1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
Bạo lực học đường không phải là vấn đề mới nhưng thời gian gần đây có
chiều hướng gia tăng, mang tính chất phức tạp. Phần lớn học sinh có ý thức đạo
đức tốt, chủ động tích cực trong học tập và rèn luyện, trở thành con ngoan, trò
giỏi…Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận học sinh chưa nhận thức và có hành vi
đúng đắn, thích thể hiện bản thân một cách thái qúa, thiếu khả năng kiềm chế và
ứng xử. Từ những mâu thuẫn tưởng chừng như hết sức đơn giản nhưng trong
phút chốc những học sinh đang còn ngồi trên ghế nhà trường lại trở thành những
hung thủ của các vụ án mạng nghiêm trọng.
Hiện nay một số học sinh vi phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình
trạng học sinh kết thành băng nhóm bạo hành trong trường học đáng được báo
động. Bạo lực học đường đang trở thành nỗi ám ảnh của toàn xã hội do đó việc
giáo dục đạo đức, nhân cách, kỹ năng sống cho học sinh là việc làm thường
xuyên và cần phải thực hiện bằng nhiều kênh khác nhau. Trong đó, giáo viên chủ
nhiệm đóng một vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức và hình thành
nhân cách cho học sinh. Với thực trạng bạo lực học đường hiện nay, giáo viên
chủ nhiệm cần phải có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn và giúp học sinh trở
thành những con người lao động sáng tạo, làm chủ bản thân, làm chủ đất nước,
có đức có tài.
Xuất phát từ hình hình thực tế, với vai trò là giáo viên chủ nhiệm lớp 12
nhiều năm liền, tôi luôn cố gắng dồn hết công sức, tâm trí để tìm tòi , nghiên
cứu, đưa ra các biện pháp giáo dục thích hợp với học sinh lớp mình chủ
nhiệm ,để rèn luyện, đào tạo các em thành những trò ngoan của trường, những
công dân tốt cho xã hội. Trong giới hạn bài viết này, tôi xin đưa ra một số kinh
nghiệm của bản thân thông qua thực tế làm công tác chủ nhiệm với hy vọng
đóng góp phần nào trong công tác giáo dục đạo đức học sinh và hạn chế tình
trạng bạo lực học đường ở trường THPT có hiệu quả hơn.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò của GVCN lớp trong công tác giáo dục đạo đức, phát triển
nhân cách học sinh để ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường.
- Chức năng giáo dục.
- Chức năng điều chỉnh hành vi của cá nhân, của cộng đồng và là công cụ tự điều
chỉnh mối quan hệ giữa người và người trong xã hội.
- Chức năng phản ánh.
2.1.2. Vị trí và đặc điểm của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
a. Vị trí - ý nghĩa
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học
sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học
sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: của cá nhân với
xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của
cá nhân với chính mình [1].
Trong tất cả các mặt giáo dục đạo đức giữ một vị trí hết sức quan trọng. Vì
Hồ Chủ Tịch đã nêu: “ dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức
là đạo đức Cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức Cách
mạng thì có tài cũng vô dụng ”[1]
Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải có công
phu, kiên trì, nhẫn nại, chịu khó và phải tốn nhiều thời gian công sức để tìm
hiểu; lắng nghe tâm tư nguyện vọng của từng đối tượng học sinh trong lớp. Từ
đó đề ra kế hoạch , phương pháp giáo dục thích hợp cho từng trường hợp.[1]
Vì vậy hiệu quả của công tác chủ nhiệm phụ thuộc rất nhiều, vào các giải
pháp thực hiện liên kết giáo dục, với các tổ chức xã hội , giáo viên bộ môn,
nhằm huy động có hiệu quả tiềm năng của các lực lượng, các tổ chức cá nhân
vào công tác giáo dục đạo đức học sinh . Để làm được điều đó đòi hỏi người
giáo viên chủ nhiệm phải có ý thức trách nhiệm cao, yêu thương học sinh bằng
Trang 2
cả tấm lòng nhân ái của người thầy. Giáo viên chủ nhiệm phải luôn nắm bắt
thông tin, có hiểu biết rộng và không ngừng phải hoàn thiện mình, biết vận động
và lôi kéo mọi người cùng thực hiện mục tiêu giáo dục
cá nhân và duy trì lâu bền thói quen này.
Giáo dục văn hóa ứng xử đúng mực thể hiện sự tôn trọng và quý trọng lẫn
nhau của con người.
b. Những nguyên tắc giáo dục đạo đức cho học sinh.
* Giáo dục theo nguyên tắc tập thể
Nguyên tắc này thể hiện ở cả 3 nội dung: Dìu dắt học sinh trong tập thể để
giáo dục; giáo dục bằng sức mạnh tập thể; giáo dục học sinh tinh thần vì tập thể.
Một lớp học đoàn kết hòa đồng, yêu tập thể, trong tập thể, vì tập thể .Những
phẩm chất tốt đẹp như tinh thần tập thể, tính tổ chức kỷ luật, tình đồng
Trang 3
chí và tình bạn, tinh thần hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, tính khiêm tốn học hỏi
mọi người bao giờ cũng do giáo dục tập thể hình thành.
* Giáo dục bằng cách thuyết phục và phát huy mạnh mẽ tính tự giác của
học sinh
Phải giáo dục đạo đức bằng cách thuyết phục và phát huy tính tự giác của
học sinh, chứ không phải bằng sự cưỡng ép, mệnh lệnh.
Để thực hiện điều này, trước hết người thầy phải tạo uy tín với học sinh:
phải có tác phong nghiêm túc, gương mẫu. Nói và làm đi đôi với nhau. Luôn là
tấm gương sáng cho học sinh noi theo; phải thực hiện đúng những gì đã nói, hứa
với học sinh. Giải quyết sự việc có tình có lý . Không mị học sinh để các em
xem thường; GVCN cũng là giáo viên dạy bộ môn nên phải có chuyên môn
vững vàng. Khi được học sinh tin tưởng, thán phục về chuyên môn thì về lĩnh
vực chủ nhiệm giáo viên sẽ thuận lợi hơn. Phải tôn trọng học sinh: đối với học
sinh THPT, các em đã lớn nên nhận thức hiểu biết sự việc tương đối chín chắn,
do đó người giáo viên phải lắng nghe ý kiến của các em, phải phân tích khuyết
điểm lỗi lầm mà các em mắc phải cho đến khi các em chấp nhận một cách tự
nguyện, có như thế mới sửa sai được . Luôn tạo cơ hội cho học sinh sửa đổi, nắm
được đặc điểm Tâm-Sinh-Lý của học sinh, nắm vững cá tính, hoàn cảnh sống cụ
những mặt tốt, những thành tích của học sinh dù chỉ là những thành tích nhỏ,
dùng những gương tốt của học sinh trong trường và những tấm gương người tốt
việc tốt khác để giáo dục các em.
* Phải tôn trọng nhân cách học sinh, đồng thời đề ra yêu cầu ngày càng
cao đối với học sinh
Muốn xây dựng nhân cách cho học sinh người thầy cần phải tôn trọng nhân
cách các em. Tôn trọng học sinh, thể hiện lòng tin đối với học sinh là một yếu tố
tinh thần có sức mạnh động viên học sinh không ngừng vươn lên rèn luyện hành
vi đạo đức. Khi học sinh tiến bộ về đạo đức cần kịp thời có yêu cầu cao hơn để
thúc đẩy các em vươn lên cao hơn nữa.
Trong công tác giáo dục đòi hỏi người thầy phải yêu thương học sinh nhưng
phải nghiêm với chúng, nếu chỉ thương mà không nghiêm học sinh sẽ nhờn và
ngược lại thì các em sẽ sinh ra sợ sệt, rụt rè, không dám bộc lộ tâm tư tình cảm,
do đó người thầy không thể uốn nắn tư tưởng, xây dựng tình cảm đúng đắn cho
học sinh được.
* Giáo dục đạo đức phải phối hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh THPT
và đặc điểm hoàn cảnh cá nhân học sinh
Công tác giáo dục đạo đức cần phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý của
học sinh THPT là quá độ, phức tạp và nhiều mâu thuẫn để từ đó có hình thức,
biện pháp thích hợp[4]. Cần phải chú ý đến cá tính, giới tính của các em. Đối
với từng em, học sinh nữ, học sinh nam cần có những phương pháp giáo dục
thích hợp, không nên đối xử sư phạm đồng loạt với mọi học sinh. Muốn vậy
người thầy phải sâu sát học sinh, nắm chắc từng em, hiểu rõ cá tính để có những
biện pháp giáo dục phù hợp. tìm hiểu, nắm bắt hoàn cảnh gia đình, năng lực từng
học sinh, học sinh có hoàn cảnh khó khăn … đến việc xử lý tình huống. Đòi hỏi
người thầy luôn nghiêm khắc nhưng độ lượng, bao dung trước những biểu hiện
sai trái của học sinh, đồng thời tích cực tuyên dương khen ngợi khi các em có
những tiến bộ dù là nhỏ; thông cảm chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, giúp đỡ các em
vượt qua khó khăn, dành thời gian để tâm sự và cho các em những lời khuyên
bảo chân tình; tạo được niềm tin động lực cho học sinh phấn đấu hoàn thiện.
đọc sách báo, mời những người có gương phấn đấu tốt đến nói chuyện, nêu
gương tốt của giáo viên và học sinh trong trường.
Trò chuyện với học sinh hoặc nhóm học sinh để khuyến khích động viên những
hành vi cử chỉ đạo đức tốt của các em, khuyên bảo, uốn nắn những mặt chưa tốt.
b. Phương pháp rèn luyện
Là những phương pháp tổ chức cho học sinh hoạt động để rèn luyện cho các
em những thói quen đạo đức, thể hiện được nhận thức và tình cảm đạo đức của
các em thành hành động thực tế [3]:
Rèn luyện thói quen đạo đức thông qua các hoạt động cơ bản của nhà trường:
dạy học trên lớp, lao động, hoạt động đoàn thể và sinh hoạt tập thể.
Rèn luyện đạo đức thông qua các phong trào thi đua trong nhà trường là biện
pháp tác động tâm lý rất quan trọng nhằm thúc đẩy các động cơ kích thích bên
trong của học sinh, làm cho các em phấn đấu vươn lên trở thành người có đạo
đức tốt, vì vậy nhà trường cần tổ chức các phong trào thi đua và động viên học
sinh tham gia tốt phong trào này.
Rèn luyện bằng cách chuyển hướng các hoạt động của học sinh từ hoạt động có
hại sang hoạt động có ích, phương pháp này dựa trên đặc tính ham hoạt động của
các em và được dùng để giáo dục học sinh bỏ một thói hư xấu nào đó bằng cách
gây cho học sinh hứng thú với một hoạt động mới bổ ích, lôi kéo các em ra
ngoài những tác động có hại.
c. Phương pháp thúc đẩy
Là phương pháp dùng những tác động có tính chất “ cưỡng bách đạo đức
bên ngoài ” để điều chỉnh, khuyến khích những “ động cơ kích thích bên trong”
của học sinh nhằm xây dựng đạo đức cho học sinh.[3]
Những nội quy, quy chế trong nhà trường vừa là những yêu cầu với học sinh,
vừa là những điều lệnh có tính chất mệnh lệnh đòi hỏi học sinh tuân theo để có
những hành vi đúng đắn theo yêu cầu của nhà trường.
Khen thưởng: là tán thành, coi trọng, khích lệ những cố gắng của học sinh làm
cho bản thân học sinh đó vươn lên hơn nữa và động viên khuyến khích các em
khác noi theo.[3]
những vụ việc đau lòng và hết sức đáng lo ngại.
• Một số học sinh có những thay đổi đặc biệt, rất dễ mặc cảm, tự ti tự kỉ và cũng
rất dễ nổi loạn thậm chí thích khoe trương quyền lực khi bị bạn bè kích động.
- Về phía gia đình:
• Nhiều gia đình kinh tế khó khăn do đó cha mẹ phải lo kiếm sống không có thời
gian quan tâm và chăm sóc con cái. Mối quan hệ gắn bó giữa bố mẹ và
con cái trở nên xa cách hơn, có ít thời gian để chia sẻ hơn.
• Bên cạnh đó nhiều bậc cha mẹ có tư tưởng khoán trắng việc giáo dục con cái
cho nhà trường. Họ quá bận không có thời gian để trò chuyện với con; quá
nuông chiều thỏa mãn mọi nhu cầu của con và cho rằng thế là đã quan tâm. Họ
không thấy rằng cha mẹ là những người có ảnh hưởng lớn đến con cái trong
gia đình. Một vấn đề quan trọng khác: có gia đình do cha mẹ sống không
gương mẫu, cha mẹ ly hôn; hay buông lỏng giáo dục, phó mặc cho xã hội, cho
nhà trường“ trăm sự nhờ thầy” .
Trang 7
• Nhiều gia đình có bố mẹ, người lớn thiếu gương mẫu, có cách giáo dục thô bạo
đã dẫn đến trẻ có tính cách tiêu cực, dễ bị lôi kéo tham gia vào các vụ việc
đánh nhau tập thể.
- Về phía nhà trường:
• Một số trường hợp người thầy không giữ được tư thế đáng kính trong mối quan
hệ thầy trò.
• Sĩ số học sinh trong một lớp ngày càng đông, sự phân bố học sinh trong các
lớp chưa hợp lý khiến người thầy không thể theo sát học trò, khó can thiệp để
kịp thời ngăn chặn mâu thuẫn.
• Nhiều lúc bộ phận nề nếp giải quyết học sinh vi phạm một cách qua quýt: viết
kiểm điểm, viết nội quy,…giải quyết không thấu tình đạt lý, khiến các em ngại
thổ lộ khi gặp vấn đề, dẫn đến ức chế và phản ứng bằng hành động bạo lực.
hình của lớp thông qua giáo viên chủ nhiệm cũ. Đây là dịp để kiện toàn lại đội
ngũ cán bộ trong lớp, bổ sung những cái chưa làm được và phát huy những mặt
mạnh mà lớp đã có. Từ đó giáo viên chủ nhiệm có thể triển khai dễ dàng kế
hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan dựa trên những bao quát khởi đầu mà giáo
viên chủ nhiệm cũ cung cấp.Tìm hiểu một cách tế nhị học sinh chưa ngoan từ
cán bộ lớp đến cả những em thuộc nhóm của học sinh chưa ngoan để từ đó có kế
hoạch hợp lý và phối hợp với gia đình để giáo dục các em.
Đầu năm học GVCN phải có những thông tin khái quát về gia đình học
sinh như: nơi ở, hoàn cảnh sống, lối sống, hoàn cảnh kinh tế gia đình, giáo dục
của gia đình, sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái, quan hệ của gia đình với
láng giềng. Việc tìm hiểu này sẽ giúp GVCN kết hợp tốt với gia đình trong công
tác giáo dục đạo đức cho học sinh. GVCN phải nắm được đặc điểm học sinh về
sức khỏe, đạo đức, năng lực học tập, động cơ học tập, quan hệ của học sinh với
cha mẹ, ông bà, anh chị em trong gia đình, ở trường với thầy cô và bè bạn, ngoài
xã hội và cộng đồng.
- GVCN phải tìm hiểu cơ cấu, lứa tuổi, năng lực học tập, hoạt động, mối
quan hệ giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, sự đoàn kết của lớp
mình chủ nhiệm.
- Trao đổi với học sinh để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng xu hướng sở thích
của học sinh.
- Trao đổi với giáo viên bộ môn về tình hình của lớp.
- Trao đổi với ban giám hiệu, giáo viên bộ môn, thầy cô giám thị, cha mẹ
học sinh để có thêm những thông tin về đối tượng mà GVCN cần tìm hiểu.
- Thực hiện đầy đủ các loại sổ sách theo quy định, báo cáo trung thực, kịp
thời cho ban giám hiệu về tình hình đạo đức của học sinh.
- Một năm học GVCN đến nhà học sinh ít nhất một lần để nắm thông tin,
thuyết phục cha mẹ học sinh tham gia họp đầy đủ.
- Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình học sinh đúng thời gian quy
- Trong nội dung của mỗi buổi sinh hoạt nên đưa vào một gương điển hình về sự
vượt khó trong học tập, gương thành đạt trong cuộc sống để các em tự suy nghĩ
và vận dụng vào cuộc sống của mình; luôn động viên học sinh tham gia vào các
hoạt động của nhà trường vì đây là sân chơi bổ ích giáo dục cho học sinh biết
sống tập thể, vì mọi người xây dựng lòng tự hào về tập thể lớp trong học sinh
2.3.3. Giáo viên chủ nhiệm với vai trò là cố vấn tổ chức hoạt động tự quản của
tập thể học sinh
- Học sinh THPT là những em ở lứa tuổi đang khẳng định mình, giàu ước
mơ, có khả năng tự quản, tổ chức hoạt động tập thể …Tuy nhiên lứa tuổi chưa
có đủ kinh nghiệm do đó khi thành công thì tự tin quá mức, ngược lại khi thất
bại thì dễ chán nản và không có ý chí vươn lên. Vì vậy chức năng cố vấn có ý
nghĩa giáo dục quan trọng nhất đối với GVCN, về bản chất là sự điều chỉnh, vai
trò định hướng, điều khiển quá trình tự giáo dục của từng học sinh và tập thể học
sinh, phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong giáo dục .
- Bằng nghệ thuật sư phạm, GVCN kích thích tư duy sáng tạo ở học sinh ,
phát năng trí tuệ vốn có của từng em trong học tập, đề xuất các nội dung, các
giải pháp, cách tổ chức hoạt động thực hiện các mục tiêu giáo dục của nhà
trường; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các chuẩn mực đạo đức
qui định.
- GVCN phải quán triệt toàn diện nội dung giáo dục, kế hoạch hoạt động
của lớp, của cán sự lớp chủ nhiệm bao gồm : học tập, rèn luyện đạo đức, văn
hóa, thể dục thể thao, sinh hoạt tập thể, hoạt động chính trị xã hội , quan hệ giao
tiếp …. Diễn ra trong nhà trường và ngoài xã hội.
2.3.4. Giáo viên chủ nhiệm là một nhà tư vấn tâm lý:
Văn hóa học đường không chỉ đòi hỏi học sinh ứng xử có văn hóa với thầy
cô và với các bạn cùng trang lứa, mà còn yêu cầu giáo viên ứng xử có văn hóa,
gương mẫu với học sinh, với đồng nghiệp. Biết lắng nghe những băn khoăn, trăn
trở tâm tình của học sinh . Qua đó, giáo viên gần gũi hiểu được tâm tư, nguyện
Trang 10
2.3.5.2. Mối quan hệ với giáo viên bộ môn :
Tạo điều kiện hình thành mối quan hệ tốt đẹp giữa giáo viên bộ môn và
học sinh: thường xuyên nhắc nhở học sinh tôn trọng tất cả các thầy cô giáo, nhất
là các thầy cô giáo trẻ; kiên quyết xử lý những học sinh vô lễ, thiếu tôn trọng
thầy cô, chây lười trong học tập. Khi được thông báo học sinh vi phạm, GVCN
luôn lắng nghe thông tin từ hai phía mới có hướng giáo dục tốt; tạo điều kiện để
giáo viên bộ môn có thể hiểu được tình hình lớp dẫn đến thông cảm, thương yêu,
đối xử công bằng với học sinh; truyền đạt những nhận xét của giáo viên bộ môn
đến học sinh (khen – chê) để các em rút kinh nghiệm phấn đấu.
2.3.5.3. Mối quan hệ với các thầy cô phụ trách các phòng ban trong trường
Đề xuất với ban giám hiệu để xử lý khi học sinh vi phạm; thường xuyên
trao đổi với thầy cô giám thị để nắm tình hình học sinh lớp mình chủ nhiệm; kết
Trang 11
hợp chặt chẽ với các phòng ban như phòng học vụ để nắm các giấy tờ cần thiết
liên quan đến học sinh của mình, thông báo học sinh bổ túc kịp thời
2.3.5.4. Mối quan hệ với các lực lượng xã hội
- GVCN đề nghị nhà trường cần phối kết hợp với Công an xã để đảm bảo
vấn đề an ninh trường lớp, kịp thời ngăn chặn khi học sinh có những biểu hiện vi
phạm pháp luật, bạo lực học sinh. Mời các đoàn nghệ thuật về biểu diễn tuyên
truyền luật giao thông, phòng chống ma tuý, HIV/AIDS. Mời các đồng chí Công
an về nói chuyện tuyên truyền về tình hình trật tự kỷ cương .
- Phối hợp chặt chẽ với chính quyền, các tổ chức đoàn thể và gia đình để đảm
bảo an ninh trật tự trong trường học.
- Kết hợp với công an xã Tĩnh Hải xử lý kịp thời các mâu thuẫn, ngăn chặn
các biểu hiện, hành vi pháp luật, bạo lực học sinh.
- Kiểm tra ngăn chặn học sinh mang theo vũ khí, đồ chơi nguy hiểm, chất nổ,
chất cháy vào trường học.
2.3.6. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại
luật mà không dành thời gian để định hướng, uốn nắn, giúp học sinh tự giác thực
hiện; đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, phát huy ưu điểm, bồi dưỡng những nhân tố
tích cực để khắc phục những thiếu sót của những nhân tố tiêu cực.
- Cần tạo dư luận đúng đắn trong nhà trường và ngoài xã hội, để “ ủng hộ
cái tốt, phê phán cái xấu”.
- Có lúc cần phải kiên quyết xử lý kỷ luật, bằng những hình thức thích hợp:
đình chỉ học tập hoặc cao hơn…điều mà nhà Giáo dục không muốn, nhưng là
cần thiết để đảm bảo tính nghiêm khắc - kỷ cương của nhà trường, của pháp luật
xã hội đối với những học sinh vi phạm
- Với quá trình sau xử lý: Sau khi xử lý học sinh vi phạm, cần có kế hoạch
theo dõi, phối hợp với phụ huynh học sinh, chính quyền địa phương tạo cho học
sinh phấn đấu sửa chữa khuyết điểm để tiến bộ.
Việc khen thưởng và kỷ luật đối với học sinh được thực hiện đúng đắn sẽ
góp phần tích cực vào việc củng cố và phát triển phong trào thi đua 2 tốt :“ Dạy
tốt – Học tốt” và thực hiện hiệu quả cuộc vận động 2 không: “ Nói không với
tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” trong mỗi nhà trường.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua quá trình thực hiện tôi nhận thấy kết quả giáo dục hai mặt : hạnh kiểm
và học lực của học sinh nâng lên một cách rõ rệt, được nhà trường đánh giá cao.
Học sinh bước đầu có ý thức tốt trong học tập và rèn luyện hạnh kiểm.
Theo thống kê đầu năm :
Líp
12A11
SS
43
XÕp lo¹i
H¹nh
kiÓm
3
7
30
70
Kết quả học lực và hạnh kiểm cuối năm :
Líp
SS
XÕp lo¹i
Tèt
SL
%
12A11
43
H¹nh
32
74
kiÓm
Häc lùc
0
0
Kh¸
TB
SL
- Kết luận
Trước thực trạng đạo đức của học sinh hiện nay có chiều hướng giảm sút
nghiêm trọng, tình trạng bạo lực học đường gia tăng một cách đáng báo động.
Hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải hướng đến thế hệ tương lai với tinh thần
trách nhiệm và tình yêu thương cao cả. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh là
đòi hỏi cấp bách của xã hội do đó ngoài việc dạy chữ cho tốt còn phải lưu tâm,
hết lòng giáo dục các em phát triển toàn diện cả tài lẫn đức, xây dựng cho các
em hoàn thiện những giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế tri thức.
Song để làm tốt điều này trước hết người giáo viên phải vừa như người mẹ
dịu dàng, người thầy nghiêm khắc, người bạn gần gũi, trọng tài phân minh. Phải
làm cho học sinh tôn trọng, kính yêu, tin tưởng, là xây dựng được một tập thể
lớp đoàn kết, gắn bó. Muốn đạt được điều đó, mọi hành động của giáo viên phải
xuất phát từ tình thương yêu học sinh như con em mình, phải giáo dục học sinh
bằng tình cảm. Giáo viên chủ nhiệm phải phát huy được vai trò cố vấn cho học
sinh, phát huy được tính sáng tạo của các em, vai trò chỉ đạo và giám sát chặt
chẽ mọi hoạt động của lớp cùng với sự hỗ trợ đắc lực của ban cán sự lớp.
Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu có hạn, các biện pháp đưa ra chưa có
tính khả thi cao, nhưng ít nhiều nó cũng giúp cho chúng ta hạn chế được tình
trạng bạo lực học đường của học sinh trong giai đoạn hiện nay, giúp cho chúng
ta định hướng lại một số việc cần phải làm trong thời gian sắp tới để góp phần
thành công vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh và hạn chế tình trạng bạo
lực học đường.
- Kiến nghị
Với tuổi đời và tuổi nghề còn non trẻ nên tôi đã gặp một số khó khăn
trong quá trình thực hiện đề tài, nhưng lại là một điều hay vì qua đó tôi trưởng
thành hơn trong nghề nghiệp, đặc biệt trong công tác chủ nhiệm. Bởi vậy năm
học sau tôi xin đề nghị Ban giám hiệu nên khuyến khích giáo viên viết sáng kiến
kinh nghiệm về công tác chủ nhiệm và giáo dục kĩ năng sống vì giáo viên chủ
nhiệm lớp đóng vai trò rất lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách học
6. Bài giảng Tâm lí lứa tuổi học sinh THPT do Ths Nguyễn Thị Vân biên
soạn trên trang web: https://tailieu.vn/doc/bai-giang-tam-ly-hoc-giao-ducchuong-6-gv-nguyen-thi-van-1931544.html
7. Quyết định số 40/2006/QĐ- BGDĐT về việc ban hành quy chế đánh giá
xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT.
8. Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT về việc ban hành điều lệ trường
THCS, trường THPT và trường PT có nhiều cấp học.
DANH MỤC
Trang 16
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trịnh Thị Ngọc Phượng
Chức vụ và đơn vị công tác hiện nay: Giáo viên trường THPT Tĩnh Gia 3
Năm học
Cấp đánh giá Kết quả đánh
TT
Tên đề tài SKKN
đánh giá xếp
xếp loại
giá xếp loại
loại
Xây dựng tập thể học
Ngành GD
1 sinh tự quản ở trường
C
2009-2010
cấp Tỉnh
2
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm………………………………
2
2.2. Thực trạng của công tác giáo dục đạo đức và tình trạng bạo lực học
đường
ở
trường
THPT
Tĩnh
Gia
3.
7
2.3. Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng
bạo
lực
học
đường
8
2.4.
Hiệu
quả
của
sáng
kiến