BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HUYỀN NGỌC
KẾT NỐI VĂN HỌC VỚI ĐỜI SỐNG
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 Ở THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, NĂM 2017
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HUYỀN NGỌC
KẾT NỐI VĂN HỌC VỚI ĐỜI SỐNG
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 Ở THPT
Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy học Văn
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Phạm Thị Thu Hƣơng
HÀ NỘI, NĂM 2017
Xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể gia đình, bạn bè; cảm ơn các đồng nghiệp,
các em học sinh trường THPT Kim Động (Hưng Yên) đã luôn động viên, khích lệ,
giúp đỡ tôi để hoàn thành luận văn của mình!
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huyền Ngọc
4
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ĐHSPHN
Đại học Sư phạm Hà Nội
ĐHSPHN 2
Đại học Sư phạm Hà Nội 2
GV
Giáo viên
GS
Giáo sư
HS
MỞ ĐẦU
9
1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................................9
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .................................................................................12
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................19
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .........................................................................20
5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................20
6. Đóng góp của luận văn ......................................................................................21
7. Cấu trúc của luận văn ........................................................................................21
PHẦN NỘI DUNG
22
Chƣơng 1. MỐI QUAN HỆ VĂN HỌC – ĐỜI SỐNG VÀ VAI TRÒ CỦA
VIỆC KẾT NỐI VĂN HỌC VỚI ĐỜI SỐNG TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU
VĂN BẢN VĂN CHƢƠNG Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG
22
1.1. Mối quan hệ giữa văn học và đời sống ...........................................................22
1.1.1. Văn học bắt nguồn từ đời sống ................................................................22
1.1.2. Văn học tác động trở lại đời sống ............................................................24
1.2. Vai trò của việc kết nối văn học với đời sống trong dạy học đọc hiểu văn bản
văn chương.............................................................................................................25
1.2.1. Đọc hiểu văn bản văn chương .................................................................26
1.2.2. Kết nối văn học với đời sống ....................................................................39
1.2.3. Ý nghĩa của việc kết nối văn học với đời sống trong dạy học đọc hiểu văn
bản văn chương ..................................................................................................44
Tiểu kết chương 1 ..................................................................................................50
Chƣơng 2. TỔ CHỨC KẾT NỐI VĂN HỌC VỚI ĐỜI SỐNG TRONG DẠY
92
3.1. Mục đích thực nghiệm ....................................................................................92
3.2. Thời gian, địa điểm, đối tượng thực nghiệm ..................................................92
3.3. Phương pháp thực nghiệm ..............................................................................93
3.4. Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm ...........................................................93
3.5. Giáo án thực nghiệm .......................................................................................93
7
3.6. Kết quả thực nghiệm .....................................................................................116
3.6.1. Đề kiểm tra .............................................................................................116
3.6.2. Kết quả ...................................................................................................117
3.7. Đánh giá kết quả thực nghiệm ......................................................................118
3.7.1. Đánh giá về quá trình dạy học ...............................................................118
3.7.2. Đánh giá kết quả bài kiểm tra ................................................................118
KẾT LUẬN
120
TÀI LIỆU THAM KHẢO
123
8
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản
thân) và các năng lực đặc thù (năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởng thức
văn học/cảm thụ thẩm mỹ). Ngoài ra, môn Ngữ văn cũng góp phần hình thành và
phát triển những phẩm chất thiết yếu cho người học như: sống yêu thương (yêu Tổ
quốc; giữ gìn, phát huy truyền thống gia đình và giá trị các di sản văn hóa của quê
hương, đất nước; tôn trọng các nền văn hóa thế giới; nhân ái, khoan dung; yêu thiên
nhiên), sống tự chủ (trung thực, tự trọng, tự lực, chăm chỉ, vượt khó, tự hoàn thiện),
sống trách nhiệm (tự nguyện chấp hành kỉ luật; tuân thủ pháp luật; bảo vệ nội quy,
pháp luật).
Những năng lực và phẩm chất ấy chỉ được hình thành và thể hiện qua các
hoạt động thực tiễn. Vì thế, việc dạy văn không thể tách rời với thực tiễn đời sống.
Hay nói cách khác, người dạy phải hướng dẫn học sinh tạo ra được những kết nối
giữa văn học với đời sống của người học để từ đó góp phần hình thành những kĩ
năng, năng lực và phẩm chất cần thiết cho các em.
2. Văn học và đời sống vốn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với
nhau. Vòng đời của một tác phẩm văn học đó là "một vòng khép kín đan kết nhiều
quá trình và nhiều quan hệ: cuộc sống - nhà văn - tác phẩm - bạn đọc - cuộc sống.
Trong quá trình đi từ cuộc sống, trở về với cuộc sống, tác phẩm có những mối quan
hệ máu thịt và tác động qua lại với bản thân cuộc sống, với nhà văn, với bạn đọc"
[27, 177]. Văn học phản ánh, biểu hiện đời sống, là “hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan” [32]. Khi tác phẩm văn học ra đời qua sự tiếp nhận của người đọc, nó
lại tác động lại đời sống. Có thể nói, đời sống là điểm xuất phát, là nguồn cảm hứng
và cũng là đích đến cuối cùng của văn học.
Vì thế, trong dạy học đọc hiểu văn bản, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tạo
ra những kết nối giữa văn học với đời sống để giúp các em có thể hình dung, tưởng
tượng, cắt nghĩa, lí giải, đánh giá và hiểu sâu sắc hơn nội dung tư tưởng, giá trị, ý
nghĩa của tác phẩm. Qua đó, hình thành và phát triển những năng lực và phẩm chất
cần thiết cho học sinh, tăng cường khả năng vận dụng những kiến thức được học
vào thực tiễn cuộc sống.
10
thời sự của xã hội được đặt ra nhưng văn học dường như vẫn đang “say sưa” với
11
những chiến thắng của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mĩ. Từ năm 2006, chương trình và SGK môn Ngữ văn THPT bắt đầu được đổi mới.
Các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 lần đầu tiên được có mặt trong SGK
THPT. Các nhà biên soạn đã đưa vào chương trình và SGK một số tác phẩm, tác giả
tiêu biểu như: các truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, Một
người Hà Nội của Nguyễn Khải; tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn
Kháng; các bài thơ Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo, Đò Lèn của Nguyễn
Duy; bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường; kịch Hồn
Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ; …
Riêng về truyện ngắn, SGK Ngữ văn 12 (Ban cơ bản và Ban nâng cao) đều
lựa chọn hai tác phẩm để dạy học đọc hiểu là: Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn
Minh Châu, Một người Hà Nội của Nguyễn Khải. Đây là hai truyện ngắn tiêu biểu
cho sáng tác sau 1975 với những đổi mới cả về đề tài, bút pháp, tư duy thẩm mĩ,
điểm nhìn nghệ thuật. Hai nhà văn đều đã đề cập đến những câu chuyện đời thường
đang diễn ra với tất cả tính chất bộn bề, phức tạp của nó, với những con người,
những số phận dường như ở đâu đó quanh ta. Khi dạy học đọc hiểu các tác phẩm
này, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh tạo ra những kết nối giữa những vấn
đề, những nội dung được đề cập trong các tác phẩm với đời sống mà tác phẩm ra
đời, với xã hội hiện nay, với những suy nghĩ, cảm nhận của học sinh để giúp các em
vừa hiểu đúng, hiểu sâu sắc tác phẩm, vừa hình thành cho mình kĩ năng, thái độ
sống đúng đắn.
Từ những lí do trên nên chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài Kết nối văn
học với đời sống trong dạy học đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở THPT
để triển khai trong luận văn của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Những nghiên cứu về vấn đề kết nối văn học với đời sống
thuật không tách rời đời sống xã hội. Tuy vậy, so với Plêkhanốp, Lukacs đã xác lập
được hệ thống quan điểm mĩ học của mình về mối quan hệ giữa văn học và hiện
thực qua đặc trưng của phản ánh nghệ thuật. Trong khi Plêkhanốp cho rằng "muốn
hiểu nghệ thuật phản ánh cuộc sống như thế nào thì cần phải hiểu cơ cấu của cuộc
sống đó" thì Lukacs nhấn mạnh đến thế giới riêng của sáng tạo nghệ thuật, ông cho
13
rằng mọi tác phẩm nghệ thuật có giá trị đều tạo ra "thế giới riêng", các nhân vật,
tình huống đều hoàn toàn khác với thực tế hàng ngày, thậm chí không giống với bất
kì nhân vật, tình huống nào của tác phẩm khác. Lukacs chỉ ra rằng sự say mê của
người tiếp nhận là sự say mê hoàn toàn vào đặc trưng của cái "thế giới riêng" của
tác phẩm, do tác phẩm đã “phản ánh hiện thực trung thực hơn, hoàn thiện hơn, sinh
động hơn cái mà người tiếp nhận có được về hiện thực”.
Ở trong nước, đầu tiên phải kể đến cuốn Lí luận văn học, tập 1 do tác giả
Phương Lựu chủ biên đã dành cả chương 2 để bàn về mối quan hệ giữa “văn học
với hiện thực đời sống”. Vận dụng thuyết phản ánh luận của Lênin, các tác giả đã
cho rằng “văn học cũng như nghệ thuật nói chung là lĩnh vực của tình cảm thẩm mĩ,
nhưng vẫn là một loại hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội. Mối quan hệ
giữa văn học với hiện thực là mối quan hệ giữa cái phản ánh và cái được phản
ánh” [32, 80]. Hiện thực là nguồn gốc của nhận thức, của ý thức, cho nên “đời sống
là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng nghệ thuật và đồng thời là cái chìa khóa giải thích
được những hiện tượng phức tạp của nghệ thuật” [32, 80]. Các tác giả cũng đã đi
sâu phân tích mối quan hệ giữa phản ánh với nhận thức, phản ánh với biểu hiện,
phản ánh với sáng tạo, phản ánh với tác động. Từ đó cho thấy văn học không chỉ
phản ánh thế giới khách quan mà còn biểu hiện toàn bộ thế giới chủ quan của nhà
văn, hay nói cách khác “văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”
[32, 91]. Văn học sáng tạo ra một thế giới mới trên cơ sở thế giới thực tại và nó góp
phần “cải tạo và sáng tạo thế giới theo chiều hướng tiến lên” [32, 96].
Ở cuốn Văn học và cuộc sống (1996), trong lời mở đầu, tác giả Mai Thanh
cũ kĩ và xa lạ, cách bức với họ”. Hơn nữa, cuộc sống luôn biến đổi phức tạp trên
mọi lĩnh vực càng làm lộ ra những hạn chế trong nội dung giảng dạy văn học của
nhà trường. “Hố sâu ngăn cách ấy” đòi hỏi người giáo viên không thể làm ngơ
được.
Tác giả Lê Sử, trong bài viết Quan niệm dạy văn gắn với đời sống (qua
chương trình và sách giáo khoa) đã phân tích sự thể hiện của quan niệm này qua các
thời kì, giai đoạn khác nhau. Tác giả bài viết đã cho rằng, quan niệm dạy văn gắn
với đời sống là quan niệm cơ bản của chương trình và SGK thời chống Mĩ. Bởi
chương trình môn Văn, ngay từ đầu đã khẳng định: “Muốn phát huy chức năng của
15
văn học, giáo viên cần gắn liền việc giảng dạy văn học với đời sống”, “Gắn liền
giảng dạy văn học với đời sống là từ cuộc sống trong tác phẩm làm cho học sinh
hiểu rõ con người thực tế bên ngoài, trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, lấy
cái mới soi cái cũ, lấy cái cũ soi cái mới” (Bộ giáo dục, 1965). Đồng thời có thể
vận dụng những hiểu biết ngoài xã hội để cảm thụ, lí giải đời sống trong tác phẩm
văn học. Dạy văn gắn với đời sống được đẩy lên tới tận cùng, trở thành biểu hiện
cao nhất của việc độc tôn phương pháp xã hội học, phủ nhận mọi phương pháp cũng
như hướng tiếp cận khác. Hậu quả là sự xóa nhòa ranh giới giữa văn chương với
cuộc đời, xem tác phẩm chỉ là một thứ tài liệu ghi chép, chụp ảnh nguyên xi đời
sống. Lối tiếp cận dung tục đối với tác phẩm càng trở nên phổ biến.
PGS.TS Nguyễn Viết Chữ trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương trong nhà trường cho rằng: Để tiến hành đổi mới dạy học Ngữ văn, “chúng
ta cần tôn trọng những nguyên tắc dạy học văn hiện đại” [6, 65] và dạy văn gắn với
đời sống tinh thần của dân tộc và nhân loại là một trong năm nguyên tắc đó.
Ngoài ra, trong một số luận văn, khóa luận cũng đã phần nào bàn đến việc
dạy học tác phẩm văn học gắn với đời sống như: Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn
Thị Thu Huyền (ĐHSPHN 2) Đọc hiểu văn bản “Vội vàng” (Xuân Diệu) gắn liền
với đời sống thực tiễn (2013); Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Phương Chúc
định những kết tinh, định hình những giá trị của văn học Việt Nam trong thời kì đổi
mới và hội nhập. Từ đó, các tác giả đã đưa ra một số lưu ý khi dạy học các tác phẩm
sau 1975 trong nhà trường phổ thông có giá trị định hướng cho người dạy và người
học.
Giáo trình Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 (PGS
Nguyễn Văn Long chủ biên, Nxb ĐHSP, 2006) đã dành những trang đánh giá rất
cao cho những nỗ lực cách tân mang ý nghĩa đột phá của thể loại truyện ngắn trên
con đường hiện đại hóa: “Cảm tưởng của số đông độc giả rằng truyện ngắn tập
trung được nhiều nhất những yếu tố có tính cách tân trong văn xuôi thời đổi mới, và
nhiều kết tinh nghệ thuật hơn hẳn so với các thể loại khác là có cơ sở. Với truyện
ngắn, văn học Việt Nam đang tiệm cận văn học đương đại thế giới ở tư duy thể
loại”.
17
Bên cạnh đó, không thể không kể đến chuyên luận Những đổi mới của văn
xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 của tác giả Nguyễn Thị Bình (Nxb ĐHSP,
2007). Đây là một trong những công trình có ý nghĩa tổng kết những thành tựu cách
tân quan trọng nhất của văn xuôi Việt Nam khoảng 20 năm sau 1975, trong tương
quan so sánh với văn xuôi Việt Nam thời kì 1945 – 1975. Những đổi mới căn bản
của văn xuôi (trong đó có truyện ngắn) thời kì này được tác giả nhận diện trên ba
bình diện cơ bản: Đổi mới quan niệm nhà văn, quan niệm nghệ thuật về con người
và những cách tân nổi bật trên bình diện thể loại. Chuyên luận không chỉ giúp người
đọc nhận diện được sự vận động trong ý thức nghệ thuật của người cầm bút mà còn
góp phần khẳng định những tên tuổi, những tài năng trong văn xuôi trong giai đoạn
này.
Tác giả Bùi Việt Thắng dành sự quan tâm đặc biệt đến thể loại truyện ngắn,
với hai cuốn sách Bình luận truyện ngắn (Nxb Văn học, 1999) và Truyện ngắn –
Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại (Nxb Đại học Quốc gia, 2000). Ngoài
dạy học các tác phẩm truyện ngắn sau 1975 nhằm mục đích vừa phát huy được vai
trò trung tâm của người học, vừa đem lại hiệu quả giảng dạy cao.
Tuy nhiên, dạy học truyện ngắn Việt Nam sau 1975 theo hướng kết nối văn
học với đời sống là một vấn đề còn khá mới mẻ. Vì thế, trong luận văn của mình,
tôi mạnh dạn triển khai hoạt động kết nối các tác phẩm này với đời sống với hi vọng
rằng sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở
THPT.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu nhằm mục đích khẳng định ý nghĩa của việc kết nối
văn học với đời sống trong dạy học đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở
THPT, chỉ ra được những cách thức kết nối văn học với đời sống. Qua đó, phát triển
năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh, bồi dưỡng phẩm chất, kĩ năng sống cho
người học.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động kết nối văn học với đời sống trong dạy học đọc hiểu
truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở THPT, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
19
- Tìm hiểu, xây dựng cơ sở lí luận của hoạt động kết nối văn học với đời
sống trong dạy học tác phẩm văn chương nói chung, dạy học đọc hiểu truyện ngắn
Việt Nam sau 1975 ở THPT nói riêng.
- Tìm hiểu thực trạng kết nối văn học với đời sống trong dạy học đọc hiểu
truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở THPT.
- Đề xuất một số biện pháp, cách thức để tạo ra kết nối văn học với đời sống
trong dạy học đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở THPT.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các biện pháp đã đề xuất.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn tiếp tục phát triển, bổ sung, khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng
của hoạt động kết nối văn học với đời sống trong dạy học tác phẩm văn chương nói
chung, dạy học đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở THPT nói riêng.
- Đề xuất các biện pháp, cách thức kết nối văn học với đời sống trong dạy
học đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở THPT.
- Bước đầu hiện thực hóa ý tưởng của đề tài thông qua một giáo án thiết kế
thử nghiệm có tính khả thi làm cơ sở cho giáo viên và học sinh vận dụng trong quá
trình dạy học các tác phẩm này.
- Kết nối văn học với đời sống trong trong dạy học đọc hiểu truyện ngắn Việt
Nam sau 1975 ở THPT sẽ giúp học sinh không chỉ hiểu sâu sắc nội dung, ý nghĩa
của các tác phẩm mà còn góp phần hình thành, phát triển những năng lực, phẩm
chất cần thiết cho các em.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tham khảo, nội dung chính
của luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Mối quan hệ văn học – đời sống và vai trò của việc kết nối văn
học với đời sống trong dạy học đọc hiểu văn bản văn chương ở trường phổ thông
Chương 2. Tổ chức kết nối văn học với đời sống trong dạy học đọc hiểu
truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở THPT
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
21
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
MỐI QUAN HỆ VĂN HỌC – ĐỜI SỐNG
VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC KẾT NỐI VĂN HỌC VỚI ĐỜI SỐNG
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN CHƢƠNG
Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG
1.1. Mối quan hệ giữa văn học và đời sống
thuật và đồng thời là cái chìa khóa giải thích được những hiện tượng phức tạp của
nghệ thuật” [32, 80]. Xét đến cùng bất kì nền văn nghệ nào cũng hình thành trên
một cơ sở hiện thực nhất định. Bất kì một người nghệ sĩ nào cũng thoát thai từ một
môi trường sống nào đó. Bất kì một tác phẩm nào cũng là sự khúc xạ những vấn đề
trong cuộc sống. Tính hiện thực, do đó, là thuộc tính tất yếu của văn nghệ.
Phản ánh hiện thực đời sống, văn học có khả năng hiểu biết và khám phá
được bản chất hoặc những khía cạnh bản chất của hiện thực làm nên tính chân thật,
giá trị nhận thức của tác phẩm văn học. Những tác phẩm lớn là những tác phẩm
đem lại cho người đọc những nhận thức, hiểu biết sâu sắc, mới mẻ về cuộc sống, về
con người. Đặc biệt, với chủ nghĩa hiện thực, phản ánh chân thực cuộc sống đã trở
thành nguyên tắc quan trọng nhất, chi phối mọi sáng tạo nghệ thuật. Có thể khẳng
định chỉ đến chủ nghĩa hiện thực giá trị và tác dụng nhận thức của văn học mới đạt
đến cao độ trong lịch sử. Vì thế, Ăngghen đã đánh giá tác phẩm của Bandắc: “mô tả
toàn bộ lịch sử của xã hội Pháp, trong đó ngay cả đến những chi tiết về kinh tế…tôi
đã học tập được nhiều hơn trong tất cả các sách của các nhà sử học, các nhà kinh
tế học, các nhà thống kê chuyên nghiệp cộng lại” (Mác, Ăngghen bàn về văn học và
nghệ thuật). Lênin khẳng định: “L. Tônxtôi là tấm gương phản chiếu cách mạng
Nga”.
Tuy nhiên, tác phẩm văn học không sao chép, không phản ánh nguyên xi
cuộc sống mà nó đã được khúc xạ qua sự cảm nhận của người nghệ sĩ. Hay nói cách
khác văn học là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Hiện thực cuộc sống
trong văn học đã hàm chứa cái nhìn, thái độ, quan điểm, sự đánh giá của nhà văn.
23
Không chỉ phản ánh thế giới khách quan, văn học còn biểu hiện thế giới chủ
quan của con người. Garôđi cho rằng: “Sáng tác văn nghệ có nhiệm vụ không phải
tái hiện thế giới mà là biểu hiện khát vọng của con người” (Về một chủ nghĩa hiện
thực không bờ bến, Paris, 1963, trang 35). Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã quan
niệm: “Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con
Văn học phản ánh hiện thực trong tính sinh động, toàn vẹn của nó. Bởi vậy,
giống như những bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống, văn học “mở ra chân trời
mới”, cung cấp cho người đọc những kiến thức phong phú, đa dạng về thế giới xung
quanh, về con người, về chính bản thân mình, … Những hiểu biết ấy vượt qua giới
hạn của thời gian, không gian giúp cho con người “lớn dần thêm” về trí tuệ, hoàn
thiện thêm về nhân cách.
Không dừng ở chức năng nhận thức, văn học còn “giáo dục phẩm chất
người, giáo dục đạo đức, cách sống, cách ứng xử phù hợp với lẽ phải, tình thương,
trách nhiệm, phù hợp với những yêu cầu chính đáng của những hoàn cảnh lớn nhỏ
có tính lịch sử cụ thể” [32, 222]. Khác với đạo đức, pháp luật, chính trị, … văn học
tác động vào tình cảm, suy nghĩ của con người thông qua hình tượng và bằng con
đường xúc động, lan truyền tình cảm nên chức năng giáo dục của văn học trở thành
chức năng tự giáo dục. Đọc tác phẩm văn học sẽ giúp cho ta biết yêu, biết ghét, biết
vui buồn, cảm thông, sẻ chia với những người xung quanh để ta sống đẹp hơn, có ý
nghĩa hơn. Quả thật, nói như nhà văn Thạch Lam: “Văn chương là một thứ khí giới
thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối
và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”.
Như thế, qua sự tiếp nhận của người đọc, văn học tác động vào nhận thức,
tâm hồn, tình cảm, nhân cách của từng con người, từ đó tác động, thay đổi đời sống
xã hội nói chung.
Có thể khẳng định giữa văn học với đời sống có mối quan hệ khăng khít, mật
thiết, tác động qua lại với nhau. Vì thế, khi nghiên cứu, tìm hiểu, dạy học các tác
phẩm văn học, người nghiên cứu, người dạy và người học không thể tách rời văn
học với đời sống.
1.2. Vai trò của việc kết nối văn học với đời sống trong dạy học đọc hiểu
văn bản văn chƣơng
25