skkn vấn đề đặt câu hỏi TRONG dạy đọc HIỂU văn bản TRUYỆN kí VIỆT NAM HIỆN đại ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG - Pdf 32

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1.
1.
1.
1.
1.
1.
1.
1.

Họ và tên: Lê Thị Hồng Vinh
Ngày tháng năm sinh: 08-12-1972
Nam, nữ: Nữ
Địa chỉ: 201, tổ 6, khu phố 2, phường Long Bình Tân, thành phố Biên
Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại (NR): 0613.833867
Fax:
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn tổ Ngữ văn
Đơn vị công tác: Trường THPT Tam Phước
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao nhất): Thạc sĩ
Năm nhận bằng: 2012
Chuyên ngành đào tạo: Văn học Việt Nam
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC

Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy Văn THPT
Số năm kinh nghiệm: 19 năm
1 Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây
1

người khác thể hiện bằng thể loại tự sự?
1.4. Từ nghiên cứu về vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học truyện ký hiện
đại, chúng tôi hy vọng sẽ xác lập được những nhận thức khoa học cơ bản để
làm việc có hiệu quả hơn với vô số vấn đề khác của dạy học Ngữ văn trong
bối cảnh hiện nay, mà các vấn đề gần gũi nhất có thể là: dạy học truyện ký
trung đại, dạy học thơ trữ tình, truyện thơ, văn bản chính luận…


2. Giới hạn đề tài
Như tên đề tài đã xác định, chúng tôi giới hạn phạm vi trình bày là
Vấn đề đặt câu hỏi trong dạy đọc – hiểu văn bản truyện kí Việt Nam
hiện đại ở trường Trung học phổ thông.
PHẦN II – THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI
PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
1. Thuận lợi
Trong chương trình ngữ văn THPT tỉ lệ các văn bản truyện kí hiện đại
chiếm số lượng tương đối trong tổng số các tiết đọc hiểu văn bản, và đa số
các giờ đoc - hiểu truyện kí này khơi gợi được nhiều hứng thú cho giáo viên
và học sinh trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học. Hơn nữa tài liệu
về truyện kí hiện đại khá dễ tìm đối với cả giáo viên và học sinh.
1. Khó khăn
Ở trường THPT Tam Phước, hàng năm tuyển sinh chất lượng đầu vào
của học sinh thấp; Hầu hết các em còn rất thụ động, ý thức tự học còn hạn
chế. Học sinh chưa xác định được sự cần thiết của môn học. Các em không
có thói quen đọc sách nghiên cứu, không quan tâm đến việc tìm đọc các tác
phẩm văn học, chỉ đọc đoạn trích ở SGK. Vì vậy, việc giảng dạy của giáo
viên khi áp dụng những phương pháp mới còn gặp nhiều khó khăn để đem
lại hiệu quả như mong muốn. Do đó vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học nói
chung, dạy học truyện ký Việt Nam hiện đại nói riêng nhiều lúc chỉ dừng lại
ở dạng những câu hỏi đơn giản. Giáo viên đa số thường ưu tiên sử dụng

khác so với những lớp khác.
Cũng vậy, hình thức ngôn ngữ của câu hỏi rất quan trọng. Câu hỏi có


hấp dẫn không, có gây chú ý với HS không còn nhờ vào những từ và cụm từ
nghi vấn. Về chức năng ngữ pháp, những từ, cụm từ như: tại sao, vì sao, như
thế nào, do đâu, làm thế nào, bằng cách nào, sẽ ra sao… thích hợp để biểu
đạt các câu hỏi trình độ cao, khó, phức tạp, có tính vấn đề gợi tư duy, nghiên
cứu. Những cụm từ nghi vấn này thường đặt HS vào những tình thế mở.
Tình thế ấy có tác dụng khích lệ đa số học sinh. Hình thức đó kết hợp với
thái độ thân thiện, biểu cảm tất yếu sẽ hấp dẫn HS. "Câu hỏi có tính hấp dẫn
không phải là những câu hỏi đơn đọc mà phải kết hợp đề dẫn, gợi mở, có
tình huống hấp dẫn, nuôi dưỡng sức suy nghĩ, gợi sức tưởng tượng, gây nên
hứng thú cho HS bằng ngôn ngữ văn chương giản dị, mạch lạc mà trong
sáng, giàu hình ảnh, nhạc điệu với tất cả sự rung cảm chân thực của chính
mình" Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực
hiện chương trình, SGK lớp11, Trang 52, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Hệ thống câu hỏi phải được xây dựng theo cấp độ từ thấp đến cao, từ dễ
đến khó. Câu hỏi sau trên cơ sở hiểu biết những câu hỏi trước. Cứ thế các
câu hỏi tạo thành những mắt xích nối tiếp nhau trong một hệ thống vấn đề.
Chính những mắt xích đó hỗ trợ cho nhau để đạt mục đích bài học. Dĩ nhiên,
xây dựng hệ thống câu hỏi cho bài học, người GV phải đảm bảo những yêu
cầu sau.
Thứ nhất là tính vừa sức, không quá dễ cũng không quá khó để HS có
hứng thú tìm tòi nghiên cứu.
Thứ hai, phải đảm bảo tính năng văn học: đi từ nghệ thuật đến nội
dung.
Thứ ba, hệ thống câu hỏi phải liền mạch, hoàn chỉnh, thống nhất giữa
các câu và hợp lí với nhau.
Thứ tư, phải mang tính giáo dục sư phạm.



- Em hãy tìm tình huống độc đáo của truyện?
- Huấn Cao được tác giả miêu tả ra sao? Tính của ông thế nào?
Đây là những câu hỏi chỉ có duy nhất một câu trả lời. Bởi kiến thức
câu hỏi có được từ tác phẩm, rút ra từ điều tác giả viết.
Thông qua cách trả lời của HS về các câu hỏi phát hiện, GV có thể
nhận thấy: HS không trả lời được vì chưa đọc, hay đọc không kĩ tác phẩm.
Câu hỏi đánh giá được phần nào ý thức tự giác tự học của các em. GV có thể
kịp thời uốn nắn. Dĩ nhiên với loại câu hỏi có sẵn này, GV có thể chỉ định
một học sinh nào đó trả lời sau vài giây nêu câu hỏi. Đây được xem như là
một phương thức kiểm tra tính tích cực, chủ động ở các em.
Một trong những điều tối kị trong quá trình dạy học là chỉ định đích
danh HS trả lời câu hỏi. Tuy nhiên, với loại câu hỏi không cần tư duy, thậm
chí chưa cần năng lực khái quát này, thiết nghĩ người GV có thể tạo cho các
em một thói quen, một sự tự tin đứng trước tập thể. Và nữa, qua câu trả lời
của HS, GV có thể sửa cách diễn đạt câu chữ, cách dùng từ ngữ cho các em.
* Câu hỏi yêu cầu tái hiện sự kiện nhân vật
Câu hỏi yêu cầu năng lực tóm tắt, năng lực ghi nhớ, năng lực hệ
thống, thậm chí huy động những kiến thức cơ bản trong cùng một hệ thống
mà các em đã được tiếp nhận trước đó ở trường, hoặc đọc thêm ở nhà.
Ví dụ, dạy Chí Phèo, GV có thể đưa ra những câu hỏi sau:
- Em hãy tóm tắt những sự kiện cơ bản trong tác phẩm?
- Gặp Thị Nở và diễn biến tâm lí của Chí Phéo từ đó được nhà văn
miêu tả ra sao?
- Trong cuộc đời Chí, giai đoạn nào gợi cho em ấn tượng mạnh nhất?
Cũng dựa trên năng lực phát hiện song ở mức cao hơn, HS phải ghi
nhớ một cách hệ thống, khái quát chứ không phải rời rạc, tản mạn như ở câu
hỏi phát hiện.


dẫn dắt HS từng bước thu thập sự kiện, tổng hợp hoá, khái quát hoá. Thì, câu
hỏi phân tích có vai trò thúc đẩy tư duy HS, dồn các em tới chỗ chưa biết và
muốn biết. Từ đó mà vấn đề sáng tỏ.
* Câu hỏi khám phá hình tượng người trần thuật
Người trần thuật dù đứng trên cương vị nào, ở ngôi thứ ba hay thứ
nhất đều có vai trò dẫn dắt cốt truyện. Tuy vậy, hình tượng người trần thuật
không cụ thể sinh động như nhân vật. Thường người trần thuật đứng ở góc
khuất nào đó để quan sát đối tượng, để thể hiện quan điểm cụ thể; có khi
nương tựa vào cái nhìn của nhân vật khác trong khi ngôn ngữ là của mình
(Nam Cao trong Chí Phèo, Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ, Kim Lân trong Vợ
nhặt, Nguyễn Tuân trong Người lái đò Sông Đà), ...
Ví dụ ở tác phẩm Chí Phèo, GV có thể đặt những câu hỏi sau:
- Em hãy xác định ngôi kể và điểm nhìn ở đoạn văn miêu tả Chí Phèo
vừa đi vừa chửi ở đầu tác phẩm?
- Người trần thuật giấu mình, chọn ngôi thứ ba để kể có ý nghĩa gì?
Trả lời các câu hỏi trên, HS không chỉ hiểu được vai trò người trần
thuật trong thể loại truyện kí mà quan trọng hơn các em còn ý thức được sự
hiện diện của nhân vật trong từng tác phẩm, thậm chí từng thời kì đậm nhạt
khác nhau. Quá trình so sánh sự hiện diện của người trần thuật trong tác
phẩm sẽ giúp cho các em thấy ở truyện kí hiện đại dường như càng lúc càng
in đậm dấu ấn tác giả. Nhà văn muốn mình là một nhân tố tham gia, một
khách thể không hiểu hết. Điều này tạo nên mạch tự nhiên, độ tin cậy cao
cho cốt truyện. Kể chuyện ở ngôi thứ nhất vì thế mà rút ngắn được khoảng
cách giữa người đọc và tác phẩm.
Ví dụ dạy Chiếc thuyền ngoài xa, GV hỏi: - Truyện được kể bằng lời
của nhân vật nào? - Chọn ngôi kể như vậy có tác dụng gì trong việc thể hiện
nội dung truyện?


- Nhân vật “tôi”, người kể chuyện có phải là tác giả ngoài đời

Hoặc, câu hỏi cho tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài như sau:
1 Cách nhà văn giải quyết số phận nhân vật Mị, A Phủ có giống với

cách Nam Cao giải quyết số phận nhân vật Chí Phèo hay Hộ không?
1 Có thể lí giải quan điểm này từ góc độ thời đại không?

Dạy những tác phẩm truyện kí sau 1975, GV cần cho HS nắm được
đặc trưng thẩm mĩ của giai đoạn văn học này. Văn học sau 1975 đã chuyển
dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, tư duy thế sự. Tư duy sử thi
hướng ngòi bút của các nhà văn đến trung tâm cốt lõi, những vấn đề mang
tính chất sống còn của dân tộc. Còn tư duy tiểu thuyết, thế sự nghiêng về đời
tư, đời thường, những số phận cá nhân phức tạp, đặc biệt đi sâu vào bên
trong tâm hồn mỗi cá nhân con người trong cuộc sống.
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (thuộc dạng truyện luận đề) đặt ra
mối quan hệ giữa văn học và đời sống. Luận đề ấy được gửi gắm qua bức
ảnh Chiếc thuyền ngoài xa thơ mộng trong trẻo. Nhưng đằng sau là câu
chuyện gia đình phức tạp, là bi kịch của những con người đời thường. Để
làm rõ đặc trưng thẩm mĩ của tác phẩm, GV có thể đi sâu một số vấn đề sau:
Đề tài tác phẩm có gì khác với những tác phẩm em vừa học? Phân tích hình
tượng người vợ, em có rút ra được quan niệm nghệ thuật về con người thay
đổi trong VHVN sau 1975 không? Sự thay đổi đó xuất phát từ sự đổi mới tư
duy nghệ thuật nào trong văn học giai đoạn này? Theo em đó là thành công
hay hạn chế của văn học sau 1975?
Bên cạnh dạng câu hỏi trên, Gv cũng nên đưa ra những câu hỏi bám
sát văn bản, câu hỏi nâng cao, phát triển trí tưởng tưởng cho học sinh như
sau:
* Câu hỏi yêu cầu bám sát văn bản


Ví dụ: - Tiếng chửi đầu truyện của Chí Phèo cho em thấy điều gì?

những suy nghĩ, cảm xúc, những nhận xét đánh giá của mình về cái hay, cái
đẹp của tác phẩm.
- Trình bày những suy nghĩ của em về thái độ nhân vật?
- Em có nhận xét gì về cách vào truyện của tác giả?
Và ở một góc độ cao hơn của cảm nhận chính là những quan điểm
đánh giá và bình luận.
* Câu hỏi yêu cầu bình luận và đánh giá
Những câu hỏi bình luận và đánh giá được GV đưa ra nhằm kiểm tra
khả năng đóng góp ý kiến, sự phán đoán của HS trong việc nhận định, đánh
giá các ý tưởng, sự kiện, nhân vật dựa trên các tiêu chí đã đưa ra.
- Nhân vật hành động như vậy là đúng hay sai?
- Cách nhà văn giả quyết vấn đề như vậy em thấy hợp lí không?
- Nghệ thuật sử dụng ngôn từ của nhà văncó nét gì đặc sắc?
- Nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về nhân vật này, em thì sao?
Những câu hỏi đánh giá có tác dụng thúc đẩy HS tìm tòi tri thức, xác
định giá trị về tác phẩm. GV có thể trực tiếp đưa ra đáp án, tiêu chí đánh giá
và đặt câu hỏi yêu cầu học sinh đánh giá. Và, không chỉ nhận xét, đánh giá,
câu hỏi còn phải hướng đến niềm hứng thú được “nói”, được bàn bạc của
HS. Đó có thể là câu hỏi yêu cầu bàn về thái độ, hành động nhân vật, cách
giải quyết vấn đề của nhà văn, bàn vè mối liên hệ thời đại, hoàn cảnh, tâm lí
với ý nghĩa lớn lao mà từ vấn đề có thể gợi ra.
Câu hỏi đặt ra phù hợp với phương pháp mới là câu hỏi hướng về phát
huy khả năng tư duy sáng tạo của HS: câu hỏi yêu cầu bám sát văn bản, câu
hỏi khêu gợi tưởng tượng và cảm nhận, câu hỏi yêu cầu bình luận và đánh
giá. Tùy theo nội dung từng văn bản truyện kí cụ thể mà có những câu hỏi


phù hợp.
KẾT LUẬN
Dạy học truyện kí hiện đại nhìn chung cũng chịu sự quy định của

SL

12A7

42

0

Tỉ lệ
%
0.0

12A8

40

0

0.0

Khá
SL Tỉ lệ
%
4
9.5
5

12.5

Trung bình


9

22.5

0

0.0

* Kết quả sau khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này như sau


ĩố

Giỏi
SL

12A7

42

1

Tỉ lệ
%
2.4

12A8

40

27

67.5

Kém

6

Tỉ lệ
%
14.2

S
L
0

Tỉ lệ
%
0.0

2

5.0

0

0.0

Nhận xét:
Từ kết quả, sau khi vận dụng các cách thức trên vào giảng dạy chúng tôi

PHẦN VI – LỜI KẾT VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ
1. LỜI KẾT

Muốn đem một tác phẩm đến với người học văn, trước hết
người giáo viên phải nỗ lực tìm tòi, phát huy sáng tạo, từng bước cải
tiến phương pháp dạy học sao cho phù hợp với trình đô của học sinh để
đào tạo được những con người biết tự chủ, sáng tạo nhằm góp phần
thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,


xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Vấn đề đặt câu hỏi trong dạy đọc - hiểu văn bản truyện kí Việt
Nam hiện đại ở trường Trung học phổ thông khi được giáo viên vận
dụng linh hoạt sẽ phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh,
giúp các em phát triển được khả năng diễn đạt , năng lực tư duy, năng
lực cảm nhận tác phẩm.Từ đó học sinh sẽ tự giác tìm tòi, tranh luận tích
cực trong giờ học.
2. NHỮNG KIẾN NGHỊ

1. Đối với nhà trường
- Cần tăng cường sách báo, có đầy đủ các tác phẩm dạy học trong nhà
trường.
- Xây dựng câu lạc bộ thơ văn trong nhà trường
- Giáo viên cần biết giới thiệu, gợi mở cho học sinh đọc những tài liệu
bổ ích góp phần học tốt những tác phẩm trong SGK.
2. Đối với Sở giáo dục và Đào tạo
- Tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề bàn về đổi mới phương pháp giảng
dạy trong chương trình ngữ văn ở trường THPT.
- Tổ chức các đợt tham quan thực tế những đơn vị điển hình tiên tiến để
giáo viên có điều kiện học tập kinh nghiệm.

1.

Nhiều tác giả (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status