Một số biện pháp về công tác chủ nhiệm nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học phổ thông triệu sơn 5 - Pdf 57

1. MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. Mở đầu

Trang

1.1. Lí do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lí luận.
2.2. Cơ sở thực tiễn (thực trạng).
2.3. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác giáo dục đạo đức
học sinh.
2.3.1.Vai trò chung.
2.3.2. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong sự phối kết hợp với các
đoàn thể, giáo viên bộ môn, phụ huynh học sinh.
2.3.3. Vai trò của GVCN đối với lớp chủ nhiệm.
2.4. Những biểu hiện và nguyên nhân vi phạm đạo đức của HS.
2.4.1. Những biểu hiện vi phạm đạo đức của HS.
2.4.2. Nguyên nhân.
2.5. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học
sinh của giáo viên chủ nhiệm.
2.5.1. Cách tiếp cận, tiếp nhận học sinh của giáo viên chủ nhiệm.
2.5.2 Lựa chọn Ban cán sự lớp.
2.5.3. Lập sơ đồ lớp học.
2.5.4. Quản lý, giáo dục học sinh bằng các sổ bảng biểu.
2.5.5. Phương pháp nêu gương.
2.5.6. Huy động nội lực tập thể.
2.5.7. Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoài giờ.

- Ngày nay, cùng với sự phát triển đi lên của xã hội, của nền kinh tế thị
trường trong xu thế hội nhập thì sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo càng được
chú trọng, đầu tư và vẫn luôn là “quốc sách hàng đầu” của Đảng và Nhà
nước. Nhưng để Giáo dục mãi là quốc sách hàng đầu thì tất yếu phải có
những đột phá, những đổi mới cần thiết. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XII, Đảng ta đã khẳng định “Đổi mới căn bản toàn diện về Giáo dục đào
tạo, thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng Giáo
dục đào tạo, thực hiện đổi mới chương trình nội dung, phương pháp dạy và
học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lí tưởng, giáo dục truyền
thống lịch sử, cách mạng, đạo đức lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực
hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội…” [1]. Đây là định
hướng cơ bản, thiết thực đối với ngành Giáo dục - Đào tạo (GD&ĐT) nói
chung và vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng.
- Đại thi hào Nguyền Du đã quan niệm “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ
Tài” và Thân Nhân Trung (danh sĩ – tiến sĩ dưới thời vua Lê Thánh Tông,
trong “Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại bảo thứ ba”)
cũng đã khẳng định “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”[2]. Điều đó cho
thấy, bất kỳ thời đại nào, xã hội nào, hoàn cảnh nào thì cái Đức – cái Tâm con
người cũng luôn được đề cao, coi trọng và được đặt lên hàng đầu. Một con
người có cả Đức lẫn Tài là con người được mọi người ngợi ca, trân trọng,
ngưỡng mộ, yêu mến. Một đất nước có nhiều Hiền – Tài là đất nước thịnh
vượng, phát triển. Và một trường học có nhiều trò ngoan, trò giỏi là một địa
chỉ “đỏ” đáng tin cậy của nhân dân. Vì vậy, song song với việc nâng cao trí
tuệ, trình độ văn hóa chúng ta cần tập trung giáo dục đạo đức cho học sinh,
nhất là học sinh Trung học phổ thông (THPT).
- Một trong những vấn đề đáng lo ngại nhất ở các trường THPT hiện nay là
đạo đức học đường của một bộ phận học sinh đang xuống cấp trầm trọng dẫn
đến tình trạng học sinh bỏ học đi chơi, a dua đua đòi, lôi kéo bạn bè tham gia
vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật, xúc phạm giáo viên ... và đặc biệt là

- Ở trường THPT Triệu Sơn 5, nơi tôi đang trực tiếp giảng dạy và giáo dục
học sinh thì vấn đề đạo đức học sinh được nhà trường và cán bộ giáo viên
quan tâm đặc biệt, vì học sinh của trường đa phần là con em nông dân, điều
kiện kinh tế khó khăn, các bậc phụ huynh còn nặng gánh kinh tế gia đình
chưa có nhiều thời gian, điều kiện để quan tâm, sát sao với con em của mình.
Bản thân các em ở tuổi mới lớn, quen sống tự do vì sự buông lỏng, vắng mặt
thường ngày của cha mẹ cộng với sự tác động của mặt trái xã hội (phim ảnh,
quán xá, thói học đòi, a dua...) hấp dẫn các em hơn là sự học. Từ đó dẫn đến
tình trạng học sinh có những biểu hiện lệch lạc trong hành vi đạo đức, lối
sống.
Từ những lí do trên đã thôi thúc tôi quyết định chọn đề tài “Một số biện
pháp về công tác chủ nhiệm nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho
học sinh ở trường Trung học phổ thông Triệu Sơn 5”.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Qua đề tài này, người viết xin nêu lên Vai trò của GVCN lớp, chỉ ra nguyên
nhân dẫn đến HS vi phạm đạo đức người học và đề ra một số biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học THPT.
Từ đó, giúp mọi người có cái nhìn toàn diện về GVCN và nâng cao sứ mệnh
của người GVCN trong các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu vai trò của GVCN trong công tác giáo dục đạo đức học sinh.
- Đâu là nguyên nhân dẫn đến HS vi phạm đạo đức người học
- Tư tưởng đạo đức của HS lớp 12A3 (2016 - 2017), 10A7 (2017 - 2018),
11A7 (2018 – 2019).
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận qua tìm hiểu về luật giáo dục, về nhiệm
vụ, quyền hạn của GVCN.
- Phương pháp quan sát, tìm hiểu, điều tra, phân tích, xử lý.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

Kinh nghiệm giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua tiết sinh hoạt lớp chủ
nhiệm của cô Lê Thị Hạnh, trường THPT Thọ Xuân 5. Tuy nhiên các đề tài
chỉ mới đi vào một khía cạnh nhỏ, một góc nhỏ chưa có cài nhìn bao quát
rộng lớn về phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh.
Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT không phải là ngày một ngày hai,
càng không chỉ một vài ba em mà tất cả các em đều được giáo dục để các em
không chỉ phát triển về trí tuệ, thể chất mà còn phải nuôi dưỡng phần “hồn”
trong mỗi con người.
2.2. Cơ sở thực tiễn (thực trạng).
2.2.1. Thuận lợi:
- Thuận lợi lớn nhất của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường
THPT Triệu Sơn 5 là được sự quan tâm, chú trọng của BGH, các đoàn thể và
được GVCN đặt lên hàng đầu. Để có thể làm tốt công tác giáo dục đạo đức
HS, nhà trường đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đấu mối với Công an xã
Đồng Lợi, công an huyện Triệu Sơn, xây dựng mô hình tự quản, thành lập
Ban nề nếp, đặc biệt là bố chí và giao trách nhiệm chủ nhiệm cho những GV
có năng lực trong quản lý, giáo dục HS và tổ chức các hoạt động văn hóa văn
3


nghệ, thể thao, hành trình khám phá tri thức… để các em được học tập, vui
chơi, khám phá và từng bước rèn luyện nhân cách đạo đức.
- Đội ngũ CBGV của nhà trường còn trẻ, năng nổ, nhiệt tình, sáng tạo,
chuyên tâm trong công việc, bám lớp, bám trường, gần gũi, yêu quý, quan
tâm HS, luôn để ý uốn nắn, giáo dục những biểu hiện vi phạm đạo đức người
học, từng bước giúp các em nhận thức sâu sắc giá trị đạo đức con người,
không để “cái nết đánh chết cái đẹp”.
- Các em đều là con em nông thân, chất chân quên vẫn được nuôi dưỡng,
gìn giữ. Điều kiện khó khăn về kinh tế lại là thuận lợi giúp các em tránh xa
những cám dỗ, tệ nạn, những ham muốn vật chất nhất thời…

2.3.1. Vai trò chung.
- GVCN phải xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu,
nội dung, phương pháp giáo dục nhằm thức đẩy sự tiến bộ của cả lớp, của
từng HS.
4


- Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch nhà trường và lớp đã xây
dựng.
- Phối hợp chặt chẽ với gia đình HS, nhà trường, đoàn thanh niên, ban nề
nếp…để cùng hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện của HS.
- Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình lớp - HS với BGH, với
PHHS.
- Nhận xét, đánh giá, xếp loại HS cuối kỳ, cuối năm đề nghị nhà trường
khen thưởng, kỉ luật.
2.3.2. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong sự phối kết hợp với các đoàn
thể, giáo viên bộ môn, phụ huynh học sinh.
- Giáo dục HS phải đồng bộ trên tinh thần trách nhiệm của cả nhà trường,
gia đình và xã hội. GVCN phải phối kết hợp với GVBM, Ban nề nếp để nắm
bắt tình hình lớp mình, kịp thời phát hiện, khắc phục, ngăn chặn những biểu
hiện vi phạm nội quy trường lớp, vô lễ với GV, … để giáo dục.
- Thường xuyên thông báo việc học tập và rèn luyện của HS theo tuần,
tháng, kỳ để HP nắm được tình hình của con em mình qua hệ thống tin nhắn
vn.edu, qua các kỳ họp phụ huynh. Việc giữ mối liên lạc với gia đình HS sẽ
giúp GVCN nắm bắt được hoàn cảnh, tính cách HS và tìm được sự đồng
thuận, thống nhất, tiếng nói chung trong quản lý, giáo dục đạo đức cho HS.
Có như vậy mới tạo được niềm tin ở PH và việc uốn nắn, cảm hóa, chinh
phục được trái tim HS sẽ dễ dàng hơn nhiều.
- GVCN còn phải chịu trách nhiệm trước nhà trường, PH trong việc giáo dục
đạo đức HS để BGH tin tưởng vào việc giao nhiệm vụ của mình, để PH yên

cảm yêu đương sớm….
2.4.2. Nguyên nhân:
Như đã nêu ra phần thực trạng, tuy nhiên qua nhiều năm làm công tác chủ
nhiệm và giáo dục đạo đức HS, tôi xin được chỉ ra một số nguyên nhân cụ
thể:
- Gia đình thiếu sự quan tâm con cái, quá tin tưởng chiều chuộng hoặc bất
lực trước những hành vi đạo đức của con, bố mẹ không gương mẫu hay bản
thân các em bị một tai nạn khủng hoảng về tâm lý do bố mẹ li hôn hoặc phải
sống trong cảnh bố mẹ bất hòa thường xuyên cãi nhau.
- Ảnh hưởng của xã hội, cám dỗ trước những trò chơi, tệ nạn, bắt chước bạn
bè yêu đương và kết hôn trước tuổi vị thành niên…
- Sự quản lý chưa chặt chẽ, nghiêm túc, thiếu phù hợp của nhà trường, GV và
ngay cách thức phân luồng HS đã dẫn đến 1 lớp có quá nhiều HS cá biệt tạo
cơ hội cho các em a dua, bắt chước nhau khó giáo dục và giáo dục triệt để. Có
những thầy cô giáo chưa linh hoạt trong các tình huống sư phạm khiến cho
nhiều em không tâm phục, thường có biểu hiện chống đối, “bất tuân” đạo đức
càng đi xuống. Để ka
2.5. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh
của giáo viên chủ nhiệm.
2.5.1. Cách tiếp cận, tiếp nhận học sinh của giáo viên chủ nhiệm.
- Ấn tượng ban đầu và cũng là ấn tượng đáng nhớ nhất, khó quên nhất
trong lòng HS cũng như giáo viên chính là khoảnh khắc, giây phút gặp gỡ của
HS và GVCN. Vì vậy thái độ thân thiện, cởi mở của GV vô cùng quan trọng.
Sự thân thiện, gần gũi giúp các em thoải mái, yên tâm và có thiện cảm khi
đến với ngôi trường mới, lớp học mới, thầy cô, bạn bè mới. Vì thế, có những
HS sau một thời gian học tập đã trực tiếp tâm sự “mới đầu vào lớp em rất lo
lắng, ngại ngùng và có chút hơi sợ nhưng khi cô bước vào lớp với cái nhìn
thân thiện, ấp áp các em thấy vững tâm và yên tâm với quyết định của mình”.
- Trong quá trình chủ nhiệm cũng vậy, muốn hiểu HS, đặc biệt là những HS
có tính cách, việc làm, lời nói khác biệt (cá biệt) điều quan trọng hàng đầu là

- Trước khi lập sơ đồ lớp học bao giờ tôi cũng tôn trọng HS, cho phép các
em tự tìm nơi ngồi phù hợp, với điều kiện phải thực hiện nghiêm túc qui định
lớp học, không làm ảnh hưởng đến người khác, đến tập thể. Sau vài ngày
quan sát, nếu thấy phù hợp thì để nguyên còn bất ổn tôi mới trực tiếp sắp xếp
sơ đồ lớp học cố định (tuy nhiên có thể thay đổi theo tháng, kỳ nếu thấy chưa
hợp lí).
- Cách sắp xếp chõ ngồi cho HS là HS nhỏ- thấp, HS có biểu hiện cá biệt
ngồi trên xuống, hài hòa cân đối giữa những HS ngoan, học lực khá với các
em hay nói chuyện, vi phạm nội quy và lực học trung bình, yếu để các em có
điều kiện học hỏi, tự mình sửa đổi hoặc được giúp đỡ của bạn bên cạnh trên
tình thần “Gần đèn thì sáng”. Đây cũng là cách để các em tự giác tuân thủ kỉ
luật do bản thân chủ động, trực tiếp lựa chọn.
2.5.4. Giáo dục học sinh bằng các sổ bảng biểu.
- Sổ điểm danh (theo dõi sĩ số) theo buổi học chính khóa và học thêm –
giao cho lớp trưởng điểm danh, quản ký.
- Sổ ghi vi phạm nền nếp từng buổi học để GVCN nắm được tình hình và
kịp thời khắc phục, uốn nắn HS – giao cho bí thư quản lý.
- Sổ sinh hoạt (biên bản) cuối tuần.
- Sổ theo dõi điểm kiểm tra miệng của HS bị điểm kém và đạt điểm cao để
có chính sách phạt – thưởng nhằm khích lệ sự cố gắng của HS.
- Sổ xếp loại hạnh kiểm HS theo tuần, tháng, kỳ đảm bảo sự công bằng
trong đánh giá, xếp loại hạnh kiểm HS giúp các em thoải mái, tâm phục.
- Sổ theo dõi HS gửi xe đạp. Vì HS có gửi xe đạp đầy đủ (đối với những
em đi xe và đăng ký gửi xe đạp trong trường) thì GVCN mới dễ dàng quản lý
HS. Nếu các em hôm đó đi xe mà không gửi xe ở trường thì rất dễ dẫn đến
tình trạng các em bỏ tiết, bỏ học đi chơi.
7


Một số mẫu bảng biểu của lớp chủ nhiệm.


2. SỔ THEO DÕI NỀ NẾP CỦA HỌC SINH - LỚP
- Tên học sinh:………………………
- Địa chỉ:…………………………..
- Tên bố:………………………....….
- Tên mẹ:………………………..…
Số điện thoại:……………………...
Số điện thoại:….………………......
Tuần Ngày, tháng Tiết

Nội dung vi phạm

...

9


3. SỔ THEO DÕI XẾP LOẠI HẠNH KIỂM HS THEO TUẦN/ THÁNG:
Năm học: 20... – 20...
TT Họ và tên
Tháng 2
Tháng 3
Tháng 4
Tháng 5 HK CN
1 2 34 5 TH 1 2 3 4 5 TH 1 2 3 4 TH 1 2 3 4 5 TH
1
2
3
4
5

.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
b. Nhược điểm
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
c. Giải pháp khắc phục những tồn tại.
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
2. Công việc tuần sau.
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
3. Những nội dung khác.
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
III. Kết luận
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Giáo viên chủ nhiệm

Lớp trưởng

Thư ký
[7]

2.5.5. Phương pháp nêu gương.
11



ngữ mày tao, chi tớ; có GV xưng xô với học trò bằng tao, mày; mắng chửi
bằng những lời lẽ xúc phạm, văng tục trước học sinh thậm chí nhiều lần đánh
HS, …. Theo tôi nghĩ, đã là HS thì dù ngoan hay hư đều cần được giáo dục
bằng những lời hay ý đẹp, bằng những hành động văn hóa bởi hơn ở đâu hết
trường học là cơ quan văn hóa và mỗi thành viên trong đó (dù là HS hay GV)
đều là những con người có văn hóa. Vì vậy, nếu dùng kiểu ngôn ngữ như thế
để giáo dục những HS được coi là cá biệt thì có lẽ sẽ làm hỏng cả quá trình
giáo dục.
- Tuy nhiên chỉ GV nỗ lực thì vẫn chưa đủ, HS mới là yếu tố quyết định.
Việc nêu gương không chỉ ở thầy cô mà còn ngay các em HS bởi “học thầy
không tày học bạn” nhưng cách thức này phải thật tế nhị, khéo léo nếu không
vô hình trung sẽ làm HS tự ái, xấu hổ và mặc cảm.
Ví dụ: Em Nguyễn Văn Long ở lớp 10A7 đầu năm hay đi học muộn, tôi
cũng chỉ hỏi qua vì nghĩ các em chưa quen thời gian biểu ở trường mới nhưng
em vẫn tiếp tục đi học muộn, kể cả học thêm buổi chiều. Tôi hỏi, em bảo nhà
12


có việc bận, xe hỏng. Tôi lấy một em khác trong lớp ở xa trường nhất nhưng
chưa một lần đi muộn hỏi xem em đi học từ mấy giờ, có bao giờ xe hỏng
không? Em trả lời em đi từ 6h15 phút, có hôm xe hỏng em gửi lại nhà nào đó
ven đường rồi xin xe bạn cùng đường đi học. Vậy là, tôi vừa khen em khác
mà cũng chẳng phê bình Long, nhưng cách nêu gương ấy lại có tác dụng ngay
vì từ đó đến hết năm Long không một lần đi học muộn nữa.
2.5.6. Huy động nội lực tập thể.
Quá trình giáo dục đạo đức lối sống HS phải có sự kết hợp đồng bộ, nhịp
nhàng, thống nhất giữa GVCN với GVBM và các đoàn thể nhằm huy động và
phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong nhà trường (kể cả bên
ngoài như phụ huynh, công an) để xây dựng môi trường giáo dục thân thiện
phù hợp với sự kỳ vọng của phụ huynh, của toàn xã hội, đồng thời phát huy

hơn nữa lại là lứa tuổi mà các em đang tập trung thời gian công sức để trau
dồi tri thức chuẩn bị cho kỳ thi THPTQG. Nhưng bên cạnh việc học tập các
em cần được tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí, TDTT, văn nghệ….để
13


giải tỏa những căng thẳng, áp lực trong học tập nhằm “hồi phục” tinh thần
cho các em, lại giúp các em phát huy năng khiếu, sở trường, tính sáng tạo,
kích thích tính tìm hiểu khám phá của các em và như vậy sẽ phần nào giúp
các em tự nhận thức và hoàn thiện chính mình.
- Nhận thấy sự cần thiết, tầm quan trọng của hoạt động ngoài giờ trong giáo
dục đạo đức cho HS, GVCN đã cùng với Đoàn trường THPT Triệu Sơn 5 tổ
chức rất nhiều hoạt động ý nghĩa như: Bóng đá nam chào mừng ngày 26/3,
phong trào tri đua văn nghệ, báo tường mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11,
giáo dục kỹ năng sống cho HS trong các ngày lễ 3/8, 20/10, và đặc biệt là
trong 3 năm liên tục nhà trường đã tổ chức sân chơi trí tuệ hữu ích cho tất cả
các em HS là “Hành trình khám phá tri thức”. Dù mỗi chi đoàn – lớp chỉ cử
2 - 3 học sinh đại diện nhưng kiến thức trí tuệ lại được huy động của cả tập
thể. Trước tuần thi 1,2 tuần tôi thường yêu cầu mỗi em trong lớp chuẩn bị 10
câu hỏi trên tất cả các lĩnh vực rồi gửi lại cho Bí thư tập hợp thành các lĩnh
vực cụ thể. Vào 10 phút đầu giờ tôi thường cho Bí thư đứng lên đọc câu hỏi
cho cả lớp cùng suy nghĩ trả lời, vừa luyện cho các em được chọn thi hành
trình vừa là cơ hội để tất cả các em trong lớp bổ sung kiến thức hiểu biết trên
nhiều lĩnh vực.
Có thể khẳng định đây là một sân chơi trí tuệ vô cùng bổ ích và thú vị,
không chỉ giúp các em trực tiếp chơi mà giúp tất cả học sinh toàn trường có
thêm nhiều trải nghiệm về hiểu biết xã hội, kích thích sự tìm tòi và sáng tạo
của các em, hướng các em vào việc học tập và tích lũy vốn hiểu biết, vốn
sống. Vì vậy, so với những buổi chào cờ đơn thuần chỉ đánh giá, tổng kết hoạt
động tuần thì những hôm thi hành trình các em lại rất trật tự và chăm chú theo

Tôi đã gần gũi hỏi chuyện, tâm sự hai em đã mở lòng nói thật vì không
hiểu bài, không thích môn học đó (vì môn học đó không phục vụ cho thi
THPTQG) và vì ở nhà phải làm nhiều việc (gia đinh em có máy gặt, máy bừa
nông nghiệp). Lí do đó vừa phải nhắc nhở, chấn chỉnh HS và đưa ra cách khắc
phục: nếu không hiểu bài thì hỏi bạn và nhờ bạn bên cạnh, trực tiếp hỏi thầy
cô và quan trọng là tự mình cố gắng thì mới được người khác tôn trọng. Đồng
thời tôi phải phối kết hợp với GVBM, nhờ các thầy cô để ý hướng dẫn giúp
các em không còn chán, sợ môn học đó. Tôi cũng gọi điện trao đổi trực tiếp
với phụ huynh và nhờ phụ huynh gọi các em dậy sớm hơn để không còn tình
trạng nhà gần đường xa.
- Cái Tâm sẽ giúp GVCN biết quan tâm và yêu thương HS như người thân
của mình, không nhìn những HS sai phạm, cá biệt bằng cái nhìn thiếu thiện
cảm, thiện chí mà phải nhìn các em bằng con mắt tình thương. Ta nên có cái
nhìn bao dung của người mẹ, người cha; cái gần gũi cảm thông của người
anh, người chị và cái thân thiết, thấu hiểu của người bạn.
Ví dụ: Em Lê Văn Bình, Nguyễn Tăng Hoàng lớp A3 (20142017), các em
thường xuyên vi phạm nội quy trường lớp như: nghỉ học không cần lí do, đến
lớp không ghi bài, nhuộm tác vàng, đỏ, quần áo không phù hợp (áo phông
không cổ, quần bò rách đầu gối, thậm chí là gây gỗ đánh nhau…).
Đầu tiên tôi nhắc nhở, sau phạt trực nhật, vệ sinh phòng học, viết kiểm
điểm, rồi mời phụ huynh nhưng chỉ được vài hôm đâu lại vào đấy. Cuối cùng
tôi dùng “đòn tâm lí” gặp riêng từng em một, và nói rõ hôm nay cô muốn
nghe em tâm sự những gì khúc mắc, bực dọc hay khó chịu …như một người
bạn. Mới đầu em từ chối, lảng tránh, xa lánh sau một hồi thuyết phục Bình đã
nói thật và xin hứa sẽ thay đổi. Và đúng như lời hứa của một người con trai
trách nhiệm, Bình đã thực sự trở thành một HS tuân thủ đúng nội quy trường
lớp khiến các bạn trong lớp phải ngạc nhiên, thầy cô khen ngợi.
Còn em Hoàng lần thức hai bị thầy hiệu phó bắt gặp kiểu quần bò “mốt tứ
lỗ” thầy trực tiếp gọi điện cho tôi, 10 phút sau tôi có mặt tại trường cùng với
chiếc quần bò đúng size em mặc và yêu cầu em thay ngay. Mới đầu em có vẻ

trưởng thành.
- Và cái Tâm của một giáo viên còn được thể hiện ở việc kịp thời nắm bắt
chuyện tình cảm nam – nữ của học sinh. Vấn đề đáng lo ngại nhất của cả gia
đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhất là GVCN, đó là tình trạng học sinh
có quan hệ tình cảm nam- nữ, yêu đương sớm, đặc biệt là các nữ sinh. Một là
yêu ngay trong lớp, trong trường; hai là yêu bên ngoài. Nếu các em thích
nhau, nảy sinh tình cảm nam - nữ trong trường, lớp dù ít nhiều ảnh hưởng đến
học tập nhưng giáo viên vẫn có thể phần nào kiểm soát được học sinh, vì dù
sao các em vẫn còn tromg tầm ngắm của mình, vẫn có thể biết sớm để nhắc
nhở, chấn chỉnh. Nhưng điều đáng lo nhất, “nguy nhất” chính là các em yêu
bên ngoài nhà trường, gia đình không biết, giáo viên không biết hoặc có biết
cũng không thể quán xuyến được, hoặc chuyện đã rồi, bất khả kháng.
Đây là vấn đề mà tôi quan tâm hơn cả trong quá trình chủ nhiệm, giáo dục
học sinh, nhất là những HS nữ, mà lớp tôi chủ nhiệm đa phần lại là nữ. Cùng
là nữ giới, tôi vừa nhắc khéo nhưng cũng rất nghiêm khắc khi nói đến chuyện
tình cảm nam- nữ học sinh. Tôi phân tích thiệt – hơn, đúng – sai, được – mất
và kể chuyện thời cấp ba, sinh viên của tôi, cũng như nói chuyện về “Tứ đức”
của người phụ nữ để qua đó giáo dục kỹ năng sống cho các em. Tôi cũng
thường xuyên quan sát, dò hỏi học sinh khác nếu thấy có biểu hiện “khác
thường” về tâm trạng ở một nữ sinh nào. Khi biết các em đang thích, đang
yêu một ai đó dù trong hay ngoài nhà trường tôi thường tìm cách gần gũi, tâm
sự riêng và lí giải cho các em bằng tấm lòng chân thành như một người đi
trước. Vì thế trong những năm tôi làm công chủ nhiệm (2002 đến nay) tôi
chưa để xảy một trường hợp đáng tiếc nào (lê Bà bất đắc dĩ, xin cô nghỉ học
về lấy chồng).
16


Ngoài các biện giáo dục trên thì trong quá trình chủ nhiệm tôi còn kết
hợp giáo dục đạo đức các em học sinh qua thời gian sinh hoạt 10 đầu buổi

Xếp loại hạnh kiểm
Tốt
Khá
Trung
Yếu
bình
37
6
1
0
(84%) (14%)
(0,2%)
36
3
1
0
(90%) (0,75%) (0,25%)
38
2
0
0
(95%)
(5%)

Giỏi
5
(11,4%)
9
(22,5%)
10

khuyến khích, 23 lượt trên 22 em đạt HSG cấp trường); lên lớn 11A7 thành
tích mà các em đạt được càng đáng ngưỡng mộ hơn: 11 HSG cấp Tỉnh và đạt
Nhất – Nhì trong các phong trào văn hóa, văn nghệ TDTT...
- Nhà trường, GVBM , PHHS và ngay cả GVCN cũng nhận thấy rõ vai trò
quan trọng, to lớn của GVCN trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trong
nhà trường.

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
17


Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là vấn đề vô cùng quan trọng trong
hệ thống giáo dục đào tạo. Đạo đức là thước đo giá trị nhân cách con người, là
nền tảng để sự nghiệp Giáo dục phát triển, đất nước vững bền, sánh vai với
các cường quốc năm Châu như sinh thời Hồ Chí Minh hằng mong muốn.
Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là vấn đề then chốt để nâng
cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
Qua quá trình thứ nghiệm “Một số biện pháp về công tác chủ nhiệm nhằm
nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Triệu Sơn
5” tôi rút ra được một số kinh nghiệm cho bản thân như sau:
- GVCN phải có tâm huyết, trách nhiệm với công việc và có sự sáng tạo
trong công tác chủ nhiệm, quản lý, giáo dục học sinh.
- Một GVCN có uy tín, được BGH, đồng nghiệp tin tưởng, học sinh tin yêu
thì giáo viên đó phải có năng lực, nói được làm được; phải chính xác, công
tâm trong đánh giá, xếp loại học sinh.
- Phải có cái Tâm - tấm lòng yêu thương, thấu cảm, tôn trọng học sinh bằng
tất cả sự chân thành của người “sinh nghề tử nghiệp”.
3.2. Kiến nghị, đề xuất.
Đối với ngành giáo dục đào tạo:


Thanh Hóa, ngày 23 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)

Lê Thị Quyên

Tài liệu tham khảo

19


1. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thức XII
2. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, NXGD Việt Nam 2006
3. Trang thông tin điện tử, Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Hưng Yên
4. Báo điện tử Vietnam. Net.
5. Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII
6. (Điều 27-Luật giáo,sửa đổi bổ sung 2009
7. Hồ sơ chủ nhiệm của trường THPT Triệu Sơn 5.
8. Báo điện tử Vietnam. Net.
9. Sách Giáo dục công dân lớp10, NXBGD Việt Nam – năm 2014

DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SKKN NGÀNH
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA XẾP LOẠI
Họ và tên tác giả: Lê Thị Quyên
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Triệu Sơn 5, Triệu Sơn, Thanh hóa

Thanh Hóa.

2015– 2016
C

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status