Một số kinh nghiệm dạy học tích hợp lồng ghép giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên vào bài 47 – sinh học 11 cơ bản - Pdf 57

MỤC LỤC
Nội dung
Một số kí hiệu được dùng trong sáng kiến kinh nghiệm
I. Mở đầu
1.Lí do chọn đề tài
2.Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
II. Nội dung
1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng của vấn đề
3. Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
I.
Kiến thức cơ bản về SKSSVTN
II.
Thiết kế giáo án dạy học tích hợp lòng ghép
4. HIệu quả của SKKN
III. Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo

Trang
2
3
3
4
4
4
5
5
5
6

và những vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực đang đặt ra cho nhân loại những
thời cơ và thách thức lớn. Mỗi quốc gia, cộng đồng, gia đình và từng cá nhân
có chiến thắng được thách thức hay không, có nắm được thời cơ để phát triển
mạnh mẽ hay không vấn đề quan trọng bậc nhất là “con người” và “chất lượng
con người”. SKSS và SKSSVTN đang trở thành mối quan tâm hàng đầu trong
tất cả các mục tiêu chương trình SKSS ở tất cả các quốc gia trên thế giới.
Lứa tuổi vị thành niên là một giai đoạn ngắn nhưng lại ảnh hưởng
rất lớn tới sự phát triển toàn diện của cuộc đời mỗi người. Giai đoạn này được
thể hiện bằng sự phát triển nhanh chóng khác thường về cả thể chất lẫn trí tuệ,
tâm sinh lí, quan hệ xã hội và tinh thần.
Các em học sinh trung học đang ở độ tuổi vị thành niên có nhiều bở
ngỡ trước sự thay đổi của bản thân khi bước vào tuổi dậy thì và có nhiều tò mò,
thắc mắc về vấn đề giới tính nhưng lại không được giải đáp thỏa đáng. Mặt
khác, hiện nay, sự phát triển nhanh chóng các mặt của đời sống xã hội, sự phát
triển một cách ồ ạt các hệ thống truyền tải thông tin như internet, điện thoại di
động…đã làm ảnh hưởng đến những quan điểm, nhận thức về quan hệ tình dục,
tình yêu, hôn nhân ở thanh thiếu niên. Nhiều thanh thiếu niên bắt đầu quan hệ
tình dục trong khi chưa hiểu biết đúng đắn về sức khỏe sinh sản. Sự thiếu hiểu
biết này có thể dẫn đến những hậu quả trầm trọng : mang thai ngoài ý muốn dẫn
đến nạo phá thai ở độ tuổi vị thành niên; sinh con và nuôi con khi độ tuổi còn
quá trẻ, làm dở dang việc học tập; mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục
ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và đời sống tinh thần sau này.
Cung cấp thông tin về giới tính, giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị
thành niên là việc làm cần thiết nhưng đến nay vẫn còn một số người cho là vấn
đề tế nhị, không nên đem ra rao giảng, bên cạnh đó, ở nhà trường, công tác giáo
dục giới tính vẫn còn bỏ ngõ, rất hiếm có giáo viên nào chuyên trách về vấn đề
này. Ở gia đình, một số phụ huynh còn rất e dè hoặc thiếu quan tâm đến việc
giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản cho con em mình, một số khác có quan tâm
nhưng không đủ trình độ kiến thức để giải đáp hết các thắc mắc của con em
mình về vấn đề này.

tiễn do đó khả năng tích hợp giáo dục là rất lớn. Chúng ta có thể tích hợp giáo
dục dân số, sức khỏe, SKSS, giáo dục môi trường, giáo dục vệ sinh an toàn
thực phẩm... trong quá trình dạy học Sinh học.
Tích hợp giáo dục SKSS trong dạy học bộ môn sinh học mà cụ thể là
chương Sinh sản ở Sinh học 11 là một hướng đi phù hợp với mục tiêu giáo
dục phổ thông, vừa đảm bảo kiến thức khoa học bộ môn, vừa tích hợp giáo dục
SKSS cho HS. Thông qua đó, đem lại niềm tin, hứng thú học tập cho
người học, nâng cao chất lượng giáo dục, đây là nguyên nhân giúp tôi viết
SKKN này.
Khi dạy kiến thức bài 47 “ Điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ
có kế hoạch ở người” GV hoàn toàn có thể tích hợp giáo dục SKSS cho HS,
giúp các em có kiến thức và hiểu biết về sinh sản, SKSS cũng như xây dựng kĩ
năng sống, có niềm tin, sự vững vàng trong cuộc sống sau này.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài là: “Một số kinh nghiệm
dạy học tích hợp lồng ghép giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên vào
bài 47 – Sinh học 11 cơ bản”
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu kiến thức nội dung về giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên để tích hợp và nghiên cứu phương pháp tích hợp giáo dục SKSSVTN


trong dạy học bài “Điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở
người” nhằm vừa nâng cao chất lượng dạy học, vừa tích hợp giáo dục SKSS
VTN có hiệu quả.
3. Đối tượng nghiên cứu
- HS Lớp 11A, 11B, 11C – Trường THPT Lê Viết Tạo năm học 2017 –
2018
- Nội dung và Phương pháp tích hợp giáo dục SKSS VTN trong dạy học
bài “Điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở người”
4. Phương pháp nghiên cứu:

tượng thực tiễn là cơ sở để xây dựng nên học thuyết sinh học. Sinh học 11 có
nội dung chính là Sinh học cơ thể, cung cấp cho HS cái nhìn khái quát nhất các
quá trình sống cơ bản của cơ thể Động vật và cơ thể Thực vật, trong đó sinh sản
là một quá trình sống, là dấu hiệu phân biệt giữa vật chất vô cơ với thế giới
sống. Từ những kiến thức lí thuyết trong SGK HS dễ dàng hiểu được các hình
thức sinh sản ở sinh vật nói chung và con người nói riêng để từ đó các em có
những kiến thức ban đầu về quá trình sinh sản ở người, về sự thay đổi sinh lí của


bản thân ở lứa tuổi VTN, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh sản, sinh đẻ
có kế hoạch ở người, ý nghĩa của việc sinh đẻ có kế hoạch, ở lứa tuổi VTN thì
cần phải làm gì để có SKSS tốt…từ đó các em có thể tự xây dựng cho mình
những biện pháp để đảm bảo SKSS khi bước vào cuộc sống gia đình sau này.
Trong chương trình đổi mới phương pháp dạy học thì dạy học tích hợp là
một trong những phương pháp được nhân rộng và sử dung rộng rãi. GV dễ
dàng tích hợp những kiến thức khác một cách hợp lí vào bài học gây sự hứng
thú học tập cho HS. Theo từ điển giáo dục học thì tích hợp là “ hành động liên
kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc
vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy”[2]. Kế hoạch giảng
dạy được hiểu có thể là một chương trình, một môn học hay cụ thể là một bài
học. Khi dạy học tich hợp cần phải lựa chọn nội dung kiến thức lôgic với bài
học và thời gian phù hợp với cấu trúc toàn bài. Không được tích hợp gượng ép
sẽ làm cho bài học trở nên nặng nề, rời rạc, người học nhàm chán và sẽ không
đạt được hiệu quả của dạy học tích hợp.
Với kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy tôi có một vài kinh nghiệm nhỏ
trong việc tích hợp lồng ghép kiến thức SKSS, SKSS VTN vào dạy học bài
“Điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở người”, nên tôi ghi
lại để đồng nghiệp và các em học sinh cùng tham khảo.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN.
- Thực trạng chung:

Câu 1: Giới tính là gì? Yếu tố nào qui định giới tính ở Động vật?
Câu 2: Sức khỏe sinh sản là gì? Sức khỏe sinh sản vị thành niên là gì? Theo
em những nguy cơ nào gây hại cho SKSSVTN?
Câu 3: Thế nào là tình dục an toàn? Hậu quả của tình dục không an toàn?
Kết quả điều tra như sau:

Tổng số HS
120

Điểm KT
loại giỏi

Điểm KT
loại khá

SL
20

SL
65

%
16,7

%
54,3

Điểm KT
loại trung
bình

- Sức khỏe sinh sản là một trạng thái khỏe mạnh, hài hòa về thể chất, tinh
thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, các
chức năng sinh sản. Như vậy sức khỏe sinh sản là sự hoàn hảo về bộ máy sinh
sản đi đôi với sự hài hòa giữa nhịp sinh học và xã hội.
- Sức khỏe sinh sản không chỉ giới hạn ở sức khỏe người mẹ mà còn bao
gồm cả những vấn đề liên quan đến quá trình sinh sản của nam và nữ, đến sự an
toàn và hạnh phúc trong đời sống tình dục. Đồng thời nhấn mạnh đến quyền tự


quyết của phụ nữ với việc sinh đẻ của họ. Sức khỏe sinh sản có ý nghĩa xã hội,
y học sâu sắc và rất nhân văn vì đã nâng cao yêu cầu bảo vệ chức năng đặc thù
của phụ nữ là chức năng sinh sản.
3. Sức khỏe sinh sản vị thành niên
3.1. Vị thành niên là gì? [4]
Vị thành niên là đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành người
lớn. Nếu so với cả đời người thì lứa tuổi vị thành niên chỉ là một giai đoạn ngắn
(từ 16 – 19 tuổi) nhưng lại có tác động lớn lao tới sự phát triển và thăng tiến
của cuộc đời mỗi người. Giai đoạn này được thể hiện bằng sự phát triển nhanh
chóng khác thường về cả thể chất lẫn trí tuệ, quan hệ xã hội và tinh thần.
Ở độ tuổi vị thành niên, diễn ra những thay đổi rất lớn về mặt thể chất.
Đặc biệt thời kỳ dậy thì chính thức ở nam và nữ chứng tỏ rằng bộ máy sinh dục
đã trưởng thành, các em có khả năng thực hiện quan hệ tình dục, có thể làm
cho nữ giới mang thai và sinh con. Đồng thời với sự thay đổi về thể chất là sự
thay đổi lớn về tâm sinh lí. Trong giai đoạn này các em đều có nhu cầu chung
là cần được cung cấp những thông tin về những biến đổi về thể chất, tình cảm
và tâm sinh lí sẽ diễn ra để các em có sự chuẩn bị tránh lo lắng, hoang mang.
3.2. Sức khỏe vị thành niên
Hành vi liên quan đến sức khỏe mà lớp trẻ hay mắc phải trong giai đoạn
này là hút thuốc lá, uống rượu bia, sử dụng ma túy và quan hệ tình dục. Đây là
những hành vi có ảnh hưởng quan trọng đến sức khỏe của họ, những hành vi

- Dễ bị lôi cuốn bởi các chất kích thích, chất gây nghiện như rượu, thuốc lá,
ma túy.
3.3.3. Vị thành niên cần làm gì để phòng tránh những tác hại đến sức khỏe
sinh sản
- Rèn luyện về kỹ năng sống:
+ Chủ động tìm hiểu kiến thức về giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên
từ cha mẹ, thầy cô, anh chị, người thân và bạn bè; cần tâm sự về những lo lắng,
băn khoăn, thắc mắc với người thân trong gia đình, thầy cô, bạn bè, người có
uy tín, kiến thức và có trách nhiệm; Có thời gian biểu học tập, nghỉ ngơi, giải
trí và luyện tập thể thao phù hợp, điều độ; phân biệt rõ ràng giữa tình yêu và
tình bạn khác giới trong sáng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; chăm sóc sức khỏe
sinh sản, vệ sinh cá nhân, vệ sinh bộ phận sinh dục.
+ Nữ: Phải biết cách thực hiện vệ sinh kinh nguyệt; đến 15-16 tuổi mà không
có kinh nguyệt thì phải đi khám.
+ Nam: Phải biết phát hiện những bất thường về cơ quan sinh dục của mình
để đi khám bệnh kịp thời như: hẹp bao quy đầu, tinh hoàn ẩn, vị trí bất thường
của lỗ tiểu; không mặc quần lót quá bó sát, chật hẹp.
- Tránh xa những hình ảnh, sách báo, phim ảnh, trang web khiêu dâm, đồi
trụy, tránh xa rượu, thuốc lá, ma túy.
- Không nên quan hệ tình dục (QHTD) trước tuổi trưởng thành.
- Nếu QHTD, phải thực hiện tình dục an toàn.
4. Tình dục an toàn
4.1. Thế nào là tình dục an toàn [4]
Tình dục an toàn là tình dục không dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và lây
nhiễm các bệnh qua đường tình dục như: lậu, giang mai, HIV/AIDS... tình dục
an toàn là những hình thức quan hệ tình dục có thể giúp hạn chế nguy cơ bị lây
nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, điều này có nghĩa là không có
sự tiếp xúc cơ thể với máu, chất dịch âm đạo và tinh dịch từ người này sang
người khác.
4.2. Hậu quả của tình dục không an toàn

người.[6]
I. Mục tiêu:
Sau khi học xong bài này, HS cần:
1. Về kiến thức:
- Trình bày được một số biện pháp sinh sản ở động vật.
- Nêu được sinh đẻ có kế hoạch là gì và giải thích tại sao phải sinh đẻ có kế
hoạch.
- Kể tên một số biện pháp tránh thai chủ yếu ,trình bày cơ chế tác dụng của
chúng.
- Giải thích tại sao phá thai không phải là biện pháp kế hoạch hóa gia đình,
trường hợp nào không nên phá thai.
2. Về kĩ năng:
- Rèn kĩ năng: phân tích khái quát kiến thức, vận dụng kiến thức thực tế liên
hệ cho bài học, tự tin khi phát biểu ý kiến, .
- GDKNS: Kĩ năng hợp tác, kĩ năng liên hệ, kĩ năng giải quyết tình huống, kĩ
năng tiếp nhận và xử lí thông tin...
3. Về thái độ:
Có thái độ và cách nhìn nhận đúng về chính sách kế hoạch hóa gia đình
của nhà nươc quy định.
4. Các năng lực hướng tới:


- Năng lực kiến thức sinh học, năng lực liên hệ thực tiễn, năng lực xử lí
thông tin...
II. Chuẩn bị của GV – HS:
- GV chuẩn bị Các tài liệu có trong SGK, tài liệu có liên quan đến bài học.
- HS chuẩn bị nội dung bài mới qua việc hoàn thành PHT:

STT
1



Trình bày tên biện pháp, cách tiến
hành, đối tượng áp dụng?
GV trình chiếu hình số 2 yêu cầu HS:
Trình bày tên biện pháp, cách tiến
hành, đối tượng áp dụng?
GV trình chiếu hình ảnh số 3[7] yêu
cầu HS:
Trình bày tên biện pháp, cách tiến
hành, đối tượng áp dụng?

GV trình chiếu hình số 4[8] yêu cầu
HS:
Trình bày tên biện pháp, cách tiến
hành, đối tượng áp dụng? Ý nghĩa
của thụ tinh nhân tạo trong y học?

trứng chín và rụng. Thụ tinh với tinh
trùng ở môi trường ngoài đã được
chuẩn bị trước.
b. Thay đổi các yếu tố môi trường:
- Thay đổi thời gian chiếu sáng, thay
đổi nhiệt độ.
c. Nuôi cấy phôi:
- Tiêm Hoocmon thúc đẩy trứng chín
và rụng → lấy trứng ra ngoài cơ thể
cái → thụ tinh với tinh trùng trong
ống nghiệm → phát triển thành các
hợp tử hoặc tách rời các tế bào ra

1. Sinh đẻ có kế hoạch là gì?
GV: Các em hiểu thế nào là sinh đẻ có
- Sinh đẻ có kế hoạch là điều chỉnh
kế hoạch ở người?
số con, thời điểm sinh con và khoảng


HS: Trả lời
GV: Nhận xét và kết luận
GV: Hãy cho biết ở nước ta vận động
mỗi gia đình nên sinh mấy người con?
khoảng cách giữa các lần sinh là mấy
năm? Ở độ tuổi nào thì không nên
sinh con nữa?
HS: Trả lời
GV: Yêu cầu HS khác nhận xét, rồi rút
ra kết luận
HĐ 2: Tìm hiểu các biện pháp
tránh thi:
HS nghiên cứu nội dung II.2 SGK
trang 184, 185 hoàn thành phiếu học
tập sau:
Biện pháp tránh Cơ chế tác dụng
thai
1.Tính
ngày
trứng rụng
2. …..

*Bước 1: Giao nhiệm vụ:

tác dụng tránh thai, vừa tránh lây
nhiễm các bệnh qua quan hệ tình dục
và không gây ảnh hưởng đến khả
năng sinh sản sau này.
3.Sức khỏe sinh sản vị thành niên
* Ở lứa tuổi vị thành niên không nên
quan hệ tình dục. Vì các em chưa có
được sự phát triển hoàn thiện về tâm
sinh lí cũng như hiểu biết xã hội. Nếu
quan hệ tình dục sẽ gây ra những
nguy cơ như: Có thai ngoài ý muốn;
Lây nhiễm các bệnh qua quan hệ tình
dục; Dễ bị suy sụp tinh thần nếu có sự
cố về quan hệ tình cảm. Dễ sa đà vào
các tệ nạn xã hội khác mà hậu quả là
có thể hủy hoại tương lai, cuộc đời
của các em
* Để hạn chế việc quan hệ tình dục ở
lứa tuổi học đường, các em cần:
Trang bị cho mình những kiến thức về
giới tính, về tình bạn và tình yêu, về
sức khỏe sinh sản và tình dục an toàn.
Không tiếp xúc với các văn hóa phẩm
đồi trụy, tránh tiếp xúc với các đối
tượng xấu; Chia sẻ với bố mẹ, thầy
cô, bạn bè tin cậy những khúc mắc


-HS: Tích cực hoàn thành nhiệm vụ
học.

* Hậu quả của việc có thai ở lứa tuổi
vị thành niên:
Dễ bị sẩy thai, đẻ non, làm tăng
nguy cơ tử vong mẹ; cơ thể chưa phát
triển đầy đủ dẫn đến thiếu máu, thai
kém phát triển dễ bị chết lưu hoặc trẻ
thiếu cân, con suy dinh dưỡng cao; đẻ
khó; tỷ lệ mắc bệnh tật và tử vong của
trẻ sơ sinh cao; dễ mắc các bệnh lây
truyền qua đường tình dục; bỏ học dở
chừng, ảnh hưởng xấu tới tương lai
sau này; làm mẹ sớm dễ bị căng
thẳng, khủng hoảng tâm lý; những
chỉ trích của xã hội không tốt và xấu
hổ cho cả hai, nhưng chủ yếu là đối
với nữ; bị người kia bỏ rơi hoặc cưới
gấp một người mà có thể không muốn
chung sống suốt đời….
* Nạo phá thai không phải là biện
pháp tránh thai, nó có thể để lại
những hậu quả rất lớn về sức khỏe
sinh sản vị thành niên: Thủng tử cung,
rong huyết, nhiễm trùng đường sinh
dục, sa dạ con, vô sinh, tử vong, gây
suy sụp cho người phụ nữ.


GV: Yêu cầu cả lớp góp ý bổ sung,
rồi nhận xét và kết luận.
GV nêu câu hỏi thảo luận:

thứ
Đồng Không
tự
ý
đồng ý
1
Em có đồng ý đề cập đến vấn đề giới tính –
x
sức khỏe sinh
sản vị thành niên trong trường THPT không?
2
3

Các bệnh không có khả năng lây truyền qua
đường tình dục là : ADIS, lậu, giang mai.
Viêm gan B.
Mang thai ở tuổi vị thành niên là tốt cho sức
khỏe vì tránh được hiện tượng sinh con mắc

X
X


hội chứng Đao.
4
Phá thai là một trong những biện pháp tránh
X
thai hiệu quả nhanh chóng.
5
Nếu quan hệ tình dục sớm dẫn đến có thai

Điểm KT
loại trung
loại giỏi
loại khá
loại yếu
Tổng số HS
bình
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
120
60
50
40
33,3
20
16,7
0
0
Bên cạnh đó bài học không chỉ trang bị cho các em những kiến thức sinh
học, khoa học cần thiết mà còn hình thành cho các em kĩ năng tự chăm sóc và
bảo vệ mình.
 Đối với bản thân và đồng nghiệp :
Sử dụng phương pháp dạy học tích hợp vào môn sinh học thực sự là công
cụ hữu ích nhất cho GV dạy môn sinh học ở trường THPT, qua đó làm cho HS

được chính xác hơn hiệu quả của phương pháp này trong thực tế.
2. Kiến nghị :
- Đưa nội dung giáo dục SKSS, SKSSVTN làm một chủ đề trong hoạt
động ngoại khóa ở các trường THPT.
- Cần xây dựng những chủ đề dạy học tích hợp liên môn có liên quan
đến nội dung SKSSVTN để hướng đến chương trình giáo dục tổng thể mà Bộ
Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng.
Xác nhận của thủ
trưởng đơn vị

Thanh hóa, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKS của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Lê Thị Hạnh


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]: Nguồn Internet- Luật Giáo dục Việt Nam.
[2]: Nguồn Internet – Phương pháp dạy học tích hợp.
[3]: Sách giáo khoa Hướng nghiệp 10 – Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội.
[4]: Tài liệu Giáo dục Sức khỏe sinh sản Vị thành niên, Bộ Giáo dục và
Đào tạo – Quỹ dân số Liên hợp quốc, Hà Nội.
[5]: Giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản vị thành niên, Bộ Giáo dục và
Đào tạo –và trẻ em, Ủy ban dân số, gia đình và trẻ em Hà Nội.
[6]: SGK sinh học 11 Cơ bản- Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội
[7]: SGK Công nghệ 10 – Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
[8]: Hình ảnh khai thác từ nguồn Internet



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status