Tác động của việc quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của các công ty ngành thực phẩm niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ HỒNG CẨM

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN
LÊN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH
THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ HỒNG CẨM

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN
LÊN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH
THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG (Hướng ứng dụng)
Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN NGỌC THƠ


1.3. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................................2
1.4. Phạm vi nghiên cứu ..........................................................................................3
1.5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................3
1.6. Bố cục 3
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
.............................................................................................................5
2.1. Tổng quan lý thuyết..........................................................................................5
2.1.1 Vốn luân chuyển và quản trị vốn luân chuyển ..........................................5
2.1.2 Các thành phần của vốn luân chuyển ........................................................5
2.1.3 Mục tiêu của quản trị vốn luân chuyển......................................................7
2.1.4 Các phương pháp quản trị vốn luân chuyển ..............................................7
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây ...............................................................8
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................12
3.1. Mô hình nghiên cứu .......................................................................................12
3.2. Mô tả biến và dữ liệu......................................................................................12
3.2.1 Mô tả biến ................................................................................................12


3.2.2 Mô tả dữ liệu ............................................................................................14
3.3. Phương pháp và quy trình nghiên cứu ...........................................................14
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu .........................................................................14
3.3.2 Quy trình nghiên cứu ...............................................................................15
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ..............................17
4.1. Thống kê mô tả ...............................................................................................17
4.2. Phân tích tương quan ......................................................................................19
4.3. Các kiểm định của mô hình ............................................................................20
4.4. Phân tích kết quả hồi quy ...............................................................................22
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN ......................................................................................29
5.1. Kết luận ..........................................................................................................29
5.2. Khuyến nghị ...................................................................................................29

Cash Conversion Cycle

Chu kỳ luân chuyển tiền

CG

Corporate Governance

Quy mô hội đồng quản trị

GDP

The gross domestic product growth

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

GOP

Gross Operating Profit

Tỷ lệ lợi nhuận gộp

HNX

Ha Noi Stock Exchange

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

HOSE


Working Capital Management

Quản trị vốn luân chuyển


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Tổng hợp các biến ................................................................................... 14
Bảng 4.1. Thống kê mô tả ........................................................................................ 17
Bảng 4.2. Phân tích tương quan ............................................................................... 19
Bảng 4.3. Kết quả kiểm định tự tương quan của các mô hình ................................ 20
Bảng 4.4. Kết quả kiểm định phương sai thay đổi của các mô hình ....................... 21
Bảng 4.5. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến của các mô hình ................................ 22
Bảng 4.6. Phân tích hồi quy bằng Pooled OLS mô hình (1) ................................... 23
Bảng 4.7. Phân tích hồi quy bằng Pooled OLS mô hình (2) ................................... 24
Bảng 4.8. Phân tích hồi quy bằng Pooled OLS mô hình (3) ................................... 25
Bảng 4.9. Phân tích hồi quy bằng Pooled OLS mô hình (4) ................................... 26
Bảng 4.10. Tổng hợp kết quả nghiên cứu ................................................................ 28


TÓM TẮT
Bài luận văn này nhằm nghiên cứu về tác động của việc quản trị vốn luân
chuyển lên khả năng sinh lợi của các công ty ngành thực phẩm niêm yết trên sàn
chứng khoán Việt Nam. Dữ liệu sử dụng trong bài nghiên cứu này thu thập từ báo
cáo tài chính của các công ty ngành thực phẩm được niêm yết trên Sở Giao dịch
Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) từ
năm 2014 đến 2018. Bằng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu (pooled
OLS), kết quả nghiên cứu cho thấy quản trị vốn luân chuyển được đo lường bằng chu
kỳ luân chuyển tiền (CCC) và tỷ suất lợi nhuận gộp của các công ty ngành thực phẩm
có mối quan hệ nghịch biến. Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy mối quan
hệ nghịch biến giữa kỳ phải thu (AR), kỳ phải trả (AP), kỳ lưu kho (INV) với tỷ lệ

Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014) cho rằng, vốn luân chuyển (Working
Capital) là sự chênh lệch giữa nợ ngắn hạn phải trả và tài sản ngắn hạn. Theo nghĩa
rộng, vốn luân chuyển là tài sản ngắn hạn gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công
ty. Vốn luân chuyển còn được coi là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, là một nguồn
vốn dễ biến động. Đó là lý do cần thiết phải quản trị vốn luân chuyển vì nó có ảnh
hưởng đến rủi ro và lợi nhuận, từ đó tác động đến giá trị của doanh nghiệp.”
Ngày nay ở nước ta, trong một nền kinh tế thị trường còn trẻ, với sự cạnh tranh
khốc liệt trong giai đoạn mở cửa và hội nhập, phong cách tiêu dùng hiện đại và nguồn
cung nguyên liệu đầu vào trong nước đa dạng phong phú, cơ hội dành cho những
công ty ngành thực phẩm ngày càng tăng cao. Tính đến thời điểm hiện nay, đánh giá
về tiềm năng tăng trưởng, ngành thực phẩm chiếm khoảng 15% GDP và có xu hướng
tăng lên trong thời gian tới. Theo ước tính của Tổ chức giám sát kinh doanh quốc tế
(BMI), tốc độ tăng trưởng ngành thực phẩm sẽ cao hơn trong giai đoạn 2016-1019,
trong đó khả năng Việt Nam sẽ đứng vị trí thứ ba Châu Á. Đặc biệt đối với ngành
thực phẩm tại Việt Nam từ lâu nay được ví như “mỏ vàng” với nhiều nhà đàu tư trong
nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài lao vào rót vốn đầu tư và cạnh tranh. Đây cũng
là động lực của các nhà đầu tư trong nước vươn lên để khảng định vị thế trên lãnh thổ
của mình và tiếp tục vươn ra thế giới. Một số thương hiệu đã có mặt ở nước ngoài có
thể kể đến như sữa Vinamilk, cà phê Trung Nguyên, bánh kẹo Kinh Đô… đã được
xuất khẩu ra các nước trên thế giới và đang trên đà tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, để giữ
vững và mở rộng vị thế trên thị trường, các công ty cũng phải tập trung vào những


2

điểm yếu trong thời điểm hiện tại, khắc phục và làm chủ những biến động trên thị
trường thời gian tới. Trong nền kinh tế như vậy, liệu có tồn tại mối quan hệ giữa khả
năng sinh lợi và quản trị vốn luân chuyển của các công ty ngành thực phẩm, và nếu
có thì giống hay khác với các nước trên thế giới? Đó là lý do để thực hiện bài nghiên
cứu này: “Tác động của việc quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của

có quy mô lớn được niêm yết tại HNX và HOSE.
Phạm vi thời gian: Thực hiện trong giai đoạn 5 năm từ 2014 đến 2018.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng phần mềm STATA trong phân
tích định lượng để xây dựng các mô hình phân tích hồi quy cho dữ liệu dạng bảng
nhằm xem xét tác động của việc quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của
các công ty.
Dữ liệu sử dụng trong bài nghiên cứu này thu thập từ báo cáo tài chính đã được
kiểm toán của các công ty ngành thực phẩm được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng
khoán TP.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) từ năm 2014
đến 2018 từ trang www.finance.vietstock.vn. Sau đó, loại trừ các công ty có dữ liệu
không liên tục, cuối cùng thu thập được 32 công ty, với 160 quan sát. Dữ liệu thu
thập được tác giả xử lý bằng Microsoft Excel trước khi ước lượng hồi quy dữ liệu
bảng bằng Stata.
1.6. Bố cục
Ngoài phần tóm tắt, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng, danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung của luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Giới thiệu cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, phạm vi, đối tượng, và phương
pháp nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan
Tổng quan lý thuyết về vốn luân chuyển, quản trị vốn luân chuyển, khả năng
sinh lợi của doanh nghiệp đồng thời tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
liên quan.


4

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày mô hình nghiên cứu, mô tả biến, mô tả dữ liệu, phương pháp và quy

khách hàng và các khoản phải trả người bán. Hàng tồn kho là những tài sản: (a) được
giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường; (b) đang trong quá trình sản
xuất, kinh doanh dở dang; (c) nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong
quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ (theo Chuẩn mực kế toán Việt
Nam số 02). Việc dự trữ hàng tồn kho nhiều hay ít đều có tính hai mặt. Một mặt, duy
trì lượng hàng tồn kho dự trữ ở mức cao sẽ làm giảm chi phí do sự gián đoạn trong
quá trình sản xuất gây ra, hoặc giảm các tổn thất do sự khan hiếm hàng hóa, giảm
thiểu chi phí đặt hàng, bảo vệ doanh nghiệp khỏi các biến động giá cả, cùng một số
lợi thế khác (Blinder và Manccini, 1991). Tuy nhiên, việc duy trì mức hàng tồn kho
cao đồng nghĩa với nguồn vốn của doanh nghiệp bị đóng băng trong khoản mục này,


6

đồng thời doanh nghiệp còn phải chịu một số rủi ro kinh doanh (hàng hoá bị hư hỏng,
bị đánh cắp, lỗi thời…) và gánh thêm chi phí lưu kho. Vì vậy, điều này sẽ làm giảm
tính thanh khoản và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các khoản phải thu khách hàng được coi như là một khoản tín
dụng ngắn hạn mà doanh nghiệp cấp cho khách hàng của mình. Các doanh nghiệp có
thể tập trung vào việc tăng doanh số bằng cách cung cấp tín dụng thương mại (bán
chịu) cho khách hàng của mình. Việc cung cấp tín dụng thương mại có thể giúp doanh
thu được cải thiện tốt hơn. Nhưng điều đó cũng có thể làm tăng vòng quay hàng tồn
kho, có thể dẫn đến các vấn đề về dòng tiền vì một số khoản phải thu khách hàng có
thể mất nhiều thời gian hơn để được giải quyết. Vì vậy, cũng giống như hàng tồn kho,
đầu tư quá lớn vào khoản mục này cũng sẽ làm khả năng sinh lời của doanh nghiệp
bị giảm.
Đồng thời việc cấp tín dụng cho khách hàng thì doanh nghiệp cũng sẽ nhận
được các khoản tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp. Đây là nguồn vốn mà doanh
nghiệp chiếm dụng được, góp phần làm giảm lượng tiền mặt mà doanh nghiệp phải
bỏ ra để đầu tư vào hàng tồn kho và tài khoản phải trả nhà cung cấp. Tuy nhiên, chúng

trường hợp khẩn cấp. Chính sách này cho thấy các công ty đang tăng thêm lượng tiền
mặt và hàng tồn kho một cách đáng kể. Điều này tạo cho doanh nghiệp có cơ hội tăng
doanh thu khi nhu cầu tăng vì lượng hàng tồn kho luôn ổn định và đáp ứng được nhu
cầu khi cần thiết. Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp nắm giữ lượng tiền mặt lớn thì doanh
nghiệp có cơ hội đầu cơ nguyên vật liệu đầu vào với giá tốt. Tuy nhiên, nếu nền kinh
tế đang khó khăn trì trệ, nhu cầu thị trường giảm đi thì khi đó doanh nghiệp dự trữ
hàng tồn kho lớn sẽ có rủi ro cao và mạo hiểm.
Ngược lại, phương pháp quản trị mạo hiểm hoàn toàn đối lập với phương pháp
quản trị thận trọng. Điều này phản ánh phương pháp quản trị mạo hiểm là việc cắt
giảm tối thiểu lượng tiền mặt và hàng tồn kho của doanh nghiệp. Điều này có thể dẫn
đến tính thanh khoản kém. Phương pháp này có thể mất cơ hội tăng doanh số do
lượng hàng tồn kho không đủ để cung ứng khi nhu cầu thị trường tăng cao, có thể dẫn
đến mất thị phần. Ngoài ra, việc lượng tiền mặt nắm giữ thấp doanh nghiệp có thể bị
mất cơ hội để đàm phán được giá tốt và mất cơ hội trong việc đầu cơ nguyên vật liệu,
hàng hóa đầu vào với giá rẻ. Tuy nhiên phương pháp quản trị mạo hiểm cũng có ưu


8

điểm là không bị chôn vốn nhiều vào hàng tồn kho và tiền mặt nhàn rỗi, giảm chi phí
sử dụng vốn.
Sự dung hòa giữa hai phương pháp quản trị mạo hiểm và bảo thủ là phương
pháp quản trị ôn hòa. Phương pháp này sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho
tài sản ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Tiền mặt và
lượng hàng tồn kho được nắm giữ ở mức độ cân đối vừa phải. Ngoài ra, phương pháp
này hạn chế rủi ro khả năng thanh toán, giúp tình hình tài chính doanh nghiệp được
ổn định.
Cuối cùng, điều quan trọng cần lưu ý là phương pháp quản trị vốn luân chuyển
nên xem xét bản chất của doanh nghiệp vì các doanh nghiệp khác nhau sẽ có yêu cầu
vốn luân chuyển khác nhau. Vì vậy, quyết định và duy trì một phương pháp quản trị

lợi thấp thì lợi nhuận thấp nên phải chờ lâu hơn mới có tiền thanh toán những hóa
đơn do mối tương quan âm.”
Tác giả Eljelly (2004) đã kiểm tra thực nghiệm mối quan hệ giữa lợi nhuận và
thanh khoản trên một mẫu của 929 công ty cổ phần ở Saudi Arabia. Sử dụng phân
tích tương quan và hồi quy, Eljelly tìm thấy mối quan hệ nghịch biến đáng kể giữa
hiệu quả hoạt động của công ty và mức thanh khoản của nó, được đo bằng tỷ lệ thanh
khoản hiện hành. Mối quan hệ này rõ rệt hơn đối với các công ty có tỷ lệ thanh khoản
hiện hành cao và chu kỳ chuyển đổi tiền dài. Tuy nhiên, ở cấp độ ngành, ông nhận ra
rằng chu kỳ luân chuyển mặt có tầm quan trọng hơn như là thước đo thanh khoản hơn
tỷ lệ thanh khoản hiện hành ảnh hưởng đến lợi nhuận.
Hai tác giả Filbeck và Krueger (2005) nhấn mạnh vai trò của quản trị vốn
luân chuyển bằng cách phân tích các phương pháp quản trị của 32 ngành phi tài chính
ỏ Mỹ. Theo những phát hiện của họ, sự khác biệt đáng kể trong thực tiễn vốn luân
chuyển tồn tại giữa các ngành công nghiệp theo thời gian. Các nghiên cứu có kết quả
tương tự với Long và cộng sự (1993), Maxwell và cộng sự (1998).
Raheman và Nasr (2007) đã tìm kiếm mối quan hệ giữa vốn luân chuyển và
lợi nhuận của 94 công ty tại Pakistan niêm yết trên Sàn giao dịch Karachi từ 19992004. Kết quả của nghiên cứu tìm thấy giữa các biến quản trị vốn luân chuyển và khả
năng sinh lợi của công ty có mối quan hệ nghịch biến. Bài nghiên cứu cho thấy khả
năng sinh lợi của các công ty giảm khi chu kỳ luân chuyển tiền tăng lên và các nhà
quản trị có thể giảm chu kỳ luân chuyển tiền đến một mức tối thiểu để tạo ra giá trị


10

dương cho các cổ đông. Vì vậy, họ kết luận rằng lợi nhuận của công ty bị ảnh hưởng
lớn bởi CCC của nó.
Gill và cộng sự (2010) đã xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển
và khả năng sinh lợi của 88 công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán
NewYork (NYSE) từ năm 2005 đến 2007 để nghiên cứu. Kết quả là giữa chu kỳ luân
chuyển tiền và khả năng sinh lợi có mối quan hệ nghịch biến. Phát hiện này chỉ ra

Ukaegbu (2014) đã tìm hiểu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và lợi
nhuận của các công ty tại Ai Cập, Kenya, Nigeria và Nam Phi trong giai đoạn từ năm
2005 đến năm 2009. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch biến mạnh mẽ
giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và tỷ lệ lợi nhuận hoạt động của công ty. Điều này
ngụ ý rằng, khi chu kỳ luân chuyển tăng (giảm) thì lợi nhuận của công ty sẽ giảm
(tăng). Như vậy, nhà quản trị có thể gia tăng giá trị cổ đông bằng cách giảm khoản
phải thu, bán hàng tồn kho càng nhanh càng tốt đồng thời trì hoãn các khoản thanh
toán cho khách hàng với điều kiện không làm ảnh hưởng đến xếp hạn tín dụng của
công ty.
Riêng ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Uyên Uyên và Từ Thị Kim Thoa
(2014)“phân tích dữ liệu từ 2006 đến 2012 của 208 công ty phi tài chính niêm yết
trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán
TP.HCM (HOSE) kiểm định mối quan hệ giữa khả năng sinh lợi và quản trị vốn luân
chuyển ở các doanh nghiệp Việt Nam bằng các phương pháp ước lượng bình phương
tối thiểu (pooled OLS), bình phương tối thiểu tổng quát (GLS), mô hình hiệu ứng cố
định (FEM). Qua bài nghiên cứu này cho thấy rằng các doanh nghiệp có thể tăng lợi
nhuận bằng việc rút ngắn kỳ thu tiền, kỳ lưu kho.”
Tóm lại, các bài nghiên cứu trên được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau
và thời gian nghiên cứu không giống nhau bằng những phương pháp khác nhau. Nhìn
chung kết quả của những nghiên cứu trên, phần lớn cho các nhà quản trị thấy rằng
khả năng sinh lời của công ty chịu sự tác động của việc quản trị vốn luân chuyển.


12

CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mô hình của Ukaegbu (2014), và công thức tính các biến
sẽ trình bày bên dưới:
(1) GOPit= β0 + βGDP(GDPt) + βSIZE(SIZEit) + βCG(CGit) + βAR(ARit) + 𝜇it

• AP: kỳ phải trả ngắn hạn được tính bằng các khoản phải trả cho người bán
chia cho giá vốn hàng bán chịu nhân 360 ngày. Quá trình kéo dài kỳ thanh
toán để dành cho các khoản đầu tư khác thì có thể làm mất uy tín của công
ty việc này có thể làm giảm khả năng sinh lợi của công ty vì thế công ty
luôn muốn rút ngắn kỳ thanh toán.
• INV: kỳ lưu kho được đo bằng hàng tồn kho chia cho giá vốn hàng bán
nhân cho 360 ngày. Việc rút ngắn vòng quay hàng tồn kho sẽ đẩy nhanh
quá trình kinh doanh làm tăng doanh thu và giảm các chi phí liên quan đến
việc nắm giữ hàng tồn kho từ đó làm tăng khả năng sinh lợi của công ty.
• CCC = AR + INV – AP, chu kỳ này càng nhỏ thì thời gian mà công ty thu
hồi lại tiền mặt càng ngắn. Các nhà quản lý có khuynh hướng giảm CCC
để có thể đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn cũng như đầu tư vào các khoản
có khả năng sinh lợi.
Ngoài ra còn sử dụng thêm các biến kiểm soát cũng có tác động đáng kể
đến khả năng sinh lợi của công ty.
• SIZE: biến này được dùng làm đại diện cho kích cỡ công ty. Những công
ty càng lớn được mong đợi có khả năng sinh lợi càng cao. Quy mô doanh
nghiệp như một yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp và sử dụng chỉ số logarit tự nhiên tổng tài sản của doanh nghiệp
để đo lường.
• CG: quy mô hội đồng quản trị, được tính bằng logarit số lượng thành viên
hội đồng quản trị.
• GDP: tốc độ tăng trưởng kinh tế, biến này có thể tác động đến nhu cầu đầu
tư vào vốn luân chuyển, tạo điều kiện cho việc gia tăng lợi nhuận.


14

Bảng 3.1. Tổng hợp các biến
Biến


CCC

AR + INV –AP

Quy mô ban quản trị

CG

Logarit số thành viên hội đồng quản trị

Quy mô công ty

SIZE

Logarit của tổng tài sản

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

GDP

3.2.2 Mô tả dữ liệu
Bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu gồm 32 công ty ngành thực phẩm được
niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng
khoán TP.HCM (HOSE), giai đoạn 2014 – 2018 với tổng cộng 160 quan sát. Các
công ty này đều thỏa mãn điều kiện có đầy đủ dữ liệu và hoạt động trong giai đoạn
nghiên cứu, đồng thời vẫn được niêm yết trên sàn HNX và HOSE tính đến thời điểm
thực hiện bài nghiên cứu. Dữ liệu được lấy từ dữ liệu liên quan đến báo cáo tài chính
đã kiểm toán từ trang www.finance.vietstock.vn (từ 2 bảng: Bảng cân đối kế toán,
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh). Cụ thể dữ liệu lấy từ các chỉ tiêu sau: doanh

• H0: kỳ phải trả người bán không có mối quan hệ với tỷ lệ lợi nhuận gộp.
• H1: kỳ phải trả người bán có mối quan hệ với tỷ lệ lợi nhuận gộp.
(3) GOPit= β0 + βGDP(GDPt) + βSIZE(SIZEit) + βCG(CGit) + βINV(INVit) + 𝜇it
Giả thuyết
• H0: kỳ lưu kho không có mối quan hệ với tỷ lệ lợi nhuận gộp.
• H1: kỳ lưu kho có mối quan hệ với tỷ lệ lợi nhuận gộp.


16

(4) GOPit= β0 + βGDP(GDPt) + βSIZE(SIZEit) + βCG(CGit) + βCCC(CCCit) + 𝜇it
Giả thuyết
• H0: chu kỳ luân chuyển tiền không có mối quan hệ với tỷ lệ lợi nhuận gộp.
• H1: chu kỳ luân chuyển tiền có mối quan hệ với tỷ lệ lợi nhuận gộp.
Bước 4: Phân tích kết quả hồi quy, đánh giá và nêu ý nghĩa mối quan hệ giữa
các thành phần vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty. Nghiên cứu tiến
hành kiểm định giả thuyết về hệ số hồi quy: nhằm đưa ra kết quả có ý nghĩa thống kê
của mô hình, tác giả xem xét hệ số p-value để kiểm tra giả thuyết cho các hệ số hồi
quy của các biến H0: Các thành phần của quản trị vốn luân chuyển (AR, AP, INV,
CCC) không tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp và H1: Một trong các
thành phần của quản trị vốn luân chuyển tác động đến khả năng sinh lời của doanh
nghiệp. Nếu P-value = P (|𝑡| >𝑡0)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status