I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài.
Trong cuộc sống hiện nay, vị trí công tác TDTT trong nhà trường càng được
xác định theo đúng tầm quan trọng của nó. Thông qua giáo dục trong bộ môn thể
dục, bồi dưỡng cho học sinh những đức tính dũng cảm, giúp học sinh biết được kĩ
năng cơ bản để tập luyện giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực, góp phần rèn luyện
nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỉ luật, thói quen tự giác tập luyện thể
dục thể thao, giữ gìn vệ sinh. Có sự tăng tiến về thể lực, thi đạt tiêu chuẩn rèn
luyện thân thể và thể hiện khả năng của bản thân về thể dục thể thao, biết vận
dụng những điều đã học vào nếp sinh hoạt ở trong và ngoài nhà trường, góp phần
chuẩn bị cho thế hệ trẻ có nếp sống, tác phong công nghiệp.
Trong giáo dục thể chất, điền kinh là nội dung cơ bản, là nền tảng để
phát triển các tố chất thể lực cơ sở cho các môn thể thao khác. Trong đó nhảy
cao là một nội dung cơ bản để phát triển các tố chất thể lực. Trước yêu cầu
này đòi hỏi giáo viên lên lớp phải có những phương pháp giảng dạy, những
bài tập hợp lí phù hợp với sách giáo khoa, phù hợp với lứa tuổi và đặc biệt là
phát triển thành tích môn nhảy cao.
Trường THPT Lê Lợi nằm trên địa bàn Thị trấn thọ xuân, nền tảng thể
lực của học sinh vẫn còn hạn chế. Đặc biệt thành tích môn nhảy cao của học
sinh còn thấp so với thành tích môn nhảy cao của các trường trong huyện và
của tỉnh Thanh Hóa.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“ Một số bài tập phát triển sức mạnh nhằm nâng cao thành tích nhảy cao
kiểu nằm nghiêng cho học sinh nam lớp 10 trường THPT Lê Lợi ”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thông qua kết quả nghiên cứu lựa chọn được một số bài tập phát triển sức
mạnh trong môn nhảy cao phù hợp với học sinh. Từ đó nâng cao hiệu quả công
tác giáo dục ở nhà trường phổ thông.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội”. [10]
Chỉ thị 36 CT/TW của Ban Bí Thư TW Đảng: “Thực hiện GDTC trong tất
cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày
cho hầu hết học sinh sinh viên và các tầng lớp nhân dân trong cả nước”. [10]
Điều 41 Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992
cũng nêu rõ: “Việc dạy và học thể dục là bắt buộc trong nhà trường”. [10]
* Tóm lại: Qua những chỉ thị, nghị quyết, thông tư của Đảng, nhà nước
chứng tỏ các cấp chính quyền rất quan tâm đến công tác giáo dục thể chất của
học sinh nói riêng, và nhân dân nói chung, tạo những điều kiện thuận lợi nhất
để các em phát triển toàn diện về Đức – Trí - Thể – Mĩ, góp phần cải tạo nòi
giống, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2. Khái quát về các công trình nghiên cứu liên quan
Ở nhiều nước, giờ học thể dục là một bộ phận không thể thiếu được
trong nhà trường và nó được tiến hành không dưới 3 tiết/ tuần.
Chương trình học thể dục ở Việt Nam từ những năm 1991 đã áp dụng
cho tất cả các học sinh 2 tiết/tuần và những hoạt động thể dục thể thao khác
đã phần nào nâng cao được chất lượng giáo dục thể chất.
Rất nhiều đề tài nghiên cứu trong những năm qua ở nước ta cũng đã đề
cập đến sự phát triển thể lực ở học sinh như:
- Nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái và thể lực của học sinh phổ thông ở
các Tỉnh phía bắc (Vụ TDTT – Bộ giáo dục năm 1968 – 1670).
- Điều tra thể chất của học sinh phổ thông (Lê Bửu, Lê Văn Lẩm, Bùi
Thị Hiếu và cộng sự năm 1975).
- Nghiên cứu về sự phát triển thể chất của người Việt Nam từ 7-17 tuổi
(Phan Hồng Minh năm 1980).
- Những đề tài nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện chương trình, nội
dung, phương pháp giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông, đặc biệt là
công trình nghiên cứu về chương trình giảng dạy thể dục của Trần Đình Lâm,
hưng phấn chiếm ưu thế. Do đó khi học tập các em dễ tập trung tư tưởng,
nhưng nếu thời gian kéo dài, nội dung nghèo nàn, hình thức hoạt động đơn
điệu, thì thần kinh sẽ chóng mệt mỏi và dễ phân tán sức chú ý.
Vì vậy nội dung tập luyện phải phong phú, phương pháp dạy học, tổ
chức giờ học phải linh hoạt, giảng giải và làm mẫu có trọng tâm, chính xác.
Ngoài ra cần tăng cường tập luyện thể dục thể thao ngoài giờ và các hình thức
vui chơi khác để làm phong phú khả năng hoạt động và phát triển các tố chất
thể lực một cách toàn diện. [8]
1.4.2.2. Hệ vận động:
- Đối với hệ xương: Hệ xương đang trong giai đoạn phát triển mạnh về
chiều dài. Hệ xương sụn tại các khớp đang đòi hỏi điều kiện tốt để phát triển
và hoàn thiện.
Giáo dục thể chất có tác dụng tốt đến sự phát triển của hệ xương nhưng
phải chú ý đến tư thế, đến sự cân đối trong hoạt động để tránh phát triển sai
lệch của hệ xương và kìm hãm sự phát triển về chiều dài.
- Đối với hệ cơ: Hệ cơ của các em phát triển chậm hơn sự phát triển của
hệ xương, chủ yếu là phát triển về chiều dài, thiết diện cơ chậm phát triển. Do
sự phát triển không đồng bộ, thiếu cân đối nên các em không phát huy được
sức mạnh và chóng mệt mỏi.
Vì vậy cần chú ý tăng cường phát triển cơ bắp và phát triển toàn diện. [8]
1.4.2.3. Hệ tuần hoàn:
Tim phát triển chậm hơn so với sự phát triển mạch máu, sức co bóp
yếu, khả năng điều hòa hoạt động của tim chưa ổn định nên khi hoạt động quá
căng thẳng sẽ chóng mệt mỏi.
Vì vậy tập luyện thể dục thể thao thường xuyên sẽ ảnh hưởng tốt đến
hoạt động của hệ tuần hoàn, hoạt động của tim dần dần được thích ứng. Nhưng
trong quá trình tập luyện cần phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và nguyên tắc
tăng tiến trong giáo dục thể chất, tránh hoạt động quá sức và đột ngột. [8]
tốc độ của người tập. Để phát triển sức mạnh tốc độ cần xen kẽ tập luyện đúng
mức với phương pháp dùng sức lớn nhất. Như vậy, trong quá trình cho học sinh
tập luyện môn nhảy cao chúng ta cần đưa vào các bài tập phát triển sức mạnh
bột phát của các nhóm chi dưới, giúp cho việc thực hiện động tác giậm nhảy
trong nhảy cao thật nhanh, mạnh, để đưa cơ thể bay lên cao hơn. [5]
* Tố chất khéo léo:
Khéo léo là năng lực tiếp thu nhanh các động tác ứng phó kịp thời với
những thay đổi bất ngờ. Xác định và đánh giá tố chất khéo léo là việc khó. Có
thể tính bằng khoảng thời gian tiếp thu động tác. Để rèn luyện khéo léo cần
phải tập nhiều các loại hình động tác, nhờ quá trình tập để tiếp thu các động
tác đó các tố chất khác cũng phát triển theo.
Tóm lại, trong quá trình giảng dạy và huấn luyện điền kinh nói chung và
nhảy cao nói riêng, chúng ta cần căn cứ vào đặc điểm phát triển tố chất, đồng
thời dùng các phương pháp huấn luyện khoa học, xúc tiến cho việc phát triển
tố chất thể lực của người tập nói chung và học sinh nói riêng. [5]
1.5.1. Vài nét về tình hình giảng dạy và học tập môn nhảy cao ở các
trường phổ thông:
Nhảy cao là môn thể thao không đòi hỏi nhiều về trang thiết bị, kĩ thuật
tương đối đơn giản, dễ phổ cập, phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính, do đó
nhảy cao là một nội dung cơ bản trong chương trình giáo dục thể chất.
Trong các kì Hội Khỏe Phù Đổng từ cấp trường đến cấp quốc gia đều có
thi đấu nhảy cao, các học sinh nói chung và các vận động viên nói riêng đã
lập được những thành tích đáng khen ngợi. Tuy nhiên thành tích nhảy cao của
học sinh nước ta so với thành tích của học sinh các nước trên thế giới còn ở
mức chênh lệch quá lớn.
Ở cấp Trung học phổ thông các em được làm quen và tập luyện với kĩ
thuật nhảy cao ở mức độ đơn giản. Việc giảng dạy môn nhảy cao trong nhiều
trọng được gọi là “sức mạnh bột phát”: Dạng sức mạnh này xuất hiện và giữ vai
trò quan trọng trong các môn có hoạt động bật nhảy, được tính theo công thức.
I
Fmax
Tmax
Trong đó I là chỉ số đánh giá sức mạnh, tốc độ hay sức mạnh bột phát,
Fmax là lúc sức mạnh tối đa, Tmax là thời gian để đạt sức mạnh tối đa.
Nhảy cao là nội dung nằm trong hệ thống các môn không có chu kỳ,
gồm nhiều động tác liên kết lại với nhau, thành một kỹ thuật hoàn chỉnh,
người ta chia thành 4 giai đoạn: chạy đà, giậm nhảy, tư thế bay trên không và
tiếp đất. Trong bốn yếu tố đó, yếu tố giậm nhảy có ảnh hưởng nhiều nhất tới
việc hình thành kỹ thuật động tác và quyết định thành tích ở môn này. Nhưng
khâu giậm nhảy lại có quan hệ rất lớn với tốc độ chạy đà, thời gian chống đỡ
khi giậm nhảy, góc độ giậm nhảy… Như vậy, có thể thấy sức mạnh trong
nhảy cao là dạng sức mạnh hỗn hợp, mà ta có thể phân ra một cách tương đối,
gắn liền với quá trình thực hiện kỹ thuật bao gồm:
- Sức mạnh tốc độ: Dạng sức mạnh này thể hiện trong động tác chạy đà.
- Sức mạnh bột phát: Dạng sức mạnh thể hiện trong động tác giậm nhảy
(sức bật).
Theo “Tính chu kỳ trong huấn luyện thể thao” hầu hết các môn thể thao
đều cần sức mạnh, những tố chất sức mạnh cần thiết cho từng môn thể thao
khác nhau gọi là sức mạnh đặc thù của môn nào đó. Sức mạnh tối đa đóng vai
trò quan trọng nếu không nói là quyết định trong việc tạo ra sức mạnh đặc thù
của môn thể thao.
CHƯƠNG 2:
X
Trong đó:
Xi
i
1
n
- : là kí hiệu tổng.
- X : là giá trị trung bình.
- X i : là giá trị quan sát thứ i.
- n : là tổng số cá thể được quan sát.
2.1.5.2. Độ lệch chuẩn ( ):
Độ lệch chuẩn nói lên mức độ phân tán hay tập trung của các trị số X i
xung quanh giá trị trung bình, được tính theo công thức: (khi n 30 ).
n
x
(X
i
x
x
n
- t 05 : giá trị giới hạn chỉ số t–student ứng với xác suất P = 0.05.
2.1.5.5. Nhịp độ tăng trưởng ( W ):
Nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu là tỉ lệ gia tăng theo phần trăm
giữa lần đo thứ hai và lần đo thứ nhất trên cùng một đối tượng và được tính
theo công thức của S. Brody (1927):
W%
Trong đó:
(V2 V1 )
100
0,5(V1 V2 )
- W : là nhịp độ tăng trưởng (%).
- V1 : là mức ban đầu của chỉ tiêu quan sát.
- V2 : là mức lần sau của chỉ tiêu quan sát.
- 0,5 và100 là hằng số.
2.1.5.6. Chỉ số t – student: là chỉ số dùng so sánh hai số trung bình
quan sát của 2 liên quan n < 30:
d
t
i
2
2.1.5.8. Tính nhịp tăng trưởng:
W%
V2 V1
�100%
0,5(V1 V2 )
2.2. Tổ chức nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Sau khi xác định được nhiệm vụ nghiên cứu, căn cứ vào thời gian và
chương trình học tập của Trường THPT Lê Lợi – Thị trấn Thọ Xuân.
Chúng tôi chọn đối tượng là 40 em học sinh nam ở khối 10 chia làm hai
nhóm.
- Nhóm thực nghiệm: gồm 20 em học sinh nam lớp 10 thời gian tập
luyện mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi 1 tiết nội dung tập luyện do chúng tôi đưa ra
theo các bài tập đã xác định.
- Nhóm đối chứng: Chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 20 em học sinh nam
lớp 10 thời gian tập luyện giống như nhóm thực nghiệm mỗi tuần 1 buổi, mỗi
buổi 1 tiết nội dung tập luyện theo phân phối chương trình hiện hành
- Thời gian tổ chức thực hiện 14 tuần.
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu:
NỘI DUNG
CÁC TỐ
CHẤT
Sức mạnh tốc độ
Sức mạnh bộc phát
Rất quan trọng Quan trọng Bình thường
SL
TL % SL TL % SL TL %
17
85%
2
10%
1
5%
19
95%
1
5%
0
0%
Kết quả phỏng vấn được trình bày ở bảng 1, chứng tỏ hầu hết đều cho rằng
các tố chất phát triển sức mạnh bột phát và sức mạnh tốc độ có tác động lớn đến
việc nâng cao thành tích nhảy cao. Dựa trên cơ sở hai tố chất thể lực phát triển
sức mạnh trên, chúng tôi xác định được một số bài tập sau:
STT Bài tập về sức mạnh tốc độ
ĐỒNG Ý
KHÔNG ĐỒNG
Ý
SL
TL%
SL
TL%
1 Chạy 30 m xuất phát cao
20
20
17
85%
3
15%
2 Chạy 30 m tốc độc cao
20
20
100
%
0
0%
5 Bật xa tại chỗ
20
20
18
90%
2
10%
6 Bật cao tại chỗ
20
20
20
100
%
20
0%
0
Qua kết quả phỏng vấn thấy rằng trong 8 bài tập ở phiếu phỏng vấn đưa ra
có tỷ lệ đồng ý cao. Điều đó cho thấy độ tin cậy của các bài tập có giá trị thực
tiễn trong huấn luyện và giảng dạy. Từ kết quả trên chúng tôi đưa toàn bộ 8 bài
tập phát triển sức mạnh này vào thực nghiệm.
3.2. Đánh giá hiệu quả của các bài tập trong quá trình giảng dạy
3.2.1. Kết quả kiểm tra trước và sau tập luyện
- Trước khi tiến hành thực nghiệm chúng tôi tiến hành kiểm tra kết quả
lần 1 ở cả hai nhóm thực nghiệm và đối chứng. Sau 14 tuần thực nghiệm
chúng tôi kiểm tra lần 2 để so sánh đánh giá thành tích giữa hai nhóm nhằm
đánh giá hiệu quả của các bài tập đã đưa vào thực nghiệm.
Sau khi tiến hành tính toán các số liệu thu thập được, chúng tôi có các
tham số: giá trị trung bình ( X ), độ lệch chuẩn ( ), Hệ số biến thiên (Cv%),
Sai số tương đối ( ), T-student (t) của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra của 2 nhóm TN và nhóm ĐC trước thực nghiệm
x
X
Test
2
TÊN TEST
Bật cao tại chổ
Nhảy cao có đà
TN
X ±
49.45 ± 1.64
127.75 ± 8.81
ĐC
t
X ±
49.35 ±1.87 0.18
128.00 ±8.94 0.04
Kết quả phân tích được minh họa ở Biểu đồ 3.1.
Thành tích(cm)
p
>0.05
>0.05
ĐC
0.02
0.03
Test
53.75 ± 2.22
W%
t
p
1
Bật cao tại chổ
49.45 ± 1.64
2
Nhảy cao có đà
127.75 ± 8.81 134.50 ± 7.05 5.15 9.00
Thành tích(cm)
Test
Biểu đồ 3.3. So sánh sự phát triển của nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm.
Qua bảng 3.6 và biểu đồ 3.3 cho thấy nhóm đối chứng có sự phát triển
về sức mạnh tốc độ trước và sau tập luyện cụ thể như sau:
- Bật cao tại chỗ.
+ Trước thực nghiệm có: X = 49.35 ± 1.87
+ Sau thực nghiệm có: X = 51.45 ± 2.04
So sánh cho thấy có sự phát triển với nhịp tăng trưởng W= 4.38% với
ttính = 13.08 > tbảng = 2.093 nên sự khác nhau giữa hai giá trị trung bình mẫu có
ý nghĩa thống kê.
- Nhảy cao có đà.
+ Trước thực nghiệm có: X = 128.00 ± 8.94
+ Sau thực nghiệm có: X = 129.75± 6.74
So sánh cho thấy có sự phát triển với nhịp tăng trưởng W=1.36% với
ttính = 2.67 > tbảng = 2.093 nên sự khác nhau giữa hai giá trị trung bình mẫu có
ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.7. So sánh sự phát triển của nhóm TN và nhóm ĐC sau thực nghiệm.
TT
1
2
Nhóm TN
Nhóm ĐC
X ±
X ±
Có ttính = 2.11> tbảng = 2.093 nên sự khác nhau giữa hai giá trị trung bình
mẫu có ý nghĩa thống kê.
Hay nói cách khác là có sự khác biệt giữa nhóm thực nghiệm và nhóm
đối chứng.
Biểu đồ 3.10. Nhịp độ tăng trưởng của
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm.
Diễn biến nhịp độ tăng trưởng của hai nhóm thực nghiệm và nhóm đối
chứng đều tăng sau 10 tuần tập luyện. Kết quả kiểm tra của nhóm thực nghiệm có
sự tăng trưởng cao, đồng đều và ổn định hơn so với nhóm đối chứng.
Tóm lại: từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy qua 2 nội dung kiểm tra,
nhóm thực nghiệm đều phát triển hơn nhóm đối chứng, đạt sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với ngưỡng xác suất p < 0.05.
Hệ thống bài tập phát triển sức mạnh đã thể hiện tính hiệu quả đến việc
huấn luyện nâng cao thành tích nhảy cao cho học sinh nam lớp 10 trường
THPT Lê Lợi.
Từ kết quả nghiên cứu cho phép nhận xét:
- Qua nghiên cứu đã chọn được 8 bài tập phát triển sức mạnh cho học
sinh nam lớp 10 trường THPT Lê Lợi.
- Qua kiểm tra diễn biến nhịp tăng trưởng thành tích của học sinh ở 2
nhóm thực nghiệm và đối chứng đều tăng, nhưng nhóm thực nghiệm có sự
tăng trưởng cao, đồng đều và ổn định hơn nhóm đối chứng.
- Sau 10 tuần thực nghiệm sư phạm ở học sinh nam lớp 10 trường THPT
Lê Lợi các bài tập huấn luyện phát triển sức mạnh có hiệu quả với độ tin cậy
ở ngưỡng xác suất thống kê P < 0.05.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Từ những kết quả nghiên cứu trên cho phép rút ra những kết luận như sau:
đều hơn nhóm đối chứng.
2. Kiến nghị:
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài cho phép có một số kiến nghị như sau:
- Có thể sử dụng hệ thống các bài tập trên để đưa vào quá trình giảng dạy
và huấn luyện nội dung nhảy cao cho các trường THPT trên địa bàn huyện
Thọ xuân nói riêng và các trường THPT nói chung.
- Do chương trình ở bậc THPT chỉ có 2 tiết/ tuần. Vì vậy cần tăng cường
thời gian để tập luyện ngoại khóa cho học sinh, góp phần nâng cao sức khỏe.
- Cần mở rộng nghiên cứu này trên các đối tượng khác để hình thành hệ
thống bài tập phù hợp với các đối tượng, các lứa tuổi khác.
- Trong quá trình nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm của tôi có thể còn
nhiều thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của tất cả Quý thầy cô để
đề tài được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thọ Xuân, ngày
2017
Xác nhận của
thủ trưởng đơn vị
tháng
năm
Tác giả
Vũ Đình Hưng
MỤC LỤC
Mục
Mục tiêu TDTT trong trường phổ thông
Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh
trung học phổ thông
1.4.1
Đặc điểm tâm lí
1.4.2
Đặc điểm sinh lí
1.4.2.1 Hệ thần kinh
1.4.2.2 Hệ vận động
1.4.2.3 Hệ tuần hoàn
1.4.2.4 Hệ hô hấp
1.5
Cơ sở khoa học của giáo dục thể chất trong
trường phổ thông
1.5.1 Vài nét về tình hình giảng dạy và học tập môn nhảy
cao ở các trường phổ thông
1.5.2 Tác dụng của tập luyện môn nhảy cao ở trường phổ thông
1.5.3
Sức mạnh và sức mạnh trong nhảy cao
CHƯƠNG II
PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1.
Phương pháp nghiên cứu
2.1.1
Phương pháp tham khảo tài liệu
2.1.2
Phương pháp phỏng vấn
2.1.3
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
3.4
Sự khác biệt của nhóm TN và nhóm
ĐC trước thực nghiệm
3.5
So sánh sự phát triển của nhóm thực nghiệm trước
4
4
4
4
4
5
5
6
6
7
8
8
9
10
10
10
10
10
10
10
10
11
11
12
CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG SÁNG KIẾN
TT
1
2
3
4
5
Cụm từ viết tắt
TDTT
THPT
TN
ĐC
Nội dung
Thể dục thể thao
Trung học phổ thông
Thực nghiệm
Đối chứng
các kí hiệu toán học
18
19
20
20
21