MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU………………………………………………………………
1.1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………….
1.2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………..
1.3. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………….
1.4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………
1.4.1. Phương pháp lí luận……………………………………………………….
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn………………………………………
1.4.3. Thực nghiệm sư phạm………………………………………………………
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm…………………………….
2. NỘI DUNG………………………………………………………………
2.1. Cơ sở lí luận……………………………………………………………
2.1.1. Khái niệm bản đồ…………………………………………………………
2.1.2. Ý nghĩa và tầm quan trọng của biểu đồ………………………………
2.2. Thực trạng………………………………………………………………
2.3. Các giải pháp thực hiện………………………………………………...
2.3.1. Dựa vào hệ thống các biểu đồ Địa lí…………………………………….
2.3.2. Dựa vào tài liệu……………………………………………………………
2.3.3. Các biện pháp tổ chức thực hiện…………………………………………
2.4. Kết quả nghiên cứu……………………………………………………
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ……………………………………………….
3.1. Kết luận…………………………………………………………………
3.2. Kiến nghị……………………………………………………………….
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………
PHỤ LỤC
1
1
1
1
2
:
:
:
:
:
:
trung học phổ thông
tốt nghiệp trung học phổ thông
Giáo dục và đào tạo
ví dụ
trung bình
số lượng
2
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Cùng với các loại bản đồ, biểu đồ đã trở thành một kênh hình không thể
thiếu trong môn Địa Lý. Có thể nói biểu đồ là một trong những "ngôn ngữ đặc
thù" của khoa học địa lý. Chính vì vậy, kỹ năng thể hiện biểu đồ là một yêu cầu
cần thiết đối với học sinh trong việc học tập môn Địa lý.
Thực tế qua mấy năm giảng dạy, tôi nhận thấy kỹ năng biểu hiện biểu đồ
Địa lý của học sinh chưa đạt hiệu quả cao, chưa đảm bảo được 3 yêu cầu: khoa
học, trực quan, thẩm mỹ. Vì thế, qua các kỳ kiểm tra, thi tốt nghiệp THPT, các
kỳ thi học sinh giỏi cấp THPT cũng như kỳ thi tuyển vào các trường Cao đẳngĐại học, điểm làm bài thực hành của học sinh thường thấp do kỹ năng thực hành
của các em còn yếu.
Mặt khác, hiện nay trong các nhà trường THPT nói chung nhà trường
THPT Triệu sơn I nói riêng chưa có tài liệu quy định tính thống nhất về tiêu
+ Tìm hiểu thực trạng của quá trình dạy các chuyên đề về các dạng biểu
đồ trong ôn thi TN THPT quốc gia và bồi dưỡng học sinh giỏi địa lí trường
THPT Triệu Sơn 1, từ đó đề xuất vấn đề cần nghiên cứu.
+ Trao đổi, tổng kết kinh nghiệm về kĩ năng lựa chọn biểu đồ với các
đồng nghiệp trong tổ chuyên môn.
1.4.3. Thực nghiệm sư phạm.
+ Mục đích: nhằm xác định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, tính
hiệu quả của các nội dung đề xuất.
+ Phương pháp xử lí thông tin: Dùng phương pháp thu thập thông tin;
phương pháp thống kê, xử lí số liệu; phương pháp điều tra thực tế…
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Đề tài nghiên cứu này dựa trên kết quả nghiên cứu của bản thân từ những
năm trước đó, kế thừa đề tài “Dấu hiệu nhận biết một số dạng biểu đồ cơ bản”
và phát triển thành đề tài “Kĩ năng nhận biết một số dạng biểu đồ cơ bản trong
môn địa lí ở trường THPT”. Điểm mới trong đề tài này là đi sâu vào đối tượng
và phương pháp nghiên cứu. Đề tài lược bỏ bớt những dạng biểu đồ ít gặp trong
địa lí ở các trường THPT.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận.
4
2.1.1. Khái niệm biểu đồ.
Biểu đồ là một hình vẽ có tính trực quan cao, cho phép mô tả:
- Động thái phát triển của một hiện tượng địa lý như: “Biểu đồ về tình
hình phát triển dân số nước ta qua các năm …”
- Thể hiện tỷ lệ cơ cấu thành phần trong một tổng thể hoặc nhiều tổng thể
có cùng một đại lượng: “ Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp…”
- Thể hiện quy mô, độ lớn của một đại lượng nào đó như: “Biểu đồ diện
tích giao trồng công nghiệp hàng năm và cây công nghiệp lâu năm ở nước ta…”
2.2. Thực trạng.
- Thực tế trong quá trình giảng dạy bộ môn Địa lý, trong những giờ thực
hành trên lớp chúng tôi chú trọng hướng dẫn rèn luyện kỹ năng thực hành nhiều
cho học sinh, đặc biệt kỹ năng nhận biết, lựa chọn dạng biểu đồ thích hợp nhất.
Trong các bài kiểm tra chúng tôi thường cho câu hỏi thực hành chiếm 1/3 số
điểm bài. Nhưng kết quả cho thấy kỹ năng thể hiện biểu đồ của học sinh còn
yếu. Đặc biệt có số học sinh còn lựa chọn sai dạng biểu đồ hoặc lựa chọn dạng
biểu đồ chưa hợp lý nên chưa đảm bảo được 3 yêu cầu, tính khoa học, trực quan,
thẩm mỹ.
- Việc thể hiện được kỹ năng biểu đồ của học sinh phần lớn do học sinh
theo khối C rèn luyện nhiều, gặp nhiều dạng câu hỏi thực hành đó nên làm được.
Thực tế, các em học sinh chưa có kiến thức hiểu biết nhiều về việc dựa vào câu
hỏi thực hành rồi có thể xác định, lựa chọn được ngay dạng biểu đồ thích hợp.
Như vậy, nếu là học sinh không theo chuyên ban C thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn
trong việc chọn đúng dạng biểu đồ.
- Trong năm học 2016 – 2017 tôi trực tiếp giảng dạy các lớp 10B1, 10B2,
10B8. Trong quá trình giảng dạy tôi đã tiến hành kiểm tra kỹ năng thể hiện biểu
đồ, trong đó tôi chú trọng vào việc hướng dẫn “Kĩ năng nhận biết một số dạng
biểu đồ cơ bản trong môn địa lí ở trường THPT” lựa chọn dạng biểu đồ thích
hợp của học sinh khi gặp câu hỏi thực hành, kết quả như sau:
6
Năm học 2016 - 2017.
Điểm
Lớp
Giỏi
Khá
TB
0
0
16 39,0
21 50,0
5
11,0
0
0
Trong tỷ lệ chung của kỹ thuật thể hiện biểu đồ địa còn thấp, thì tỷ lệ học
sinh lựa chọn sai dạng biểu đồ còn chiếm tỉ lệ tương đối cao.
Chưa thích hợp
SL
%
SL
%
SL
%
10B1/44
22
50.0
10
22.7
12
27.3
10B2/40
16
40.0
12
30.0
12
Yêu cầu thể hiện
Loại biểu đồ
Dạng biểu đồ chủ yếu
I- Thể hiện tiến trình Biểu đồ đường 1- Biểu đồ một đường biểu diễn
động thái phát triển của biểu
các hiện tượng theo thị)
diễn
(đồ 2- Biểu đồ nhiều đường biểu
diễn (có cùng một đại lượng).
7
chuỗi thời gian
3- Biểu đồ nhiều đường biểu
diễn
(có 2 đại lượng khác nhau).
4- Biểu đồ đường chỉ số phát
II- Thể hiện quy mô, Biểu đồ hình cột
triển.
1- Biểu đồ một dãy cột đơn
khối lượng của một đại
2- Biểu đồ 2,3... cột gộp nhóm
thành phần trong một tròn
2- 2 đến 3 biểu đồ hình tròn
tổng thể và quy mô của
(kích thước bằng nhau)
đối tượng cần trình bày.
3- 2 đến 3 biểu đồ hình tròn
V- Thể hiện quy mô và Biểu đồ cột
(kích thước khác nhau).
1- Biểu đồ một cột chồng
cơ cấu thành phần trong chồng
2- Biểu đồ 2-3... cột chồng (cùng
một hay nhiều tổng thể.
VI- Thể hiện đồng thời Biểu đồ miền
một đại lượng).
1- Biểu đồ "chồng nối tiếp"
cả 2 mặt: cơ cấu và
loại bút, thước...).
Để có những kỹ năng trên, chúng ta không chỉ cần hiểu về lý thuyết mà
phải thực hành nhiều.
Trong phạm vi đề tài này tôi chỉ nghiên cứu sâu về kỹ năng lựa chọn loại
biểu đồ thích hợp.
* Kỹ năng lựa chọn được biểu đồ thích hợp.
- Khi đọc bài thực hành câu hỏi về vẽ biểu đồ thường có 3 thành phần đó là:
+ Lời dẫn: (đặt vấn đề)
+ Bảng số liệu thống kê (bằng tỷ lệ % hay số tuyệt đối) và danh số như:
triệu ha, triệu tấn, tỷ đồng...năm...).
+ Lời kết, nêu yêu cầu cụ thể cần làm.
Để chọn biểu đồ, ta tiến hành khai thác từng phần trên
a- Tìm hiểu lời dẫn để chọn loại biểu đồ.
Trong các câu hỏi thực hành về biểu đồ thường có các lời dẫn theo 3
dạng sau:
a1- Lời dẫn chỉ định - xác định ngay loại biểu đồ phải vẽ.
9
VD: " Vẽ biểu đồ hình cột thể hiện cơ cấu vận tải hàng hoá và hành
khách năm 1997...".
100
80
60
40
20
0
1
60
50
40
30
20
10
0
sè d©n
1921
1936
1954
1961
1970
1980
1989
1999
Năm
- Nếu yêu cầu của bài thực hành thể hiện động thái phát triển của hai đối
tượng khác nhau nhưng có cùng một đại lượng và cùng phát triển cùng một
100
80
Sè d©n
60
40
S.lîng lóa
20
0
198219841986198819901992199419961999
Năm
- Nếu trong trường hợp bài cần thể hiện sự phát triển của 3 đối tượng trở
lên với các đại lượng khác nhau. Ta chọn dạng biểu đồ 3 đường chỉ số phát triển.
Khi đó ta phải chuyển số liệu giá trị tuyệt đối thành chỉ số phát triển theo tỷ lệ
(%).
VD: Vẽ trên cùng 1 hệ trục toạ độ 3 đường biểu diễn sự gia tăng của diện
tích, sản lượng, năng suất lúa cả năm trong thời gian 1975-2000.
400
300
200
100
0
1975
20
15
S¶n lîng lóa
10
5
0
1976
1980
1985
1990
1995
1996
Năm
- Nếu yêu cầu của bài thể hiện sự diễn biến về quy mô khối lượng của một
số đối tượng có cùng một đại lượng và có một mối quan hệ đối chứng nhau. Ta
chọn dạng biểu đồ cột đơn gộp nhóm của các đối tượng cùng đại lượng.
VD: Vẽ biểu đồ thích hợp về tình hình diện tích trồng cây lâu năm và
hàng năm từ 1975-1999:
13
100
0
1985
1990
1999
Năm
- Nếu yêu cầu của bài so sánh tương quan về quy mô khối lượng của
nhiều đối tượng trong một thời điểm ta chọn dạng biểu đồ cột đơn gộp nhiều đối
tượng trong 1 thời điểm.
VD: " Hãy vẽ trên cùng một biểu đồ sự phân hoá về thu nhập bình quân
đầu người của cả nước, đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ theo số liệu..."
14
800
600
Trung b×nh
400
GiÇu
200
0
1
2
3
4
16
- Nếu bảng số liệu có từ 3 đối tượng trở lên với các đại lượng khác nhau
(như "tấn", "ha", "mét"...) diễn biến theo thời gian. Ta cần chọn vẽ biểu đồ chỉ
số.
400
300
200
100
0
1
2
3
4
3
4
+ Vẽ biểu đồ miền: Khi trên bảng số liệu, các đối tượng trải qua trên 3
thời điểm, ta không vẽ biểu đồ hình tròn mà chuyển sang vẽ biểu đồ miền sẽ hợp
lý hơn.
100
80
60
40
20
0
1
2
3
4
c- Căn cứ vào yêu cầu trong lời kết của câu hỏi để lựa chọn biểu đồ.
- Trong nhiều trường hợp nội dung lời kết của câu hỏi lại gợi ý yêu cầu vẽ
một loại biểu đồ cụ thể nào đó.
VD: Sau khi nêu lời dẫn và đưa ra bảng thống kê, câu hỏi ghi tiếp" Anh,
chị hãy vẽ biểu đồ thích hợp và nêu nhận xét về sự chuyển dịch cơ cấu tổng sản
phẩm trong nước và nước ngoài...".
- Hệ thống biểu đồ có nhiều loại, mỗi loại có một số dạng riêng. Các dạng
Giỏi
SL
%
10 25,0
7
15,9
10 23,8
SL
5
6
6
Khá
SL
%
27 67,5
33 75,0
28 66,7
%
12,5
13,6
14,3
Điểm
TB
SL
%
3
7,5
Sau 1 năm nghiên cứu qua thực tế giảng dạy tôi đã mạnh dạn đưa vào
thực nghiệm giảng dạy ở các lớp. Kết quả cho thấy học sinh tiếp thu về kỹ năng
thực hành vẽ đúng dạng biểu đồ đã tiến bộ rõ rệt. Các tiết học tiếp theo về vẽ
biểu đồ, học sinh không còn lúng túng khi đọc câu hỏi thực hành và lựa chọn
dạng biểu đồ thích hợp ở các lớp đã chứng minh cho nhận định trên. Tôi tin rằng
sau một thời gian nữa khi đề tài hoàn thiện hơn, được đông đảo đồng nghiệp
tham khảo và áp dụng vào thực tế nó sẽ mang lại kết quả cao hơn.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Quá trình thực hiện đề tài: “Kĩ năng nhận biết một số dạng biểu đồ cơ
bản trong môn địa lí ở trường THPT”, tôi đã hoàn thành những nhiệm vụ của đề
tài đặt ra, cụ thể là:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài: Tầm quan trọng của đề
tài trong việc giúp học sinh ôn thi TN THPT quốc gia, bồi dưỡng học sinh giỏi
môn địa lí THPT.
- Xây dựng được một số dạng bài tập về biểu đồ dùng trong các kì thi cho
học sinh.
- Đã tiến hànhTNSP ở học sinh theo ban C, học sinh giỏi môn địa lí năm
học 2018- 2019 ở trường THPT Triệu Sơn 1. Kết quả TNSP đã khẳng định tính
19
hiệu quả của hệ thống các kĩ năng biểu đồ đã xây dựng, cũng có nghĩa khẳng
định được tính đúng đắn của giả thuyết khoa học.
3.2. Kiến nghị.
- Để giáo viên có điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình giảng dạy cũng
như nghiên cứu đề tài nhà trường Triệu sơn I nói riêng, các trường THPT nói
chung trong thư viện nên có nhiều hơn nữa tài liệu, sách tham thảo... đặc biệt đối
với các đề tài liên quan đến kỹ năng thực hành địa lý, cần có một số cuốn "tuyển
chọn những bài ôn luyện kỹ năng..." , " kỹ năng biểu hiện biểu đồ địa lý...".
Nguyễn Trọng Đức, Chương trình chuyên sâu Địa lí 12, tài liệu lưu hành nội bộ,
Bộ Giáo dục và đào tạo, 2009.
6. Nguyễn Đức Vũ, Phương tiện dạy học Địa lí ở trường phổ thông, Nhà xuất
bản Giáo dục, 2007.
7. Nguyễn Đức Vũ, Hướng dẫn tự học Địa lí,Nhà xuất bản Giáo dục, 2007.
8. Lê Thông (chủ biên), Địa lí kinh tế- xã hội Việt Nam, Nhà xuất bản Hà Nội,
2004.
9. Lê Thông (chủ biên), Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Trọng Phúc, Đỗ Ngọc Tiến,
Hướng dẫn ôn tập và trả lời môn Địa lí, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội,
2001.
10. Nguyễn Hải Châu, Phạm Thị Sen, Nguyễn Đức Vũ, Những vấn đề chung về
đổi mới Giáo dục Trung học phổ thông, môn Địa lí, Nhà xuất bản Giáo dục,
2007.
11. Nguyễn Dược, Nguyễn Đức Vũ, Lí luận dạy học Địa lí, Nhà xuất bản Giáo
dục, 1998.
12. Niên giám thống kê năm 2010, Nhà xuất bản Thống kê, 2011.
13. Các trang website
- 64 tỉnh, thành phố.
- Chính phủ Việt Nam
- Tổng cục thống kê
DANH MỤC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NGÀNH GD & ĐT THANH HÓA XẾP TỪ LOẠI C TRỞ LÊN.
21
Họ và tên tác giả
: Cao Thị Hiền
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên- Trương THPT Triệu Sơn 1
Năm học
đánh giá
xếp loại
2013- 2014
C
2015- 2016
22