theo đặc trưng thể loại và dạy học tích hợp.
Khai thác lời văn trữ tình ngoại đề sẽ giúp giáo viên tháo gỡ những khó khăn,
tạo hứng thú học tập cho học sinh.
CHU:_>*,->Nc).
Để thực hiện đề tài, trên cơ sở lí luận về thể loại và dạy học chúng tôi tiến
hành khảo sát và thử nghiệm đề tài vào thực tiễn dạy học; thực tiễn kiểm tra,
đánh giá và thực tiễn thể nghiệm đề tài.
a. Khai thác lời văn trữ tình ngoại đề không phải là một vấn đề mới mẻ
đối với giáo viên và học sinh. Trong thực tế, trước đây, khi dạy đọc hiểu một số
tác phẩm, đoạn trích phần văn học nước ngoài, như: đoạn trích Uy lít xơ trở về
(trích Ô đi xê - Hô me rơ), truyện ngắn Số phận con người (Sô - lô - khốp),
giáo viên đã khai thác lời văn trữ tình ngoại đề.
Tuy nhiên, trong các tác phẩm, đoạn trích phần văn học nước ngoài, lời
văn trữ tình ngoại đề được nhà văn thể hiện qua hình thức so sánh mở rộng cho
nên nhận diện và khai thác không gặp nhiều khó khăn. Ngược lại, khi dạy học
truyện ngắn Việt Nam hiện đại, phần lớn giáo viên chưa chú ý khai thác lời văn
trữ tình ngoại đề, nhất là với những giáo viên trẻ, ít kinh nghiệm. Giáo viên chưa
khai thác hiệu quả lời văn trữ tình ngoại đề xuất phát từ việc giáo viên nhận diện
vai trò của lời văn trữ tình ngoại đề trong tác phẩm còn hạn chế. Khảo sát vấn đề
này, chúng tôi nhận thấy lời văn trữ tình ngoại đề vẫn còn khá xa lạ đối với phần
lớn giáo viên. Vì thế, khi dạy đọc hiểu truyện ngắn hiện đại, giáo viên chỉ tập
trung vào sự việc, chi tiết, nhân vật và tình huống truyện. Điều đó làm cho trong
quá trình dạy học không tạo được hứng thú học tập cho học sinh, bài học trở nên
khô khan, nặng nề. Học sinh cảm thấy nhàm chán khi đọc hiểu truyện ngắn,
thậm chí có những học sinh không cần biết đến cả tác giả của truyện ngắn đó.
Điều này xuất phát từ việc vận dụng phương pháp dạy học chưa khơi dậy được
hứng thú, đam mê cho học sinh. Vì thế, theo chúng tôi thiết nghĩ, để tạo được
hứng thú cho học sinh cần phải biết định hướng để học sinh khám phá những vẻ

nhà thơ có thể bộc lộ trực tiếp tư tưởng, tình cảm của mình qua những lớp ngôn
từ, thì trong truyện ngắn, nhà văn phải gửi gắm những tư tưởng, tình cảm đó một
cách gián tiếp qua hình tượng nghệ thuật.
Truyện ngắn Việt Nam hiện đại là tên gọi cho thể loại truyện ngắn Việt
Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay. Truyện ngắn là một thể loại linh hoạt, luôn biến
đổi. Truyện ngắn hiện đại thực chất là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc
đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng. Truyện ngắn Việt Nam hiện đại vận
động theo hướng hiện đại hóa của truyện ngắn hiện đại thế giới. Trải qua một
quá trình phát triển truyện ngắn Việt Nam hiện đại đã hình thành được những
đặc trưng về thi pháp thể loại. Truyện ngắn hiện đại đem đến những thay đổi
quan trọng về mặt thi pháp: rút ngắn khoảng cách trần thuật, nhà văn xuất hiện
trực tiếp trong tác phẩm để phát ngôn tư tưởng, tình cảm của mình.
Truyện ngắn hiện đại xuất hiện hình thức giao thoa giữa các phương thức
biểu đạt, giữa các thể loại. Vì thế, dạy học theo đặc trưng thể loại, cần phải có sự
kết hợp từ nhiều phương diện để học sinh có hứng thú trong việc chiếm lĩnh
những giá trị nghệ thuật của truyện ngắn. Trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại,
lời văn trữ tình ngoại đề là một nét đặc sắc của ngôn ngữ nghệ thuật. Lời văn trữ
tình ngoại đề giúp định giá những động lực tư tưởng và thẩm mĩ của tác phẩm.
Qua lời văn trữ tình ngoại đề, người ta thấy trực tiếp hình tượng tác giả.
CH*iK:?>adN+8)>e7>f)*)6K/NLMjYR43>:;>eY0O))6g)>eK)6
-*TU)6>ef)*67+8)'
Lời văn trữ tình ngoại đề xuất hiện khá nhiều trong các tác phẩm cả phần
nôi dung đọc chính và đọc thêm. Trong đề tài này, chúng tôi chỉ dừng lại khảo
sát, đánh giá qua một số truyện ngắn trong chương trình Ngữ văn 11 và 12. Đây
là những truyện ngắn sử dụng lời văn trữ tình ngoại đề đậm nét, có giá trị đặc
sắc về tư tưởng và nghệ thuật.
Trong Chữ người tử tù, nhà văn Nguyễn Tuân bộc lộ tư tưởng, tình cảm
và quan niệm nghệ thuật của mình về cuộc đời xuất phát từ cái đẹp, từ phương
diện văn hóa thẩm mĩ. Trong đó, có nhiều lời văn trữ tình ngoại đề đặc sắc có
sức gợi mở lớn đối với người đọc, như: “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống

bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói
khát, tăm tối ấy của họ”; “Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà
cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá
hơn”; hay “Chưa bao giờ cái nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế”
Lời văn trữ tình ngoại đề trong truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân thể
hiện những dự cảm, dự báo của nhà văn với số phận con người trước nạn đói.
Trữ tình ngoại đề đã làm nổi bật tấm lòng nhân đạo của nhà văn với số phận
những người nông dân nghèo trước nạn đói. Lời văn trữ tình ngoại đề cho ta
thấy vẻ đẹp truyện ngắn Kim Lân: nhẹ nhàng, sâu sắc.
Trong truyện ngắn Rừng Xà Nu, lời văn trữ tình ngoại đề được nhà văn
Nguyễn Trung Thành sử dụng trong đoạn văn mở đầu tác phẩm để miêu tả về
hình ảnh rừng xà nu với nhiều ý nghĩa: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có
cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào
ào như một trận bão. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt,
long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng
cục máu lớn.
(…) Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy
gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tời chân trời”.
Lời văn trữ tình ngoại đề trong truyện ngắn là hình ảnh của rừng xa nu
được xây dựng qua bút pháp miêu tả chi tiết, cụ thể, sinh động. Rừng xà nu là
hình ảnh của thiên nhiên Tây Nguyên kiên cường, bất khuất, ham ánh sáng, ham
sống, thách thức trước súng đạn của kẻ thù đó là hình ảnh biểu tượng cho vẻ đẹp
của con người Tây Nguyên từ những ngày đen tối nhất của lịch sử trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ.
Bên cạnh đó, lời văn trữ tình ngoại đề còn xuất hiện trong một số truyện
ngắn, đoạn trích (tiểu thuyết) khác, như: Một người Hà Nội của Nguyễn Khải,
Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng,…
EH3>:;`k>aYb)el>eR.
Qua việc khảo sát lời văn trữ tình ngoại đề trong một số truyện ngắn Việt
Nam chương trình Ngữ văn lớp 11 và 12, chúng tôi rút ra một số kết luận như

chửi. Bắt đầu hắn chửi trời. Có hề gì? ( ) Nhưng mà biết đứa nào đẻ ra Chí
Phèo? Có mà trời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết”.
Với hình thức mở đầu này, truyện ngắn của Nam Cao tạo nên một sức lôi
cuốn, hấp dẫn người đọc trước bi kịch tha hóa của con người. Lời văn trữ tinh
ngoại đề có sự đan xen ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ của tác giả. Qua đó, nhà
văn đã bộc lộ thái độ của mình trước bi kịch tha hóa của Chí Phèo. Bề ngoài ta
thấy Nam Cao là một nhà văn dửng dưng, lạnh lùng với cách xưng hô đầy khinh
miệt là “hắn”, nhưng đằng sau đó ta thấy được tấm lòng thương yêu vô hạn của
nhà văn đối với Chí Phèo. Nhà văn thấu hiểu khát khao được làm người của Chí
Phèo qua điệp khúc trong cuộc đời nhân vât: “Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong
là hắn chửi”. Trong đoạn văn mở đầu truyện ngắn, lời văn trữ tình ngoại đề thể
hiện những bàn luaanjncuar nhà văn về số phận, tính cách và dự báo tương lai
của Chí Phèo: “Có mà trời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai
biết”
Có khi lời văn trữ tình ngoại đề còn được Nam Cao sử dụng như một lời
bào chữa cho tính cách vốn hung hãn, côn đồ, lưu manh của Chí Phèo: “…Ôi
sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt
mà đâm chém người? Đó là cái bản tính của hắn, ngày thường bị lấp đi, hay
trận ốm thay đổi hắn về sinh lí cũng thay đổi cả tâm lí nữa?”. Lời văn trữ tình
ngoại đề trong đoạn văn thể hiện sự thương yêu, cảm thông sâu sắc của nhà văn
đối với Chí Phèo. Lời văn trữ tình ngoại đề trong truyện ngắn Chí Phèo giúp nhà
văn Nam Cao khẳng định với người đọc, bản tính hiền lành, lương thiện của Chí
Phèo. Hắn côn đồ, lưu manh, hung hãn, “đập đầu, rạch mặt ăn vạ” không phải
là bản tính của hắn mà do xã hội lúc bấy giờ đã làm hắn trở nên như thế. Đó
cũng là một cách tố cáo xã hội thực của Nam Cao.
Đối với nhân vật Thị Nở, một nhân vật nữ hiếm có trong văn học Việt
Nam, Nam Cao đã miêu tả cụ thể, chi tiết về nhân vật Thị Nở với những gì
tưởng chừng như tất cả nết xấu của con người đều tập trung ở Thị Nở. Thế
nhưng, có lúc Nam Cao lại dành những lời có cánh để bênh vực, bảo vệ cho Thị
Nở: “…Trông thị thế mà có duyên. Tình yêu làm cho có duyên. Hắn thấy vừa

so sánh, mở rộng giàu hình ảnh này đã góp phần tạo nên những đoạn văn giàu
hình ảnh cho những truyện ngắn vốn sắc lạnh, giàu tính triết lý của Nam Cao.
Lời văn trữ tình ngoại đề ở đây vừa mang tình chất đánh giá, vừa dự báo về sự
thay đổi của nhân vật, vừa có tính chất triết lí về sự cô độc của con người. Tính
triết lí từ cách so sánh mở rộng là một đặc điểm độc đáo trong truyện ngắn Nam
Cao.
c. Trong truyện ngắn Chí Phèo, lời văn trữ tình ngoại đề còn được nhà
văn sử dụng qua hình thức bàn luận mở rộng để rút ra những triết lý nhân sinh.
Những triết lý này thể hiện quan niệm, cách nhìn của nhà văn trước cuộc đời.
Tuy nhiên, những triết lý trong Chí Phèo nói riêng và truyện ngắn Nam Cao đều
không phải là những tuyên ngôn, thuyết lý khô khan mang tính giáo huấn mà đó
là những câu nói hình ảnh, bóng bẩy.
Triết lí về sự cô độc: “Chí Phèo hình như đã trông trước thấy tuổi già
của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm
đau”. Nam Cao đã đưa ra một nhận định có ý nghĩa sâu sắc về sự cô độc của
nhân vật Chí Phèo. Sự cô độc đạt trong sự đối sánh với đói rét và ốm đau. Nghĩa
là giữa vật chất (đói rét), thể xác (ốm đau), mặt tinh thần (sự cô độc) mới thực
sự là một điều đáng sợ.
Triết lí về sinh lí và nhân cách: “Hơn hai mươi tuổi, người ta không là
đá, nhưng cũng không hoàn toàn là xác thịt. Người ta không thích cái gì người
ta khinh”. Qua triết lí này, ta thấy Nam Cao không phủ nhận những xúc cảm
mãnh liệt của một người đàn ông đang ở độ tuổi hai mươi. Nhưng nhân vật của
Nam Cao vẫn thể hiện một niềm tin về lòng tự trọng, về ý thức nhân cách.
Từ một số phận cụ thể, Nam cao còn đặt ra cả những triết lí về cái mạnh -
yếu: “Những người yếu đuối vẫn hay hiền lành. Muốn ác, phải là kẻ mạnh. Hắn
đâu còn mạnh nữa”. Thậm chí cả những triết lí về sắc hấp dẫn bản tính của
người đàn bà: “Đàn bà không có men như rượu nhưng cũng làm người say”; đến
cả triết lí về thằng điên và thằng say rượu: “Những thằng điên và những thằng
say rượu không bao giờ làm những cái mà lúc ra đi chúng định làm”.
Qua truyện ngắn Chí Phèo, ta thấy lời văn trữ tình ngoại đề của Nam Cao

tấn bi kịch của mình là tấm lòng đôn hậu của một nhà văn giàu tình yêu thương.
Lời văn trữ tình ngoại đề là một cách để nhà văn Nam Cao phát biểu những
quan niệm nghệ thuật, quan niệm nhân sinh của mình trước cuộc đời với người
đọc. Qua lời văn trữ tình ngoại đề, nhà văn đã tố cáo sâu sắc, quyết liệt đối với
thế lực thống trị trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ. Nhà văn đã bênh
vực, để bảo vệ những người nông dân nghèo sống trong chuỗi bi kịch như Chí
Phèo.
Nam Cao là một nhà văn lạnh lùng, ít nói. Trong sáng tác cũng như trong
cuộc đời, ta không thấy Nam Cao phát ngôn, rao giảng về những thuyết lí riêng
của mình như nhiều nhà văn cùng thời khác nhưng qua mỗi tác phẩm, Nam Cao
luôn đem đến cho người đọc những quan niệm nghệ thuật tiến bộ, những triết lí
nhân sinh sâu sắc. Chính vì thế, sự xuất hiện của lời văn trữ tình ngoại đề trong
Chí Phèo đã khiến cho truyện ngắn ý nghĩa hơn, có thêm những điều để nói, để
suy nghĩ hơn.
Trong truyện ngắn Chí Phèo, lời văn trữ tình ngoại đề không chỉ góp phần
tô đậm chủ đề của tác phẩm, cụ thể tình cảm, thái độ của tác giả mà còn là một
nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao. Ngôn ngữ trong
truyện ngắn Chí Phèo không tinh tế như Hai đứa trẻ; không trang trọng, cổ kính
như Chữ người tử tù; không đậm chất trào phúng như Số đỏ mà vừa trần trụi,
vừa uyển chuyển, đặc biệt là sâu sắc giàu triết lí.
Lời văn trữ tình ngoại đề trong truyện ngắn Chí Phèo hết sức đa dạng. Nó
góp phần quan trọng tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn của tác phẩm. Lời văn trữ
tình ngoại đề giúp nhà văn bước vào tác phẩm để có thể bộc lộ tư tưởng, tình
cảm, nhân sinh quan, thế giới quan của mình. Khi đọc truyện ngắn Chí Phèo,
qua lời văn trữ tình ngoại đề, người đọc không chỉ thấy số phận, cuộc đời của
một người nông dân lương thiện bị đẩy vào bi kịch tha hóa, lưu manh hóa đến bị
cự tuyệt quyền làm người mà còn nhận ra hình ảnh của Nam Cao, nhà văn - nhà
nhân đạo lớn trên trang sách.
EHn)**TZ)6`*RN>*?-adN+8)>e7>f)*)6K/NLM>eK)6J/0*1-L1-
*NoY>eY0O))6g)Chí Phèo -QRR4RKH

ngữ. Trong đó, so sánh mở rộng là một biện pháp tu từ có nhiều ý nghĩa. Qua
những lời văn trữ tình ngoại đề thể hiện dưới dạng so sánh mở rộng, giáo viên
cần thiết phải đặt ra những câu hỏi mang tính gợi mở để học sinh khai thác.
Chẳng hạn, sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của Chí Phèo với Thị Nở, sự săn
sóc của Thị Nở cùng với bát cháo hành đã giúp Chí Phèo hồi sinh. Khi dạy sự
việc này, nhiều giáo viên chỉ tập trung hướng dẫn học sinh khai thác ở một số
phương diện: cuộc gặp gỡ với Thị Nở có ý nghĩa gì? Bát cháo hành có vai trò
như thế nào đối với Chí Phèo? Đối với truyện ngắn Chí Phèo với những sự
việc, chi tiết đặc sắc như cuộc gặp gỡ Chí Phèo - Thị Nở, bát cháo hành của Thị
Nở,… nếu chỉ dừng lại ở đó là chưa làm nổi bật hết giá trị độc đáo ngôn ngữ
nghệ thuật trong truyện ngắn Nam Cao. Giáo viên cần hướng dẫn khai thác cả
những chi tiết nhỏ như trận ốm của Chí Phèo. Đó là một chi tiết nhà văn đã sử
dụng yếu tố trữ tình ngoại đề đặc sắc. Để học sinh có thể thấy được thái độ của
nhà văn, giáo viên có thể đặt một số câu hỏi:
Câu hỏi 1: Chỉ ra đoạn văn được nhà văn Nam Cao sử dụng để so sánh
với trận ốm của Chí Phèo?
Câu hỏi 2: Nhận xét giá trị nội dung và nghệ thuật của hình thức so sánh
trong đoạn văn đó?
Câu hỏi 3: Cách so sánh như thế cho thấy thái độ, tình cảm của Nam Cao
với nhân vật như thế nào?
Việc sử dụng những câu hỏi gợi mở để khai thác lời văn trữ tình ngoại đề
sẽ kích thích hứng thú học tập của học sinh.
c. Khai thác lời văn trữ tình ngoại đề trong truyện ngắn Chí Phèo của
Nam Cao qua hình thức ngôn ngữ bàn luận rút ra những triết lý nhân sinh
Tính triết lý là một đặc điểm đặc sắc trong ngôn ngữ truyện ngắn Nam
Cao. Nhà văn Nam cao thường lựa chọn những vấn đề tưởng chừng vụn vặt
trong cuộc sống con người, thế nhưng từ chính những đề tài đó, Nam Cao đã
nâng lên thành những triết lý có ý nghĩa sâu sắc. Dạy học truyện ngắn Chí Phèo
vì thế cần thiết khai thác được giá trị của của những triết lý nhân sinh được nhà
văn gửi gắm trong tác phẩm.

Phèo” của Nam Cao.
Qua việc vận dụng khai thác lời văn trữ tình ngoại đề trong truyện ngắn
Chí Phèo trong chương trình Ngữ văn lớp 11, chúng tôi nhận thấy đã tạo ra
được hứng thú học tập cho học sinh. Mặt khác, khi kiểm tra, đánh giá qua bài
làm của học sinh, chúng tôi nhận thấy: Bài viết của học sinh vừa sâu sắc vừa có
cảm xúc rõ ràng hơn.
Kết quả cụ thể thu được như sau:
- Với 2 lớp dạy học không vận dụng khai thác lời văn trữ tình ngoại đề
(dạy học bình thường theo những năm học trước):
TT Lớp Tổng
số
HS
Xếp loại
Giỏi Khá T.bình Yếu Kém
Số
HS
Tỉ lệ
%
Số
HS
Tỉ lệ
%
Số
HS
Tỉ lệ
%
Số
HS
Tỉ lệ
%

HS
Tỉ lệ
%
1 DD[ Aq E 6.3 D[ 31.3 CE 47.9 [ 10.4 @ 0
2 DDp Ar p 12.8 DE 27.7 CC 46.8 p 12.8 @ 0
#tu
DHk>aYb)
Lời văn trữ tình là một biểu hiện đặc sắc trong truyện ngắn Việt Nam hiện
đại. Lời văn trữ tình ngoại đề là dấu hiệu của quá trình đổi mới truyện ngắn Việt
Nam theo hướng hiện đại. Lời văn trữ tình ngoại đề giúp nhà văn thể hiện rõ hơn
tư tưởng, chủ đề của tác phẩm. Dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại nếu giáo
viên chú ý khai thác lời văn trữ tình ngoại đề chắc chắn sẽ tạo được hứng thú
học tập cho học sinh, mang lại hiệu quả nhất định trong dạy học.
Xuất phát từ thực tiễn và thể nghiệm bước đầu trong quá trình dạy học
truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao và một số truyện ngắn hiện đại khác, lời
văn trữ tình ngoại đề có vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm. Lời văn trữ
tình ngoại đề là một vẻ đẹp trong sáng tạo nghệ thuật, trong sử dụng ngôn từ của
truyện ngắn Chí Phèo. Trong quá trình đổi mới dạy học Ngữ văn, để tạo hứng
thú học tập cho học sinh, để nâng cao năng lực cảm thụ truyện ngắn hiện đại,
chúng tôi mạnh dạn đề xuất một hướng tiếp cận và dạy học truyện ngắn hiện đại
từ bình diện khai thác lời văn trữ tình ngoại đề.
CHNk))6*n
Dạy học khai thác lời văn trữ tình ngoại đề trong truyện ngắn hiện đại
không chỉ dừng lại đối với truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao. Thay đổi về
quan niệm, về cách nhìn, về cách nghĩ để tìm ra một hướng dạy học tích cực là
điều cần thiết. Trong thực tiễn dạy học, định hướng để học sinh khai thác giá trị
lời văn trữ tình ngoại đề trong truyện ngắn sẽ giúp các em hiểu được một cách
sâu sắc những giá trị độc đáo của tác phẩm văn. Đây cũng một bình diện quan
trọng để tiếp cận, vận dụng vào dạy học truyện ngắn hiện đại trong chương trình
Ngữ văn 11 và 12.

DHU:_aIaYb) A
CHU:_>*,->Nc)H [
HdN+8)>e7>f)*)6K/NLM>eK)6>eY0O))6g)NO>R4*NO)L/N r
DH3>:;+h)LM+M>eY0O))6g)NO>R4*NO)L/N r
CH*iK:?>adN+8)>e7>f)*)6K/NLMjYR43>:;>eY0O))6g)HHH q
EH3>:;`k>aYb)el>eR D@
H*iK:?>+<+b)JP)6+<KJ/0*1->eY0O))6g)Chí Phèo DD
DHdN+8)>e7>f)*)6K/NLM>eK)6>eY0O))6g)Chí Phèo-QRR4RK DD
CHRN>em-QRadN+8)>e7>f)*)6K/NLM>eK)6>eY0O))6g) Chí Phèo D[
EHn)**TZ)6`*RN>*?-adN+8)>e7>f)*)6K/NLMHHH -QRR4RKH Dp
AHk>jYiJ/0*1->*,-)6*NO4 Ds
#tu CD
#] CE


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status