Giúp học sinh rèn luyện, nâng cao kĩ năng viết văn nghị luận qua bài đọc văn chiếu cầu hiền ngô thì nhậm - Pdf 57

LƯU THỊ LAN

Sáng kiến kinh nghiệm

MỤC LỤC
Phần Tên đề mục
1

2

3

Trang

Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Nội dung
2.1. Cơ sở lí luận.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
2.3. Cách thức tổ chức thực hiện.
2.3.1. Qua việc xác định bố cục bài Chiếu cầu hiền, giúp
HS rèn luyện, nâng cao kĩ năng xây dựng bố cục bài văn
nghị luận.
2.3.2. Qua tìm hiểu cách thức mở bài của Ngô Thì Nhậm,
giúp HS rèn luyện, nâng cao kĩ năng viết mở bài.
2.3.3. Qua phân tích cách lập luận của tác giả, giúp HS rèn
luyện, nâng cao kĩ năng lập luận.
2.3.4. Qua nhận xét cách sử dụng từ ngữ, câu văn của tác


LƯU THỊ LAN

Sáng kiến kinh nghiệm

PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Môn Ngữ văn là một môn thi bắt buộc trong kì thi THPT Quốc gia. Văn nghị
luận là kiểu bài văn cơ bản được vận dụng trong bài thi. Vì thế, học sinh (HS)
phải được hình thành, rèn luyện, nâng cao kĩ năng viết văn nghị luận một cách
thường xuyên, liên tục. Các bài học Làm văn, các tiết trả bài kiểm tra trên lớp
chưa đủ để thực hiện mục tiêu trên. Việc rèn luyện và nâng cao kĩ năng viết văn
nghị luận của HS còn phải được giáo viên (GV) thực hiện trong cả các tiết đọc
văn, đặc biệt là văn chính luận trong chương trình.
Văn chính luận là thể loại văn nghị luận bàn về các vấn đề chính trị, xã hội,
triết học, đạo đức [2; tr 110]. Nó có nhiều khả năng trong việc hình thành, nâng
cao kĩ năng viết văn nghị luận của HS, cả nghị luận xã hội và nghị luận văn học.
“Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) là bài viết chính luận xuất sắc của văn học
trung đại. Tác giả Ngô Thì Nhậm đã thể hiện một lối tư duy sáng rõ, kĩ năng lập
luận chặt chẽ, văn phong mạch lạc, khúc chiết,... Qua bài đọc văn “Chiếu cầu
hiền”, GV có thể giúp HS vận dụng kiến thức bài học để rèn luyện, nâng cao kĩ
năng viết văn nghị luận của bản thân.
Vì lí do trên, tôi mạnh dạn thực hiện sáng kiến kinh nghiệm mang tên :
"Giúp học sinh rèn luyện, nâng cao kĩ năng viết văn nghị luận qua bài đọc
văn Chiếu cầu hiền - Ngô Thì Nhậm".
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài được tôi nghiên cứu với mục đích là giúp học sinh rèn luyện, nâng cao
kĩ năng viết văn nghị luận thông qua bài đọc văn “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì
Nhậm).
Qua đó, tôi cũng muốn trao đổi với mọi người để tìm ra cách thức tích hợp

nghị luận. Kĩ năng viết văn nghị luận là kĩ năng xây dựng bố cục; kĩ năng lập
luận với việc xây dựng hệ thống luận điểm, luận cứ và sử dụng phương pháp lập
luận ; kĩ năng viết mở bài, kết bài; cuối cùng là cách sử dụng câu từ diễn đạt. Tất
cả các phương diện trên phải đạt đến trình độ chuẩn và hay. Điều đó thể hiện ở
bố cục sáng rõ, mạch lạc; lập luận chặt chẽ, khúc chiết; mở bài thu hút, kết bài
vang vọng; ngôn từ sắc sảo mà biểu cảm, câu văn nhịp nhàng mà đa giọng điệu.
Người viết xin trình bày về đặc trưng của thể loại văn chính luận. Văn chính
luận là một thể của văn nghị luận. Chính luận là một thể loại văn “luận bàn về
các vấn đề chính trị, xã hội, triết học, đạo đức” [2; tr 110]. Sức mạnh của văn
chính luận không chỉ ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm mà còn ở tính mạch
lạc, chặt chẽ của trình bày, sự thuyết phục của lập luận. Văn bản chính luận có
cách trình bày hợp lôgic, “luận điểm nêu ra phải rõ ràng, lập luận phải chặt chẽ,
luận cứ phải đáng tin cậy” [3; tr120]. Văn chính luận thường vận dụng các thao
tác nghị luận như giải thích, chứng minh, phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận.
“Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) là một bài viết chính luận xuất sắc của văn
học trung đại Việt Nam. Văn bản được viết bằng thể Chiếu – một thể văn chính
luận trung đại có nguồn gốc từ Trung Quốc. Nó được Ngô Thì Nhậm viết thay
lời vua Quang Trung và ra đời khoảng năm 1788 – 1789 với một mục đích hết
sức quan trọng: “thuyết phục sĩ phu Bắc Hà, tức các trí thức triều đại cũ (Lê –
Trịnh) ra cộng tác với triều đại Lê Sơn” [1; tr 68]. Để đạt được mục đích trên,
Ngô Thì Nhậm đã “trau chuốt”, “gọt giũa” công phu, khéo léo bài viết trên tất cả
các yếu tố. “Bài văn nghị luận này có tính mẫu mực, thể hiện ở sự chặt chẽ và
tính lôgic của các luận điểm, trong sự thuyết phục khéo léo, trong cách bày tỏ
thái độ khiêm tốn của người viết” [4; tr 81]. Bài viết đã thể hiện một lối tư duy
sáng rõ trong xây dựng bố cục, trình bày luận điểm, lối lập luận khúc chiết, chặt
chẽ kết hợp cùng sự nồng nàn của cảm xúc ở ngôn từ và câu văn. “Chiếu cầu
hiền” đã tác động đến cả lí trí, tình cảm của người tiếp nhận, góp phần làm nên
sự lớn mạnh của vương triều Tây Sơn nửa cuối thế kỉ XVIII.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Văn chính luận là một thể loại văn xuất hiện khá nhiều trong chương trình

+ Phần 2: Lí do cầu hiền (đoạn 2,3,4)
+ Phần 3: Sách lược cầu hiền (đoạn 5)
- Câu hỏi: Hãy nhận xét về bố cục trên. Xem lại mục đích viết của văn bản và
cho biết bố cục trên có ý nghĩa như thế nào ?
 Định hướng HS trả lời: Bố cục rõ ràng, mạch lạc, chặt chẽ. Bố cục trên đã thể
hiện rõ mục đích của văn bản là thuyết phục, kêu gọi hiền tài ra giúp nước.
2.3.1.2. Rèn luyện, nâng cao kĩ năng xây dựng bố cục bài nghị luận.
- Giao bài tập về nhà, GV yêu cầu HS lập bố cục cho bài viết sau: Bệnh vô cảm
trong giới trẻ hiện nay.
 Gợi ý HS làm bài:
+ Cần xác định đối tượng, mục đích nghị luận
+ Cần căn cứ vào đối tượng, mục đích nghị luận để xây dựng bố cục 3 phần,
nội dung chính từng phần.
 Bài làm của HS Nguyễn Thị Nga (Lớp 11 A3):
+ Xác định đối tượng, mục đích nghị luận:
* Đối tượng nghị luận: bệnh vô cảm - căn bệnh tâm hồn của giới trẻ.
* Mục đích nghị luận: bàn luận về các phương diện như thực trạng,
nguyên nhân, hậu quả và đề xuất giải pháp khắc phục bệnh vô cảm trong giới
trẻ.
+ Bố cục 3 phần và nội dung chính từng phần:
* Mở bài: Giới thiệu và nêu vấn đề: giới trẻ hiện nay đang mắc bệnh vô
cảm.
* Thân bài: Trình bày thực trạng, biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả.
* Kết bài: Suy nghĩ về giải pháp đẩy lùi căn bệnh trên.
3


LƯU THỊ LAN

Sáng kiến kinh nghiệm

thức mở bài sáng tạo để thu hút, hấp dẫn người đọc?
 Định hướng HS trả lời: Mở bài không chỉ cần nêu chính xác, ngắn gọn vấn đề
mà còn phải tạo được sức thu hút, hấp dẫn người đọc tìm hiểu văn bản. Có một
cách thức mở bài sáng tạo mà ta có thể học hỏi từ Ngô Thì Nhận. Đó là mở bài
theo lối tương liên. Người viết mượn đến những hình ảnh, câu nói, ý kiến có
liên quan đến vấn đề, sau đó dẫn dắt khéo léo đến vấn đề cần trình bày. Cần lựa
chọn hình ảnh phù hợp, câu nói nổi tiếng đã được mọi người thừa nhận thì mới
giàu sức thuyết phục.
2.3.2.3. Rèn luyện, nâng cao kĩ năng viết mở bài của HS.
- Giao bài tập về nhà, GV yêu cầu HS luyện viết mở bài theo lối tương liên: Hãy
viết mở bài theo lối tương liên cho bài viết “Bệnh vô cảm trong giởi trẻ hiện
nay”.
 Gợi ý HS làm bài:
+ Mượn một câu nói nổi tiếng có liên quan đến vấn đề để làm câu luận đề
4


LƯU THỊ LAN

Sáng kiến kinh nghiệm

+ Dẫn dắt khéo léo sang vấn đề cần trình bày.
 Bài làm ở nhà của HS Nguyễn Thị Mai Linh (Lớp 11 A3):
Nhà văn Nga M. Gooc-ki từng có câu nói nổi tiếng: “Nơi lạnh nhất không phải
là Bắc Cực mà là nơi thiếu tình thương”. Còn có nơi nào lạnh lẽo hơn lòng
người vô càm? Nó âm thầm hủy diệt sự sống và tâm hồn của con người. Thế mà,
một bộ phận trong giới trẻ hôm nay lại đang mang căn bệnh vô cảm đáng sợ ấy.
2.3.3. Qua phân tích cách lập luận của tác giả, giúp HS rèn luyện, nâng cao
kĩ năng lập luận.
2.3.3.1. Nhận diện, đánh giá, rút kinh nghiệm về cách lập luận của tác giả.

- Câu hỏi: Khi chỉ ra thái độ bất hợp tác của kẻ sĩ Bắc Hà với triều đại mới, Ngô
Thì Nhậm đã triển khai bằng cách nào? Cách triển khai đó mang lại hiệu quả gì?
 Định hướng HS trả lời: Tác giả triển khai bằng cách so sánh giữa trước đây
và nay: “Trước đây thời thế suy vi, Trung châu gặp nhiều biến cố, kẻ sĩ phải ở
5


LƯU THỊ LAN

Sáng kiến kinh nghiệm

ẩn trong ngòi khe…” và “Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong
mỏi, nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy có ai tìm đến...”. Hiệu quả
trước hết là cho kẻ sĩ thấy tính chất khác nhau của hai thời đại, trước đây là thời
suy vi, loạn lạc, nay là thời ổn định, vua hiền. Hơn nữa, cách lập luận còn thể
hiện sự cảm thông với thái độ trốn tránh trước kia và sự trách móc nhẹ nhàng
với thái độ bất hợp tác hiện nay của kẻ sĩ Bắc Hà.
- Câu hỏi: Khi trình bày tình hình hiện tại của đất nước, tác giả triển khai bằng
cách nào? Cách triển khai đó mang lại hiệu quả gì?
 Định hướng HS trả lời: Tác giả triển khai bằng cách phân tích. Tác giả phân
tích những thử thách, khó khăn: buổi đầu của nền đại định, công việc vừa mới
mở ra, kỉ cương triều chính còn nhiều khiếm khuyết, dân còn nhọc mệt… Nó
mang lại hiệu quả là giúp cho kẻ sĩ thức tỉnh về trách nhiệm với nước, với dân.
- Câu hỏi: Từ đó, anh/chị học hỏi được gì về phương pháp lập luận?
 Định hướng HS trả lời: Khi triển khai luận điểm cần áp dụng linh hoạt nhiều
phương pháp lập luận khác nhau. Có thể lập luận bằng cách giải thích, chứng
minh, so sánh, phân tích, bác bỏ hoặc bình luận. Cách lập luận cần phù hợp với
nội dung luận điểm, đối tượng và mục đích nghị luận.
2.3.3.2. Rèn luyện, nâng cao kĩ năng lập luận của HS.
- Giao bài tập về nhà, yêu cầu HS:


- Câu hỏi: Tại sao khi chỉ ra thái độ bất hợp tác của trí thức Bắc Hà với vương
triều mới, Ngô Thì Nhậm không sử dụng cách nói thẳng, trực tiếp mà mượn đến
hàng loạt các từ ngữ, hình ảnh điển cố, điển tích? Chỉ ra hiệu quả của cách nói
đó.
 Định hướng HS trả lời: Đó là cách nói trang trọng và rất tế nhị, khôn khéo
vừa thể hiện sự tôn trọng hiền tài, vừa tạo ấn tượng tốt về vua Quang Trung, một
con người văn võ kiêm toàn.
- Câu hỏi: Nhận xét về cách sử dụng lời lẽ của tác giả (viết thay lời vua Quang
Trung) ở đoạn "Nay trẫm đang (...) phụng sự vương hầu chăng?"
 Định hướng HS trả lời: Các từ ngữ như "ghé chiếu lắng nghe", "ngày đêm
mong mỏi", "trẫm ít đức",... thể hiện thái độ cầu hiền khiêm tốn, chân thành của
vua Quang Trung.
- Câu hỏi: Ở đầu và cuối bài chiếu, tác giả đã sử dụng những lớp từ ngữ như thế
nào?
 Định hướng HS trả lời: Ở đầu và cuối bài chiếu tác giả tạo nên một lớp từ
ngữ không gian vũ trụ rộng lớn như "trời", "trời đất", "sao", "gió mây" hàm
chứa ý nghĩa trọng đại của người hiền tài theo triết lí tam tài thiên - địa - nhân.
- Câu hỏi: Văn bản còn có một lớp từ ngữ hàm nghĩa không gian xã hội, nơi thi
thố tài năng, phụng sự cho triều đình và đất nước, nhân dân như "triều đường",
"triều chính", "dải đất văn hiến", "trăm họ",... Các từ ngữ diễn tả không gian nói
trên đem lại hiệu quả gì cho lời kêu gọi hiền tài của bài chiếu?
 Định hướng HS trả lời: Các từ ngữ diễn tả không gian nói trên đem lại cảm
giác trang trọng, thiêng liêng cho lời kêu gọi hiền tài. Nhóm từ ngữ không gian
xã hội còn khơi dậy ý thức trách nhiệm về quốc gia, dân tộc ở hiền tài.
- Câu hỏi: Đánh giá chung về ngôn ngữ chính luận của tác giả.
 Định hướng HS trả lời: Ngôn ngữ chính luận của tác giả vừa chính xác vừa
giàu sức biểu cảm: khi trang trọng, lúc khiêm tốn; khi khéo léo, tế nhị, lúc mạnh
mẽ, hào sảng. Yếu tố ngôn ngữ đó đã tăng sức thuyết phục cho bài chiếu.
2.3.4.1.2. Nhận diện và đánh giá về cách đặt câu của tác giả.

người khác? Bạn đi học cùng đường bị hỏng xe cũng mặc kệ, sợ dừng lại giúp
bạn lại phiền phức, lôi thôi ! Nhìn thấy bạn cùng lớp bị các anh lớp trên bắt nạt
cũng ngó lơ, họ chả liên quan gì đến mình, dây dưa vào sợ bị liên lụy! Chính
tâm lí sống “chỉ biết mình” là nguyên nhân chính gây nên căn bệnh vô cảm, trơ
lì cảm xúc của một số bạn trẻ. Phải kể đến một yếu tố khác là giáo dục của gia
đình. Một số gia đình ít dạy bảo con cái về sự đồng cảm với người khác, biết
yêu thương giúp đỡ những người chung quanh. Có nhiều ông bố bà mẹ cưng
chiều con, đáp ứng tất cả các đòi hỏi, yêu cầu vô lối của con một cách vô điều
kiện, nhưng lại không dạy con phải biết chia sẻ, quan tâm và có trách nhiệm với
người thân, bạn bè. Một đứa trẻ chỉ biết “nhận” mà không biết “cho” thì lớn lên
thử hỏi có biết quan tâm đến người khác, có rung động trước tình người, có nhỏ
lệ trước nỗi đau của người khác? Chắn chắn là không thể! Dẫn tới điều “không
thể” trên, còn phải nhắc đến sự giáo dục của nhà trường. Nó cũng ít nhiều gây
nên căn bệnh tâm hồn đó. Một số trường học chỉ quan tâm đến việc nhồi nhét tri
thức, trọng thành tích. Học sinh chỉ biết học nhiều để được điểm cao, học nhiều
để thi tốt, học nhiều để đậu vào trường đại học chất lượng… Lối dạy và học đó
đã đào tạo ra những kẻ mọt sách, người máy, rô bốt nói không với cảm xúc.
Cuối cùng, không thể không nhắc đến nguyên nhân từ môi trường xã hội. Cùng
với sự phát triển của công nghệ, mạng internet tràn lan ở khắp mọi nơi với các
trò chơi điện tử, facebook, zalo, blog,... Nhiều bạn trẻ sa đà, chìm đắm quá lâu
vào thế giới ảo của các trang mạng xã hội để rồi lơ là, hờ hững, bỏ quên cả thế
giới thực, con người thực. Internet, nếu lạm dụng, nó sẽ như một thứ thuốc gây
nghiện, phá hủy thể xác, thiêu đốt tâm hồn và hủy hoại mọi mối quan hệ tốt đẹp
giữa người với người.

8


LƯU THỊ LAN


50%

Điểm 5
SL
%
15
34%

Điểm dưới 5
SL
%
7
16%

Sau khi vận dụng (Bài kiểm tra cuối học kì I - năm học 2017-2018)
Lớp
11A3

Số
Điểm 8 – 10
lượng SL
%
44
5
11%

Điểm 6 – 7
SL
%
30

Sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện trên tinh thần tích hợp việc hướng dẫn
đọc văn văn bản “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) với việc rèn luyện, nâng cao
kĩ năng viết văn nghị luận cho HS. Bài viết xuất phát từ đặc trưng bài học và
nhu cầu nâng cao kĩ năng viết văn nghị luận của HS mà các tiết học Làm văn
chưa thể thực hiện được. Hoạt động dạy học kết hợp giữa nhận biết, nhận xét về
các phương diện đặc sắc của bài học với liên hệ thực tiễn viết văn của HS, nhắc
nhở rút kinh nghiệm, giao bài tập về nhà, gợi ý làm bài… của GV sẽ giúp HS
vừa chủ động lĩnh hội tri thức bài học, vừa rèn luyện, nâng cao kĩ năng viết văn
nghị luận. Trải qua thời gian nghiên cứu và kiểm nghiệm, bản thân tôi đã đạt
được những kết quả khả quan. Tôi rút ra nhiều bài học kinh nghiệm thiết thực
cho bản thân. Tôi nhận thấy, không nên xem nhẹ bất cứ bài học, dạng văn bản
nào vì mỗi bài học, mỗi thể loại văn chương đều có ý nghĩa thiết thực đối với
việc giáo dục tâm hồn và hình thành kĩ năng cho HS. Tôi tin tưởng sáng kiến
kinh nghiệm này sẽ được đồng nghiệp ủng hộ và ứng dụng trong hoạt động
giảng dạy.
3.2. Kiến nghị
Được biết Bộ Giáo dục và Đào tạo đang có chủ trương đổi mới chương trình,
SGK trong những năm học tới, tôi hy vọng các nhà biên soạn sách sẽ chọn lựa
được thêm những bài văn chính luận xuất sắc để chúng tôi có thêm cơ hội thực
hiện mục tiêu nâng cao kĩ năng viết văn nghị luận ở HS qua bài đọc văn văn
chính luận.
3.3. Lời cảm ơn
Đề tài này đang trong thời gian nghiên cứu nên không tránh khỏi những hạn
chế và bất cập. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, hội
đồng khoa học nhà trường để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, tổ Văn và các bạn đồng
nghiệp đã giúp tôi hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này.

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status