Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
TRƯỜNG THPT ĐIỂU CẢI
VAI TRÒ CỦA GVCN TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
VÀ HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG
HỌ VÀ TÊN : BÙI THỊ THU VÂN
trang
A. Phần mở đầu..................…………………………………………………. 2
1. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………. 2
2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………… 3
3. Đối tượng nghiên cứu………………………………………… ……... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………………… 3
5. Giới hạn đề tài....................................................................................... 3
6. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 3
7. Thời gian nghiên cứu............................................................................ 3
B. Phần nội dung................................................................................................5
Chương I . Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu..................................... 5
1.1. Đạo đức- chức năng đạo đức ............................................................. 4
1.2. Vị trí và đặc điểm của cơng tác giáo dục đạo đức cho học sinh......... 5
1.3. Cơng tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT................... 6
Chương II . Thực trạng của cơng tác giáo dục đạo đức cho học sinh và
tình trạng bạo lực học đường của trường THPT Điểu Cải……………..12
2.1. Thuận lợi …...................................................................................... 12
2.2. Khó khăn …………………………………………………………. 12
Chương III. Một số biện phápthực hiện …………………………… 15
3.1 Giáo viên cần nắm một số văn bản………………………………… 15
3.2 Vai trò của GVCN trong cơng tác quản lý ……………………… 16
3.3 GVCN với vai trò cố vấn…………………………………………. 17
3.4 GVCN là một nhà tư vấn tâm lý ………………………………… 17
viên chủ nhiệm cần phải có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn và giúp học
sinh trở thành những con người lao động sáng tạo, làm chủ bản thân, làm chủ đất
nước, có đức có tài.
Xuất phát từ hình hình thực tế, với vai trò là giáo viên chủ nhiệm lớp 12
nhiều năm liền, tôi luôn cố gắng dồn hết công sức, tâm trí để tìm tòi , nghiên
cứu, đưa ra các biện pháp giáo dục thích hợp với học sinh lớp mình chủ
nhiệm ,để rèn luyện, đào tạo các em thành những trò ngoan của trường, những
công dân tốt cho xã hội. Trong giới hạn bài viết này, tôi xin đưa ra một số kinh
nghiệm của bản thân thông qua thực tế làm công tác chủ nhiệm với hy vọng
đóng góp phần nào trong công tác giáo dục đạo đức học sinh và hạn chế tình
trạng bạo lực học đường ở trường THPT có hiệu quả hơn.
Bùi Thị Thu Vân
Trường THPT Điểu Cải
Trang 2
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò của GVCN lớp trong công tác giáo dục đạo đức, phát triển
nhân cách học sinh để ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức học sinh và tình trạng bạo lực học
đường ở trường THPT
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề về cơ sở lý luận giáo dục đạo đức, tiến hành
điều tra thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh và tình trạng bạo lực
học đường, phân tích nguyên nhân, tìm ra những yếu tố liên quan đến công tác
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
B. NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Đạo đức- Chức năng của đạo đức
1.1.1. Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn
mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi
ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ người và
người và con người với tự nhiên.
1.1.2. Chức năng đạo đức
Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, đạo đức một
mặt quy định bởi cơ sở hạ tầng, của tồn tại xã hội ; mặt khác nó cũng tác động
tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội đó. Vì vậy, đạo đức có chức
năng to lớn , tác động theo hướng thúc đẩy hoặc kềm hãm phát triển xã hội. Đạo
đức có những chức năng sau:
- Chức năng giáo dục.
- Chức năng điều chỉnh hành vi của cá nhân, của cộng đồng và là công cụ
tự điều chỉnh mối quan hệ giữa người và người trong xã hội.
- Chức năng phản ánh.
1.2. Vị trí và đặc điểm của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
1.2.1. Vị trí - ý nghĩa
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học
sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học
sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: của cá nhân với
xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của
cá nhân với chính mình.
quá trình giáo dục đạo đức không nên dừng lại ở lớp học mà mình được phân
công chủ nhiệm mà nó được thể hiện thông qua tất cả các hoạt động có thể có
trong nhà trường, mọi lúc, mọi nơi, mọi điều kiện có thể .
Đối với học sinh THPT, kết quả của công tác giáo dục đạo đức vẫn còn phụ
thuộc rất lớn vào nhân cách người thầy, gương đạo đức của người thầy sẽ tác
động quan trọng vào việc học tập, rèn luyện của các em .
Để giáo dục đạo đức cho học sinh có hiệu quả, yếu tố tập thể giữ vai trò hết
sức quan trọng. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh chỉ đạt kết quả tốt khi
Bùi Thị Thu Vân
Trường THPT Điểu Cải
Trang 5
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
có sự phối kết hợp chặt chẽ của các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình và
xã hội.
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh đòi hỏi người thầy phải nắm vững các
đặc điểm Tâm-Sinh-Lý lứa tuổi của học sinh, nắm vững cá tính, hoàn cảnh sống
cụ thể của từng em để định ra sự tác động thích hợp.
1.3. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT
1.3.1 Những nhiệm vụ của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
Để hình thành phẩm chất đạo đức và nhân cách cho học sinh đòi hỏi người
giáo viên chủ nhiệm phải thực hiện như sau:
Hình thành cho học sinh ý thức các hành vi ứng xử của bản thân phải phù
hợp với lợi ích xã hội; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các
chuẩn mực đạo đức được quy định.
Biến kiến thức đạo đức thành niềm tin, nhu cầu của mỗi cá nhân để đảm
tấm gương sáng cho học sinh noi theo; phải thực hiện đúng những gì đã nói, hứa
với học sinh. Giải quyết sự việc có tình có lý . Không mị học sinh để các em
xem thường ; GVCN cũng là giáo viên dạy bộ môn nên phải có chuyên môn
vững vàng. Khi được học sinh tin tưởng , thán phục về chuyên môn thì về lĩnh
vực chủ nhiệm giáo viên sẽ thuận lợi hơn . Phải tôn trọng học sinh : đối với học
sinh THPT, các em đã lớn nên nhận thức hiểu biết sự việc tương đối chín
chắn,do đó người giáo viên phải lắng nghe ý kiến của các em , phải phân tích
khuyết điểm lỗi lấm mà các em mắc phải cho đến khi các em chấp nhận một
cách tự nguyện , có như thế mới sửa sai được . Luôn tạo cơ hội cho học sinh sửa
đổi , nắm được đặc điểm Tâm-Sinh-Lý của học sinh, nắm vững cá tính, hoàn
cảnh sống cụ thể của từng em để có thể lường trước những phản ứng bộc phát
của các em để có biện pháp uốn nắn kịp thời ; nắm được thủ lĩnh của nhóm học
sinh cá biệt để có biện pháp giáo dục đạt hiệu quả , công bằng trong cư xử .
Trách phạt phải đúng tội đúng người và được dư luận học sinh của lớp
đồng tình; trong nội dung của mỗi buổi sinh hoạt lớp nên đưa vào một gương
điển hình về sự vượt khó trong học tập, gương thành đạt trong cuộc sống để các
em tự suy nghĩ và vận dụng vào cuộc sống của mình ; luôn động viên học sinh
tham gia vào các hoạt động của nhà trường vì đây là sân chơi bổ ích giáo dục
cho học sinh biết sống tập thể , vì mọi người xây dựng lòng tự hào về tập thể lớp
trong học sinh : nêu bật những mặt tốt mà các em đã làm trong thời gian qua ;
đồng thời phê phán những khuyết điểm đấy lùi còn tồn tại. từ đó các em sẽ ra
sức phấn đấu , giữ gìn kỷ luật nề nếp , ra sức học tập vì bản thân , gia đình và tập
Bùi Thị Thu Vân
Trường THPT Điểu Cải
Trang 7
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
Trường THPT Điểu Cải
Trang 8
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
do đó người thầy không thể uốn nắn tư tưởng, xây dựng tình cảm đúng đắn cho
học sinh được.
1.3.2.5.Giáo dục đạo đức phải phối hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh
THPT và đặc điểm hoàn cảnh cá nhân học sinh
Công tác giáo dục đạo đức cần phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý của
học sinh THPT là quá độ, phức tạp và nhiều mâu thuẩn để từ đó có hình thức,
biện pháp thích hợp. Cần phải chú ý đến cá tính, giới tính của các em. Đối với
từng em, học sinh nữ, học sinh nam cần có những phương pháp giáo dục thích
hợp, không nên đối xử sư phạm đồng loạt với mọi học sinh. Muốn vậy người
thầy phải sâu sát học sinh, nắm chắc từng em, hiểu rõ cá tính để có những biện
pháp giáo dục phù hợp. tìm hiểu, nắm bắt hoàn cảnh gia đình, năng lực từng học
sinh, học sinh có hoàn cảnh khó khăn … đến việc xử lý tình huống. Đòi hỏi
người thầy luôn nghiêm khắc nhưng độ lượng, bao dung trước những biểu hiện
sai trái của học sinh, đồng thời tích cực tuyên dương khen ngợi khi các em có
những tiến bộ dù là nhỏ; thông cảm chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, giúp đỡ các em
vượt qua khó khăn, dành thời gian để tâm sự và cho các em những lời khuyên
bảo chân tình; tạo được niềm tin động lực cho học sinh phấn đấu hoàn thiện.
1.3.2.6.Trong công tác giáo dục đạo đức, người thầy cần phải có nhân
cách mẫu mực và phải đảm bảo sự thống nhất giữa các các ảnh hưởng giáo dục
đối với học sinh
Kết quả công tác giáo dục đạo đức học sinh trong trường THPT phụ thuộc
rất lớn vào nhân cách của người thầy. Hình ảnh người thầy ảnh hưởng không
Là những phương pháp tổ chức cho học sinh hoạt động để rèn luyện cho các
em những thói quen đạo đức, thể hiện được nhận thức và tình cảm đạo đức của
các em thành hành động thực tế:
- Rèn luyện thói quen đạo đức thông qua các hoạt động cơ bản của nhà
trường: dạy học trên lớp, lao động, hoạt động đoàn thể và sinh hoạt tập thể.
- Rèn luyện đạo đức thông qua các phong trào thi đua trong nhà trường là
biện pháp tác động tâm lý rất quan trọng nhằm thúc đẩy các động cơ kích thích
bên trong của học sinh, làm cho các em phấn đấu vươn lên trở thành người có
đạo đức tốt, vì vậy nhà trường cần tổ chức các phong trào thi đua và động viên
học sinh tham gia tốt phong trào này.
- Rèn luyện bằng cách chuyển hướng các hoạt động của học sinh từ hoạt
động có hại sang hoạt động có ích, phương pháp này dựa trên đặc tính ham hoạt
động của các em và được dùng để giáo dục học sinh bỏ một thói hư xấu nào đó
Bùi Thị Thu Vân
Trường THPT Điểu Cải
Trang 10
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
bằng cách gây cho học sinh hứng thú với một hoạt động mới bổ ích, lôi kéo các
em ra ngoài những tác động có hại.
1.3.3 .Phương pháp thúc đẩy
Là phương pháp dùng những tác động có tính chất “ cưỡng bách đạo đức
bên ngoài ” để điều chỉnh, khuyến khích những “ động cơ kích thích bên trong”
của học sinh nhằm xây dựng đạo đức cho học sinh.
- Những nội quy, quy chế trong nhà trường vừa là những yêu cầu với học
• Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sắc của ban giám hiệu nhà trường, sự phối kết
hợp, hỗ trợ kịp thời của Đoàn thanh niên , ban quản sinh cùng ban thi đua nhà
trường.
• Đội ngũ giáo viên bộ môn có chuyên môn vững vàn, giảng dạy nhiệt tình và
giàu lòng thương yêu học sinh.
• Được sự phối hợp chặt chẽ và giúp đỡ nhiệt tình của hội phụ huynh.
• Đa số học sinh ngoan ngoãn , lễ phép. Tích cực tham gia trong các trong trào
thi đua của Đoàn, hội chữ thập đỏ….
2.2.Khó khăn:
- Về phía học sinh:
• Một số học sinh chán nản hoàn cảnh gia đình, mê các trò chơi không lành
mạnh và xem các phim bạo lực, bị bạn bè xấu lôi kéo.
• Sự phát triển thiếu toàn diện, thiếu khả năng kiểm soát hành vi ứng xử của
bản thân, non nớt trong kỹ năng sống, sai lệch trong quan điểm sống từ đó gây
nên những vụ việc đau lòng và hết sức đáng lo ngại.
• Một số học sinh có những thay đổi đặc biệt, rất dễ mặc cảm, tự ti tự kỉ và
cũng rất dễ nổi loạn thậm chí thích khoe trương quyền lực khi bị bạn bè kích
động.
- Về phía gia đình:
Bùi Thị Thu Vân
Trường THPT Điểu Cải
Trang 12
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
• Nhiều gia đình kinh tế khó khăn do đó cha mẹ phải lo kiếm sống không có
thời gian quan tâm và chăm sóc con cái. Mối quan hệ gắn bó giữa bố mẹ và
Trang 13
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
• Những hạn chế tác động xấu từ môi trường của thời kỳ “mở cửa, hội nhập”,
những “tư tưởng văn hóa xấu, ngoại lai”, mặt trái của cơ chế thị trường….có cơ
hội xâm nhập. Đây đó, còn có những hiện tượng suy thoái về đạo đức. Các tệ
nạn xã hội có nơi có lúc đã xâm nhập vào trường học.
• Sự thờ ơ, dửng dưng, buông xuôi, chưa có sự quan tâm đúng mức, cụ thể hiếm
có người lớn nào quan tâm thắc mắc xem vì sao học sinh lại đi lang thang trong
giờ học, các em học sinh đánh nhau người lớn cũng chỉ đứng nhìn…sự vô cảm
của người lớn đã biến các em chỉ thích sử dụng hình thức bạo lực.
Từ những nguyên nhân trên đây dẫn đến tình trạng bạo lực học đường
ngày càng gia tăng, đạo đức học sinh càng ngày càng giảm sút, tình trạng học
sinh bỏ học đến mức đáng báo động.
Đó là nỗi trăn trở của tôi cũng như các đồng nghiệp và của toàn xã hội.
Mặc dù chúng tôi đã luôn tìm đủ mọi phương pháp để giáo dục cho từng đối
tượng học sinh. Nhưng kết quả chưa khả quan như những gì chúng tôi mong đợi
từ phía học sinh . Qua thời gian suy ngẫm và nghiên cứu với vai trò là giáo viên
chủ nhiệm nhiều năm tôi đã rút ra một số biện pháp cần thiết trong việc giáo dục
đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường.
Bùi Thị Thu Vân
Trường THPT Điểu Cải
Trang 14
Bùi Thị Thu Vân
Trường THPT Điểu Cải
Trang 15
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
- Trao đổi với ban giám hiệu, giáo viên bộ môn, thầy cô giám thị, cha mẹ
học sinh để có thêm những thông tin về đối tượng mà GVCN cần tìm hiểu.
- Thực hiện đầy đủ các loại sổ sách theo quy định, báo cáo trung thực, kịp
thời cho ban giám hiệu về tình hình đạo đức của học sinh.
- Một năm học GVCN đến nhà học sinh ít nhất một lần để nắm thông tin,
thuyết phục cha mẹ học sinh tham gia họp đầy đủ.
- Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình học sinh đúng thời gian quy
định, xử lý thông tin phản hồi kịp thời, có hiệu quả.
- Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo léo, liên hệ với cha mẹ
học sinh để giải quyết mau lẹ, có hiệu quả.
- GVCN phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ, trau dồi đạo đức nhà
giáo để xứng đáng là tấm gương tốt cho học sinh noi theo.
Biện pháp 2: GVCN không ngừng cải tiến các tiết sinh hoạt chủ nhiệm hàng
tuần và các hoạt động tập thể thông qua đó để nắm bắt diễn biến tâm lý
học sinh, từ đó có biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh hiệu quả hơn.
- Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học
sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học
sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: của cá nhân với
xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của
cá nhân với chính mình.
quản của tập thể học sinh
- Học sinh THPT là những em ở lứa tuổi đang khẳng định mình, giàu ước
mơ, có khả năng tự quản, tổ chức hoạt động tập thể …Tuy nhiên lứa tuổi chưa
có đủ kinh nghiệm do đó khi thành công thì tự tin quá mức, ngược lại khi thất
bại thì dễ chán nản và không có ý chí vươn lên. Vì vậy chức năng cố vấn có ý
nghĩa giáo dục quan trọng nhất đối với GVCN, về bản chất là sự điều chỉnh, vai
trò định hướng, điều khiển quá trình tự giáo dục của từng học sinh và tập thể học
sinh, phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong giáo dục .
- Bằng nghệ thuật sư phạm, GVCN kích thích tư duy sáng tạo ở học sinh ,
phát năng trí tuệ vốn có của từng em trong học tập, đề xuất các nội dung, các
giải pháp, cách tổ chức hoạt động thực hiện các mục tiêu giáo dục của nhà
trường; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các chuẩn mực đạo đức
qui định.
- GVCN phải quán triệt toàn diện nội dung giáo dục, kế hoạch hoạt động
của lớp, của cán sự lớp chủ nhiệm bao gồm : học tập, rèn luyện đạo đức, văn
hóa, thể dục thể thao, sinh hoạt tập thể, hoạt động chính trị xã hội , quan hệ giao
tiếp …. Diễn ra trong nhà trường và ngoài xã hội.
Bùi Thị Thu Vân
Trường THPT Điểu Cải
Trang 17
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
Biện pháp 4: Giáo viên chủ nhiệm là một nhà tư vấn tâm lý :
Văn hóa học đường không chỉ đòi hỏi học sinh ứng xử có văn hóa với thầy
cô và với các bạn cùng trang lứa, mà còn yêu cầu giáo viên ứng xử có văn hóa,
gương mẫu với học sinh, với đồng nghiệp. Biết lắng nghe những băn khoăn, trăn
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp (qua giấy thông báo) vói GVCN hay thầy cô giám
thị .
Để tiếp xúc với cha mẹ học sinh thì phải thông qua thư mời nên thư mời
phải viết đàng hoàng, có bao thư , có mộc của nhà trường để cha mẹ học sinh
thấy được nhà trường tôn trọng; chuẩn bị tốt về nội dung cần trao đổi , chính
xác, rõ ràng, cụ thể. Có như thế, cha mẹ thấy được GVCN đã quan tâm sâu sắc
đến con mình từ đó yên tâm, tin tưởng GVCN, tin tưởng nhà trường.
5.2.Mối quan hệ với giáo viên bộ môn :
Tạo điều kiện hình thành mối quan hệ tốt đẹp giữa giáo viên bộ môn và
học sinh: thường xuyên nhắc nhở học sinh tôn trọng tất cả các thầy cô giáo , nhất
là các thầy cô giáo trẻ; kiên quyết xử lý những học sinh vô lễ , thiếu tôn trọng
thầy cô, chây lười trong học tập. Khi được thông báo học sinh vi phạm, GVCN
luôn lắng nghe thông tin từ hai phía mới có hướng giáo dục tốt ; tạo điều kiện
để giáo viên bộ môn có thể hiểu được tình hình lớp dẫn đến thông cả , thương
yêu, đối xử công bằng với học sinh; truyền đạt những nhận xét của giáo viên bộ
môn đến học sinh (khen – chê) để các em rút kinh nghiệm phấn đấu .
5.3.Mối quan hệ với các thầy cô phụ trách các phòng ban trong trường
Đề xuất với ban giám hiệu để xử lý khi học sinh vi phạm ; thường xuyên
trao đổi với thầy cô giám thị để nắm tình hình học sinh lớp mình chủ nhiệm ; kết
hợp chặt chẽ với các phòng ban như phòng học vụ để nắm các giấy tờ cần thiết
liên quan đến học sinh của mình , thông báo học sinh bổ túc kịp thời
5.4.Mối quan hệ với các lực lượng xã hội
- GVCN đề nghị nhà trường cần phối kết hợp với Công an xã để đảm bảo
vấn đề an ninh trường lớp, kịp thời ngăn chặn khi học sinh có những biểu hiện vi
phạm pháp luật, bạo lực học sinh. Mời các đoàn nghệ thuật về biểu diễn tuyên
truyền luật giao thông, phòng chống ma tuý, HIV/AIDS. Mời các đồng chí Công
an về nói chuyện tuyên truyền về tình hình trật tự kỷ cương .
lợi chính đáng cho học sinh.
7.1. Đánh giá một quá trình “ nghiêm túc - khoa học” . Hãy đánh gía đúng khả
năng học tập, rèn luyện của học sinh; đừng vì “ Bệnh thành tích thi đua, tỷ lệ yếu kém”
… mà làm qua loa, bình quân trong đánh gía xếp loại học sinh .
7.2.Với những học sinh cá biệt cần quan tâm, thường xuyên theo dõi và liên
lạc chặt chẽ với PHHS để có biện pháp giáo dục kịp thời. Cần có những biện
pháp cứng rắn kiên quyết, đồng thời phải gần gũi, tìm hiểu hoàn cảnh để giúp
các em tránh những suy nghĩ lệch lạc về bản thân, tạo niềm tin, chỗ dựa tinh
thần cho các em phấn đấu sửa chữa, vươn lên thành người tốt.
7.3. Với quá trình xử lý: Cần thực hiện đúng nội dung Thông tư số: 08/
TT ngày 21/03/1988 của Bộ GD & ĐT Hướng dẫn về việc khen thưởng và thi
hành kỷ luật học sinh, đảm bảo nguyên tắc cơ bản :
Bùi Thị Thu Vân
Trường THPT Điểu Cải
Trang 20
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
Phải tiến hành“ Kịp thời, chính xác, công bằng, đúng trình tự quy định “;
lấy giáo dục làm chính, tránh xu hướng chỉ xử lý phát hiện những sai trái và kỷ
luật mà không dành thời gian để định hướng, uốn nắn, giúp học sinh tự giác thực
hiện; đồng thời giữ nghiêm kỷ luật, phát huy ưu điểm, bồi dưỡng những nhân tố
tích cực để khắc phục những thiếu sót của những nhân tố tiêu cực.
Cần tạo dư luận đúng đắn trong nhà trường và ngoài xã hội, để “ủng hộ cái
tốt, phê phán cái xấu”.
- Có lúc cần phải kiên quyết xử lý kỷ luật, bằng những hình thức thích hợp:
Trường THPT Điểu Cải
Trang 21
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
D. PHẦN KẾT LUẬN
Trước thực trạng đạo đức của học sinh hiện nay có chiều hướng giảm sút
nghiêm trọng, tình trạng bạo lực học đường gia tăng một cách đáng báo động.
Hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải hướng đến thế hệ tương lai với tinh thần
trách nhiệm và tình yêu thương cao cả. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh là
đòi hỏi cấp bách của xã hội do đó ngoài việc dạy chữ cho tốt còn phải lưu tâm,
hết lòng giáo dục các em phát triển toàn diện cả tài lẫn đức, xây dựng cho các
em hoàn thiện những giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế tri thức.
Song để làm tốt điều này trước hết người giáo viên phải vừa như người mẹ
dịu dàng, người thầy nghiêm khắc, người bạn gần gũi, trọng tài phân minh. Phải
làm cho học sinh tôn trọng, kính yêu, tin tưởng, là xây dựng được một tập thể
lớp đoàn kết, gắn bó. Muốn đạt được điều đó, mọi hành động của giáo viên phải
xuất phát từ tình thương yêu học sinh như con em mình, phải giáo dục học sinh
bằng tình cảm. Giáo viên chủ nhiệm phải phát huy được vai trò cố vấn cho học
sinh, phát huy được tính sáng tạo của các em, vai trò chỉ đạo và giám sát chặt
chẽ mọi hoạt động của lớp cùng với sự hỗ trợ đắc lực của ban cán sự lớp. Bên
cạnh đó giáo dục đạo đức học sinh còn phụ thuộc vào những vấn đề cơ bản về
giáo dục đạo đức như sau:
Con đường dạy học các môn học trong và ngoài nhà trường
Con đường hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường.
Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu có hạn, các biện pháp đưa ra chưa có
tính khả thi cao, nhưng ít nhiều nó cũng giúp cho chúng ta hạn chế được tình
Trường THPT Điểu Cải
Trang 23
Vai trò của GVCN trong việc giáo dục đạo đức và hạn chế tình trạng bạo lực học đường
Bùi Thị Thu Vân
Trường THPT Điểu Cải
Trang 24