SKKN Phương pháp thiết kế bài tập bổ trợ cho kĩ năng nói và một số dạng bài tập ứng dụng trong môn Tiếng Anh THCS - Pdf 24

Phần thứ nhất
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Ngày nay Tiếng Anh đang đóng một vai trò rất quan trọng trong mọi lĩnh
vực. Nó được coi là chìa khóa cho sự phát triển, đổi mới và hội nhập toàn cầu. Nhu
cầu sử dụng Tiếng Anh để giao tiếp là rất cần thiết và ngày càng được coi trọng.
Do vậy việc dạy Tiếng Anh đang là vấn đề được các nhà giáo dục quan tâm.
Tuy vậy trên thực tế, khả năng nói Tiếng Anh của học sinh ở các
trường THPT, đặc biệt là ở các các tỉnh miền núi như Bắc Giang là khá thấp. Mặc
dù được các thày cô giảng dạy nhiệt tình, bản thân đã qua nhiều năm học Tiếng
Anh ở cấp THCS, nhiều em vẫn còn khá lúng túng, thiếu tự tin khi giao tiếp bằng
Tiếng Anh. Vậy nguyên nhân ở đâu?
Nguyên nhân thứ nhất có lẽ nằm ở thực tế là các em học sinh không có cơ
hội giao tiếp với người nước ngoài khiến phản xạ nói Tiếng Anh của các em chưa
nhanh.
Nguyên nhân thứ hai là cách dạy ngoại ngữ hiện nay của chúng ta vẫn còn
quá thiên về dạy ngữ pháp mà chưa chú trọng đến sự tương tác trong giao tiếp giữa
học sinh với giáo viên, giữa học sinh với học sinh. Giáo viên vẫn là người quản lý
các hoạt động của giờ học chứ chưa hoàn toàn áp dụng được phương pháp lấy
người học làm trung tâm. Bên cạch đó, giáo viên chỉ có một cuốn sách giáo khoa,
một cuốn sách hướng dẫn và một số sách ngữ pháp, những tài liệu đó chưa đủ để
phát huy hiệu quả công việc giao tiếp trong một lớp học kĩ năng giao tiếp.
Xuất phát từ thực tế trên tôi chọn đề tài: “Phương pháp thiết kế bài tập bổ
trợ cho kĩ năng nói và một số dạng bài tập ứng dụng” làm nội dung nghiên cứu
của chuyên đề.
1
II. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện nhằm tìm hiểu phương pháp thiết kế bài tập bổ trợ
cho kĩ năng nói phù hợp, đồng thời đề xuất một số dạng bài tập bổ trợ cho kĩ năng
nói. Hi vọng đây sẽ là một tài liệu hữu ích cho các thày cô trong quá trình giảng
dạy.

CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I.1. Cở sở lý luận:
I.1.1. Kỹ năng nói là gì?
Nói là một quá trình tương tác có liên quan đến việc sản sinh, tiếp nhận và
xử lý thông tin. Hình thức và ý nghĩa của nó phụ thuộc vào ngữ cảnh, gồm những
người tham gia, kinh nghiệm của họ, môi trường giao tiếp và mục đích nói.
(Brown, 1994)
Trong bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, và viết), kỹ năng nói được coi là cách
ngắn gọn và hiệu quả nhất để mọi người giao tiếp với nhau. Do đó kỹ năng nói
được quan tâm ngay từ giai đoạn đầu của quá trình học ngoại ngữ.
I.1.2. Bản chất của việc dạy kỹ năng nói:
Kỹ năng nói là kỹ năng sản sinh (productive skills).Trong bài học kỹ năng
nói, học sinh phải được cung cấp ngữ liệu, sau đó luyện tập các ngữ liệu và cuối
cùng phải sử dụng được ngữ liệu để diễn đạt ý tưởng của mình theo nội dung chủ
đề nhất định một cách tự do. Như vậy việc cung cấp ngữ liệu là cần thiết, làm tiền
đề cho việc luyện tập. Nhưng quan trọng nhất là cuối cùng học sinh phải vận dụng
được ngữ liệu đó để nói.
Để bài luyện nói đạt hiệu quả cao, các hoạt động luyện tập cần phải thú vị,
hấp dẫn và có ý nghĩa, sát thực với đời sống và hoàn cảnh của học sinh. Bên cạnh
đó cũng cần thiết kế các hoạt động có tính thách thức hoặc tạo khí thế thi đua giữa
4
các cá nhân, các cặp hay nhóm học sinh bằng cách khuyến khích động viên cho
điểm, có phần thưởng cho những bài nói hay.
I.1.3. Đặc điểm của bài luyện nói hiệu quả:
Richard (1985) đề cập đến hai tiêu chí để đánh giá sự thành công của bài
luyện nói : độ chính xác và sự lưu loát. Độ chính xác ở đây bao gồm việc sử dụng
từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm đúng. Trong khi đó sự lưu loát được hiểu là khả năng
duy trì lời nói trôi chảy một cách tự nhiên. Sau mỗi hoạt động giao tiếp, người học
phải đạt được kiến thức về từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm ở một mức độ nhất định
cũng như đạt được sự lưu loát cần thiết. Cũng như Nunan (1989), Richard (1985)

để nói. Điều này thường là do thiếu động cơ nói.
Vấn đề thứ ba là không có cơ hội nói. Nói cách khác đó chính là sự tham gia
không đồng đều của các thành viên trong lớp. Trong một nhóm càng lớn thì
khoảng thời gian dành cho mỗi cá nhân càng hạn chế. Thực tế là với một lớp đông,
một số học sinh ít có hoặc không có cơ hội nói do một số nhỏ học sinh nói nhiều
chiếm gần hết thời gian.
Vấn đề thứ tư là sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ. Thực vậy, học sinh thường có xu
hướng dùng tiếng mẹ đẻ vì cảm thấy phát biểu dễ dàng hơn và tự nhiên hơn khi nói
tiếng mẹ đẻ so với ngoại ngữ.
I.1.4.2. Một số giải pháp cho vấn đề:
Giải pháp thứ nhất : dùng cách luyện nói theo nhóm. Cách này làm tăng thời
lượng học sinh nói tại lớp, đồng thời giảm sự ức chế về tâm lý đối với người học
khi họ không phải nói trước cả tập thể lớp đông.
6
Thứ hai, nên chọn ngữ liệu dễ. Ngữ liệu cần để tiến hành thảo luận nên ở
mức độ dễ. Lúc đó, học sinh sẽ thấy dễ dàng nhớ lại và sản sinh ngôn ngữ, từ đó
nói được trôi chảy. Nếu bài học có ngữ liệu mới hoặc khó, giáo viên nên dạy trước
khi bắt đầu luyện nói.
Thứ ba, chọn bài luyện cẩn thận để tạo hứng thú. Giáo viên nên chọn hình
thức luyện mà học sinh quan tâm, thích thú tham gia thảo luận. Với giải pháp này,
giáo viên đã tạo động cơ cao cho hoạt động luyện nói.
Thứ tư, cần nêu lời hướng dẫn hoặc kỹ năng thảo luận thật rõ ràng. Giáo viên
cần nói rõ học sinh phải làm gì và phân vai rõ ràng cụ thể cho học sinh. Điều này
giúp học sinh tránh được tình huống không biết phải làm gì hoặc không có gì để
nói.
Thứ năm, cần có cách sửa lỗi phù hợp. Trong các dạng luyện nói có kiểm
soát, giáo viên thường sửa lỗi để đạt mức chính xác. Tuy nhiên ở giai đoạn nói tự
do, giáo viên không nên làm như vậy vì mục tiêu lúc này là đạt mức độ lưu loát.
Vậy tùy theo giai đoạn luyện nói mà giáo viên có cách sửa lỗi phù hợp. Khi sửa lỗi,
không nên công khai tên của học sinh mắc lỗi, tránh làm học sinh cảm thấy xấu hổ

tạo ra những khó khăn trong quá trình dạy và học ngoại ngữ.
I.2.3. Môi trường dạy và học ngoại ngữ
Do vai trò của Tiếng Anh ngày càng quan trọng trong xã hội nên những năm
gần đây các cấp lãnh đạo, các ban ngành của tỉnh và Sở GD-ĐT đặc biệt quan tâm
đến công tác dạy và học ngoại ngữ ở các trường. Nhiều kinh phí được đầu tư cho
8
cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy. Đến nay đa số các trường THPT đều
trang bị khá đầy đủ về máy chiếu (projector), máy tính, và một số trang thiết bị
khác. Bên cạnh đó thư viện của các trường cũng có nhiều đầu sách tiếng nước
ngoài về các lĩnh vực khác nhau giúp giáo viên và học sinh có tư liệu phục vụ cho
học tập. Song song với việc trang bị cơ sở vật chất, Sở GD-ĐT cũng chú trọng đào
tạo đội ngũ cán bộ giáo viên ngoại ngữ. Hàng năm đều có những lớp học bồi dưỡng
thường xuyên được tổ chức nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên.
Bên cạnh những thuận lợi, việc học và dạy ngoại ngữ ở tỉnh Bắc Giang vẫn
còn một số bất cập. Thứ nhất, các em học sinh học trong môi trường không có yếu
tố người nước ngoài nên cơ hội thực hành giao tiếp thực tế là không có. Thứ hai,
mặc dù Sở GD-ĐT Bắc Giang rất chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ giáo viên ngoại
ngữ, số giáo viên chưa đạt chuẩn vẫn còn khá nhiều. Điều này cũng gây không ít
khó khăn trong quá trình dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là trong việc dạy và học kĩ
năng nói tiếng Anh.
Chương II
PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ BÀI TẬP BỔ TRỢ CHO KỸ NĂNG
NÓI VÀ MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP ỨNG DỤNG
9
II.1. Phương pháp thiết kế bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói:
Phương pháp giao tiếp trong dạy học ngoại ngữ coi trọng việc lấy người học
làm trung tâm với mục đích tăng cường khả năng giao tiếp của người học. Bởi vậy
khi thiết kế các bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói, giáo viên cần coi trọng việc thu hút
sự tham gia tích cực của học sinh vào các hoạt động rèn luyện kỹ năng thực hành
khẩu ngữ trong và ngoài lớp học, xây dựng cho họ cách học độc lập sáng tạo, có

4. Thay đổi cách tổ chức hoạt động (ví dụ như theo cặp, nhóm nhỏ hay cả
lớp)
II.1.2. Những nguyên tắc về thiết kế các bài tập bổ trợ cho kỹ năng
nói:
Đưa ra một số nguyên tắc làm nền tảng, cơ sở cho việc thiết kế các bài tập bổ
trợ cho kỹ năng nói, Jocelyn Howard và Jae Major (Christchurch College of
Education) cho rằng đây là một ‘khuôn khổ hữu ích’ giúp giáo viên định hướng khi
thiết kế bài tập của mình, không phải là các nguyên tắc áp dụng máy móc, cứng
nhắc và không phải tất cả các nguyên tắc đều phù hợp và áp dụng với tất cả các loại
hình bài tập. Tuy vậy nhìn chung những nguyên tắc này được đưa ra phục vụ cho
công việc thiết kế được thực hiện chặt chẽ, mạch lạc hơn.
Nguyên tắc 1: Các bài tập bổ trợ nên được đưa vào bối cảnh sử dụng. Trước
tiên, các bài tập bổ trợ nên bám sát chương trình sách giáo khoa mà chúng ta đang
sử dụng (Nunan,1998, pp.1-2). Điều đó có nghĩa là chúng ta cần đặt mục tiêu cần
đạt của chương trình sách giáo khoa lên hàng đầu trong suốt quá trình thiết kế bài
11
tập. Ngoài ra, các bài tập bổ trợ cũng cần đặt vào bối cảnh cụ thể dựa trên kinh
nghiệm thực tế của người học. Thực vậy, những bài tập được thiết kế nên phù hợp
với vốn hiểu biết của học sinh, ngôn ngữ và văn hóa của họ. Có như vậy chúng ta
mới thu hút được sự quan tâm, hứng thú của học sinh.
Nguyên tắc 2: Các bài tập bổ trợ kỹ năng nói nên thúc đẩy sự tương tác và
có khả năng sản sinh về mặt ngôn ngữ. Hall (1995) cho rằng hầu hết những người
học cách giao tiếp bằng thứ tiếng không phải tiếng mẹ đẻ đều có xu hướng dành rất
nhiều thời gian cho những tình huống buộc họ sử dụng ngôn ngữ theo một số mục
đích giao tiếp thực tế (p.9). Nói cách khác, những bài tập bổ trợ nên cung cấp
những tình huống mà học sinh cần để giao tiếp với nhau thường xuyên theo cách
mà họ sẽ gặp ở ngoài lớp học. Hall phác thảo ba điều kiện mà ông tin rằng cần thiết
để thúc đẩy giao tiếp thực tế. Đó là nhu cầu cần ‘có điều gì muốn giao tiếp’, ‘có ai
để giao tiếp’ và ‘có hứng thú với kết quả của việc giao tiếp’.
Nguyên tắc 3: Các bài tập bổ trợ nên khuyến khích học sinh phát triển kỹ

nào đó”. Học sinh cần được nghe, thấy và học nói theo cách mà người bản xứ vẫn
giao tiếp với nhau một cách tự nhiên, chứ không phải là ngôn ngữ ‘sách vở’.
Nguyên tắc 7: Các bài tập bổ trợ cần liên kết với nhau chặt chẽ nhằm phát
triển kỹ năng nói, sự hiểu biết và ngôn ngữ cho học sinh. Một sai lầm mà giáo viên
khi thiết kế bài tập có thể mắc phải là thiết kế một mớ hỗn độn các bài tập, hoạt
động nói không ăn khớp với nhau. Vì vậy việc xác định mục tiêu rõ ràng ngay từ
đầu quá trình thiết kế sẽ giúp giáo viên có được hệ thống các bài tập có tính liên kết
chặt chẽ, đảm bảo đạt được mục tiêu cụ thể khi cho học sinh cơ hội thực hành.
13
Nguyên tắc 8: Các bài tập cần được thiết kế hấp dẫn, lôi cuốn. Tiêu chuẩn
để đánh giá một tài liệu dạy ngôn ngữ hay một cuốn sách thường liên quan đến ‘cái
nhìn’ và ‘sự cảm nhận’ về sản phẩm (theo Harmer,1998 ; Nunan, 1991). Khi thiết
kế bài tập chúng ta nên xem xét các khía cạnh sau :
+) Vẻ bề ngoài. Đối với lớp học ngôn ngữ cũng như đối với các lĩnh vực
khác của cuộc sống, ấn tượng ban đầu đều quan trọng như nhau. Vì vậy các bài tập
nên được thiết kế phù hợp, vừa mắt. Giáo viên cần chú ý các yếu tố về vẻ bề ngoài
như mật độ bài tập trên một trang giấy, cỡ chữ, sự sắp xếp, bố cục các phần, trình
bày tranh ảnh,…
+) Sự thân thiện với người sử dụng. Các bài tập được thiết kế cần hấp dẫn về
tính tiện lợi của nó đối với người sử dụng. Ví dụ nếu thiết kế một bài tập điền từ,
chúng ta cần quan tâm liệu đã đủ chỗ trống cho học sinh viết thông tin vào đó
chưa ?
+) Tính bền lâu. Nếu bài tập cần được sử dụng hơn một lần hoặc có thể được
sử dụng bởi nhiều học sinh khác nhau, ta cần xem xét đến việc làm thế nào để tận
dụng chúng lâu dài.
Nguyên tắc 9: Thiết kế bài tập cần chú ý lời dẫn phù hợp. Một bài tập hay có
thể không đạt được mục đích sư phạm nếu nó không có lời hướng dẫn rõ ràng phù
hợp. Lời hướng dẫn khó hiểu, rắc rối sẽ khiến học sinh không xác định được yêu
cầu của bài tập, từ đó sẽ không đạt được mục tiêu mong muốn. Do vậy để lời
hướng dẫn hiệu quả, chúng ta cần viết bằng ngôn ngữ cô đọng, xúc tích và dễ hiểu.

15
Do you know Steve Johnson?
You guys talk to each other.
Hi, I am Susan. It’s nice to meet you.
How do you do?
I have been working for Computer Installation for four
years in the Hardware Division.

Tom: Hello, I’m Tom Baker.
Susan: (1) ____________________________.
Tom: Same here. (2) ______________________. He and I sell computers.
Susan: No, (Shake hands) (3) ___________ That sounds like interesting
work.
Steve: Yes, it is. (4) ________________
Susan: Do you sell personal or business computers?
Steve: Mostly personal. You wouldn’t believe how much the industry has
changed in the last year!
Susan: Yes, I see.
Tom: (5) _________________ I have to go. Bye.
Susan: Bye.
Steve: Bye.
Cách tiến hành:
- Dạng bài tập này được thiết kế đơn giản, thường được áp dụng ở giai đoạn đầu
của bài luyện nói hoặc cho đối tượng học sinh trung bình.
- Giáo viên giải thích nhiệm vụ, hướng dẫn học sinh đọc qua các thông tin, giải
thích từ mới (ví dụ: installation (n): sự lắp đặt)
- Yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm 3, cùng thảo luận để chọn các câu điền vào
chỗ trống.
16
-Giáo viên yêu cầu học sinh đưa ra đáp án, sau đó cho học sinh thực hành hội thoại

thoại (nói về kinh nghiệm trong quá khứ)
- Yêu cầu học sinh làm việc theo cặp, tìm thông tin chính trong câu trả lời để xác
định nội dung và loại câu hỏi.
- Sau khi kiểm tra và đưa ra đáp án, yêu cầu học sinh thực hành hội thoại theo cặp.
Suggested answers:
(1) Have you been to many countries, Smith?
(2) When did you go to Italy?
(3) Did you go there on business?
(4) Who did you go with?
(5) Did you enjoy your time there?
(6) What did you like most?
(7) Would you like to go there again?
Lesson 2: Rearranging words or sentences (Sắp xếp từ hoặc câu)
Dạng bài tập này được sử dụng khá phổ biến trong luyện nói và đã đem lại
hiệu quả nhất định trong việc rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh.
Một vài bài tập mẫu:
Sample 1: Rearrange the following words to make sentences:
1. Why not/ a drink/ come/ for / round?
2. Would/ like/ join/ you/ lunch/ for/ us/ to?
3. Fancy/ for/ a/ out/ meal/ going?
4. I thought/ would/ you/ try/ some of/ like to/ local cuisine/ our.
5. There’s/ nice/ a really/ the corner/ just round/ place.
18
6. What/ going out/ about/ a meal/ for?
7. Why/ join/ for/ a drink/ us/ not?
Cách tiến hành:
- Bài tập này rèn luyện cho học sinh khả năng sắp xếp từ theo trật tự đúng để tạo
thành câu gợi ý, vì vậy để làm được bài tập này, học sinh cần nắm vững các cấu
trúc câu gợi ý.
- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận theo cặp để sắp xếp từ thành câu.

H. Well, something incredible happended. You won’t believe it.
1. ____ 2. _____ 3. _____ 4. _____ 5. _____ 6. _____ 7. _____ 8. ______.
Cách tiến hành:
- Dạng bài tập này rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy logic để sắp xếp các câu
tạo thành một hội thoại hợp lý.
-Giáo viên giải thích nhiệm vụ, cho học sinh đọc qua các thông tin.
-Yêu cầu học sinh thảo luận theo cặp, giáo viên đi quanh lớp để bao quát và giúp
đỡ các cặp gặp khó khăn.
- Sau khi học sinh đã sắp xếp hoàn chỉnh hội thoại, giáo viên có thể yêu cầu học
sinh thực hành hội thoại theo cặp ngay tại lớp.
Suggested answers:
Conversation 1:
1.A 2.B 3.E 4.H 5.F 6.G 7.C 8.D
Conversation 2:
1.G 2.D 3.A 4.B 5.E 6.C 7.F 8.H
Lesson 3 : Multiple-choice exercises (Bài tập chọn đáp án)
Dạng bài tập này được sử dụng rộng rãi, dặc biệt là trong việc ôn luyện thi
tốt nghiệp và đại học hiện nay. Nó đòi hỏi người học phải có kiến thức rộng về kỹ
năng giao tiếp.
20
Bài tập mẫu:
Choose the phrase or sentence A, B, C or D that best completes the conversation:
1. A: You’re a great dancer. I wish I could do half as well as you.
B: ____________ I’m an awful dancer!
A. You’re too kind B. That’s a nice compliment!
C. You’ve got to be kidding D. Oh, thank you very much.
2. A: Congratulations! You did great.
B: ____________________
A. It’s nice of you to say so . B. It’s my pleasure.
C. You’re welcome. D. That’s okay.

2. Turn left
3. Go along the street
4. Walk across the street
5. Go over the bridge
6. Go upstairs
7. Go downstairs

A B C
22

D E F G
Cách tiến hành:
- Bài tập này dùng khi dạy nói về cách hỏi và chỉ đường.
- Giáo viên cho học sinh quan sát tranh và thảo luận theo cặp để ghép tranh với
cụm từ chỉ đường.
- Sau khi học sinh đã ghép tranh và cụm từ, giáo viên có thể dùng những bức tranh
này cho học sinh luyện tập về các cấu trúc chỉ đường.
Suggested answers:
1. G 2. F 3. B 4. A 5. D 6. E 7. C
Sample 2: Match the statements in A with the responses in B:
A B
1. Wasn’t that action movie on TV
interesting? How come you didn’t like
it?
a. I thought it was very boring. There
was too much talking and too little
action.
2. I suppose you agree that Jane’s play is
a success.
b. Neither can I. I thought I’d made

* Founded: 1325
* Area: ____________________sq.km
* Population: 9,815,795
* Founded: _____________
* Area: 2,180 sq. km
* Population: 7,966,196
Sydney Toronto
*Founded: ______________
* Area: ____________________ sq km
* Population: 3,738,500
* Founded: 1793
* Area: 5,867 sq.km
* Population: ___________________
Card for student B:
24
Mexico City Tokyo
* Founded: _______________
* Area: 1,547 sq.km
* Population: 9,815,795
* Founded: the 12
th
century
* Area: _____________ sq. km
* Population: 7,966,196
Sydney Toronto
*Founded: 1788
* Area: 1,580 sq km
* Population: ________________
* Founded: ______________
* Area: 5,867 sq.km


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status